Trần ngọc Nguyên Vũ – Đường Bay Muôn Thuở


(Huyền-sử ca những người lính chiến KQVNCH!)

“Chưa bao giờ có một số ít như thế,” “đã làm được những chuyện phi-thường đến như thế,” “để đem lại lợi ích cho một số đông đến như thế…)

W. Churchill Truyện ngắn viết để tôn-vinh người lính của Quân-Lực-Việt-Nam-Cộng-Hòa đã chiến đấu cho lý-tưởng tự-do của dân-tộc. Xin gởi đến những hiền-phụ VN, và những nàng dâu thủy-chung của Lính, một đời trọn nghĩa phu-thê… Đặc biệt gởi đến các cháu: Trần Phúc-Hạnh-Thương, Trang Võ Thành-Thái, Trang Võ Hòa-Thanh, Ngyễn-Đức-Quang, cùng thế-hệ đàn sau để nhớ lại cuộc sống bi-hùng của bố mẹ, trong hoàn-cảnh khắc-nghiệt của lịch-sử.

*****

Phúc lắc cánh ra hiệu cho Bá, người phi-tuần-viên bay ở vị thế số 2 đổi qua đội hình chiến-đấu rồi bấm máy gọi:A 37 và các phi công

– Phi-Long 42 đây 41 gọi.

– Hai nghe năm.

– Mình sẽ làm một cái “low pass” qua đồn quân-cảnh, số hai giữ vị-trí bên trên cánh phải.

– Phi-Long 42 hiểu, vị-trí bên trên cánh phải.

Phúc đẩy “cần hòa-khí”, đưa kim chỉ vòng quay lên 2600RPM, và để “tay ga” ở vị thế tiền oanh-kích, rồi nghiêng cánh 45 độ về bên trái, chúi mũi xuống… Hai chiếc khu-trục cơ nối đuôi nhau lao mình xuống sát mặt xa-lộ nhắm hướng đồn quân-cảnh lướt tới. Xe cộ hai bên đường dạt ra bờ cỏ. Mọi người hoảng-hốt nằm bẹp dí xuống mặt đường. Tiếng động-cơ của hai chiếc AD6 gầm rú như hai con mãnh hổ ở cao-độ thấp làm hai người lính quân-cảnh ngồi thụp xuống, hai tay vòng lên đầu chụp lấy chiếc nón sắt như sợ bị gió cuốn đi mất. Phúc bấm máy liên-lạc với đoàn xe qua tần-số FM:

– Mãng-Xà, Bạn cho họ biết là mình không có sự-vụ-lệnh nhưng có 1600 viên đại-bác 20 ly họ có chịu nhận không.

Cùng lúc đó, Phúc liên-lạc trên tần-số với Bá rồi kéo nhẹ cần lái. Hai chiếc khu-trục vút lên cao để lại 4 vệt khói trắng kéo dài bên cánh như những con rồng uốn khúc. Phúc lật ngửa phi-cơ cùng số hai làm một nửa “vòng số 8” tuyệt đẹp. Nhìn xuống bên dưới, anh thấy đoàn xe của toán Kỹ-Thuật Không-Quân đang nối đuôi nhau rời đồn quân-cảnh chạy về hướng Sài-Gòn. Có tiếng của người trưởng-xa trên tần-số:

– Phi-Long 41 đây Mãng-Xà gọi.

Phúc cười trên tần-số trả lời:

– Mãng-Xà, Phi-Long nghe bạn rất rõ. Mọi chuyện tiến-hành tốt đẹp chứ. Các bạn đừng lo, chúng tôi sẽ hộ-tống đoàn xe của Mãng-Xà về đến tận cổng “lăng Cha-Cả” Tân-Sơn-Nhất. OK!

– Phi-Long 41, Mãng-Xà nhận rõ. Từ đây về Tân-Sơn-Nhất là phần đất nhà, chúng tôi không dám phiền đến các bạn nữa. Xin vô-cùng cảm-ơn Phi-Long, các bạn vừa biểu-diễn một đường bay tuyệt-mỹ. Ước gì được mời các “Hiệp-Sỹ Không-Gian” ly thạch chè Hiển-Khánh và tô phở gà Hiền-Vương… Chúng tôi sẽ xử-dụng lộ-trình về Tân-Sơn-Nhất qua ngả Đa-Kao.

Phúc cười trên tần-số:

– Cảm-ơn hảo-ý của Mãng-Xà. Xin các bạn ăn dùm chúng tôi mỗi người hai tô phở đặc-biệt. Xin chào và hẹn gặp lại…

Có tiếng bấm máy dồn-dập của người giữ máy bên dưới:

– Phi-long đây Mãng-Xà, xin bạn khoan rời tần-số, toàn thể anh em trong đoàn xin mời các bạn ghé câu-lạc-bộ Huỳnh-Hữu-Bạc tối nay để chúng tôi được hân-hạnh diện-kiến và thù-tiếp.

Phúc cảm-động trước tấm chân-tình của những người Không-Quân Kỹ-Thuật. Từ một khoảng-cách vô-hình trên không… Phúc thấy như mình đang đứng cạnh những người bạn cùng quân-chủng, trao đổi với nhau niềm ưu-tư về đại-cuộc. Anh mỉm cười đáp lại:

– Ồ! Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó, Mãng-Xà đừng bận tâm. Chúng tôi không dám hứa vì còn phải túc-trực bay đêm nay. Xin Mãng-Xà đừng đợi.

– Không được, đêm nay nhất định chúng tôi phải được hân-hạnh thù-tiếp các bạn theo đúng tinh-thần của người lính chiến Không-Quân.

– OK! Chúng tôi sẽ cố-gắng. Xin chúc các bạn một đêm thật vui… “Mission Accomplished!”.

Tiếng người trưởng-xa bên dưới còn với vọng theo:

– Xin cảm ơn các “Thần-Điêu Đại-Hiệp” một lần nữa… Nhớ đến nghe, chúng tôi sẽ đợi các bạn tới sáng đấy.

Phúc bấm máy cười vang rồi cùng số hai đổi qua tần-số Paris báo cáo phi-vụ đã hoàn tất, và đoàn xe đã về đến điạ-phận của thành-phố được an-toàn… Phúc ra hiệu cho số hai vào hợp-đoàn cận-phi. Hai chiếc khu-trục nối đuôi nhau quần-thảo trên không-phận thủ-đô như để đuổi bắt những tia sáng cuối cùng của một ngày dài căng-thẳng, và mệt nhọc đang chìm dần sau đám mây đen tận cuối chân trời. Anh cho phi-tuần trực-chỉ hướng phi-trường Tân-Sơn-Nhất. Nắng chiều đã tắt… Bóng tối chập-choạng chụp xuống bao trùm cảnh-vật; thành-phố Sài-Gòn vừa lên đèn. Từ trên cao-độ, Phúc phóng tầm mắt nhìn về hướng Biên-Hoà… Phi-trường vẫn còn đang bốc cháy, chiếu hắt lên nền trời xám đen ánh lửa bập-bùng ma-quái, cùng với những cột khói nhấp-nhô như một bầy ngạ-quỷ đang nhẩy múa từ chốn địa-ngục của trần-gian… Trên xa-lộ, từng đoàn người và xe-cộ đủ loại, vẫn lũ-lượt đổ vào các ngả đường thành; bất giác anh để thoát ra một tiếng thở dài…

Trong suốt 20 năm qua, dọc theo với chiều dài của dòng lịch-sử dân-tộc, các anh đã nối tiếp bước chân của những bậc đàn anh đi trước, lần lượt đứng lên dấn thân, hy-sinh tuổi trẻ của mình để bảo-vệ cho cái vùng đất được gọi là “tiền đồn chống cộng của thế-giới tự-do” này. Máu và thân xác của biết bao nhiêu người trai thế-hệ đã đổ xuống để tưới bón, vun-bồi cho mảnh quê-hương bất-hạnh thêm phần mầu-mỡ xanh tươi. Đã có bao nhiêu mảnh khăn tang được quấn vội lên đầu những người vợ trẻ, những đứa con thơ… dấu tích của những cuộc chia-lìa mất mát… để đổi lấy cuộc sống an-bình, và tự-do cho người dân miền Nam… Bao nhiêu năm ở trong quân-đội, từng coi những chuyện “vào sinh ra tử” như chuyện đùa, những người phi-công của quân-lực Việt Nam Cộng-Hòa như các anh, hàng ngày vẫn lạnh-lùng leo lên chiếc quan-tài bay, lao mình vào vùng trời lửa đạn, nhưng chưa lần nào anh phải đối đầu với một hoàn-cảnh pha trộn những tình-huống vừa cay đắng, vừa khôi-hài như lần này…

Từ ở nơi địa-đầu của giới-tuyến… các anh, những người lính chiến thuộc các quân binh-chủng của quân-lực-Việt Nam Cộng-Hòa đã được lệnh phải rút về… rút mãi… rút mãi chẳng khác nào như những con ốc thu mình vào trong cái vỏ chật hẹp của chính mình, để mặc cho những cơn sóng chính-trị tàn-nhẫn, vô-tình vùi dập… Cho đến một lúc, các anh đã phải dừng lại tự hỏi là đất nước này rồi sẽ đi về đâu…

Trong những ngày gần đây, Phúc nhìn thấy căn-cứ Không-Quân Tân-Sơn-Nhất trở nên nhộn-nhịp một cách khác thường… Thứ nhộn-nhịp pha trộn những hỗn-độn và lo-âu của những quân-nhân và gia-đình thuộc các Sư-Đoàn Không-Quân từ các vùng chiến-thuật đổ về… Hàng ngày báo chí đăng-tải và bình-luận tin-tức về những cuộc “di-tản chiến-thuật”, cùng những lệnh chuyển quân bất-thường trực-tiếp từ ‘Tổng-Thống-Phủ’; càng làm cho tinh-thần quân-nhân các cấp giao-động thêm… Rồi Phan-Rang thất-thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh-Nghi, Tư-Lệnh chiến-trường cùng Chuẩn-Tướng Phạm-Ngọc-Sang, Tư-Lệnh SĐ6/ Không-Quân đã bị rơi vào tay địch trong lúc quân tàn lực tận… Mấy ngày trước đây, mọi người đã được nghe chính Tổng-Thống, Thủ-Tướng, và Đại-Tướng Tổng Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đội lên đài truyền-hình nói chuyện với dân-chúng… Rồi Tổng-Thống tuyên-bố từ chức và trao quyền lãnh-đạo đất nước lại cho vị Phó Tổng-Thống già nua, và sức khỏe đang xuy yếu. Anh không thể ngờ được là những người lãnh-đạo tối-thượng của đất nước lại có thể cam tâm quay lưng chối bỏ nhiệm-vụ của mình trong lúc Tổ-Quốc lâm nguy như vậy…

Đâu rồi những vần thơ dậy lời hào-khí của người xưa: “Trống Tràng-Thành lung lay bóng nguyệt – Khói Cam-tuyền mờ mịt thức mây – Chín tầng gươm báu trao tay – Nửa đêm truyền hịch rạng ngày xuất chinh…” Đất nước này không thiếu cái dũng-cảm hào-hùng của những: Trần-Quốc-Toản, Phạm-Ngũ-Lão, Trần-Bình-Trọng, Nguyễn-Biểu, Nguyễn-Phi-Khanh, Nguyễn-Trãi, Lê-Lai, Hoàng-Diệu, Võ-Tánh, Bùi-Thị-Xuân, Nguyễn Thái-Học, Phạm Hồng-Thái, Phạm Phú-Quốc, Nguyễn Đình-Bảo, Phạm Văn-Thặng, Ngô-Quang-Trưởng, Phạm-Văn-Phú, Trần văn Hai, Nguyễn Khoa-Nam, Lê văn-Hưng, Hồ-Ngọc-Cẩn…, mà chỉ thiếu những người biết xử-dụng, và điều-hợp những cái hào-hùng dũng-cảm đó để lèo lái con thuyền quốc-gia dân-tộc qua cơn phong-ba bão-táp như Ngô-Quyền, Đinh-Bộ-Lĩnh, Lý-Thường-Kiệt, Trần-Hưng-Đạo, Lê-Lợi, Quang-Trung Nguyễn-Huệ đã làm… Vó ngựa trường-chinh đời Lý còn để lại bao dấu tích kinh hồn bên kia miền địa-đầu quan-ải của Bắc phương… Lời thề tại hội-nghị Diên-Hồng còn âm-ỷ tận đáy con tim của giòng giống con Hồng cháu Lạc… Tiếng trống Hạ-Hồi vẫn còn vang dội trong lòng của những người dân Việt, mỗi độ Xuân về tưng-bừng kỷ-niệm lễ hội Đống-Đa… Mà sao lá “cờ vàng ba sọc đỏ” đang ngạo-nghễ tung bay trên Cổ-Thành Quảng-Trị đã phải cuốn lại mang đi…

Hàng ngày, Phúc đã chứng-kiến cảnh từng đoàn xe “bus” của Hoa-Kỳ dẫn đầu bởi những chiếc xe “Jeep” mỡ đường của Quân-Cảnh hỗn-hợp Việt-Mỹ, chở đủ các hạng người từ bên ngoài căn-cứ vào “D.A.O” qua cổng phi-cảng dân-sự, để đưa những người được coi như là có liên-hệ với “đồng-minh Hoa-Kỳ” thoát ra khỏi Việt Nam… Anh cũng bắt gặp một số những khuôn mặt quen-thuộc ngồi trong xe… Nhưng đáp lại là những tia mắt ngỡ-ngàng lẩn tránh, và những cánh tay đưa lên không phải để vẫy chào đưa-tiễn mà là để che dấu… Anh không trách họ, mà chỉ lắc đầu mỉm cười chua chát… Các cư-xá trong căn-cứ không còn một chỗ trống. Người ta phải xử-dụng cả các hangar để làm nơi tạm trú… Bãi đậu chật cứng, chứa đủ loại phi-cơ… gây trở-ngại không ít cho việc di-chuyển.

Cả tuần nay, tinh-thần Phúc lúc nào cũng căng-thẳng. Một phần vì gia-đình, vợ anh mới sanh đứa con gái đầu lòng chưa đầy hai tháng. Một phần vì khi bay những phi-vụ bất-thường, anh cảm thấy như có một cái gì không ổn ở đàng sau… Như chiều nay, chiều ngày 28 tháng Tư năm 1975, anh được phòng hành-quân-chiến-cuộc Sư-Đoàn 5 Không-Quân điều-động cất cánh khẩn-cấp. Lên trời mới nhận thêm chi-tiết từ Tướng Tư-Lệnh Sư-Đoàn 3 Không-Quân là hộ-tống đoàn xe của nhóm chuyên-viên kỹ-thuật vừa hoàn-thành nhiệm-vụ phá-hủy căn-cứ Không-Quân Biên-Hòa về Tân-Sơn-Nhất. Phi-vụ hộ-tống này không có phi-cơ quan-sát hướng-dẫn trên vùng như thường-lệ. Anh phải liên-lạc trực-tiếp với trưởng-xa danh-hiệu là Mãng-Xà trên tần-số FM. Từ trên cao-độ của vòng chờ, anh thấy phi-trường Biên-Hòa đắm chìm trong biển lửa…

Trong khi bên ngoài căn-cứ, dân chúng túa ra đường, gồng-gánh dắt dìu nhau, chạy ngược xuôi như một đàn kiến vỡ tổ, anh thấy tim mình đau nhói… Anh nghe thấy tiếng Bá nghẹn-ngào trên tần-số: “Gia-đình tôi đang ở dưới đó…“ Anh cảm-thông được tâm-tình của người bạn đồng-ngũ qua câu nói, và trong một giây quyết-định, anh tạm nhường quyền dẫn phi-tuần cho người phi-công số hai của mình… Và hai chiếc khu-trục-cơ đã cùng gầm rú, bay lượn nhiều vòng ở cao-độ thật thấp dưới bầu trời ảm-đạm, như để gởi đến những người bên dưới một lời chào giã-biệt… Bám sát theo bên cánh chiếc phi-cơ của Bá, Phúc có cảm-tưởng như mình nghe được tiếng gào thét thê-lương của người phi-công khu-trục trẻ tuổi, đang bất-lực nhìn thảm-cảnh trước mắt chụp lên đầu những người thân của mình trong những giây phút cuối-cùng của một cuộc chiến sắp tàn…

Tình-huống chung quanh mình đã vậy, nay nghe Mãng-Xà vui mừng gọi trên máy là đã về đến “vùng đất nhà”, và gởi lời cám-ơn đến những “Hiệp-Sỹ Không-Gian”, anh thấy tim mình se thắt…

Từ Biên-Hoà về Sài-Gòn, từ trước đến giờ, có chỗ nào là vùng đất của địch đâu… Khoảng-cách chưa đầy 30 cây số theo đường chim bay này, anh và các bạn đã từng đi về nhiều lần, ngày cũng như đêm, kể từ lúc người bạn đời của anh còn là “Một Người Ái-Mộ Không-Quân”… Và cầu Bình-Triệu, cầu Bình-Lợi, xa-lộ Đại-Hàn, xa-lộ Biên-Hoà, quán “Con Gà Quay” Thủ-Đức, quán thịt rừng Tân-Vạn dường như vẫn còn vang-vọng đâu đây tiếng cười nói thâu đêm suốt sáng của đám bạn bè “Giang-Hồ Quen Thói Vẫy Vùng – Gươm đàn nửa gánh giang-sơn một chèo” (1) không phân biệt tuổi-tác và cấp-bậc thuộc đủ các quân binh-chủng; những người mà chỉ mới nhắc đến tên thôi là đã thấy lòng ngất-ngây như say men rượu; như:

Phong say, Lê như Hoàn, Dan-Hoài-Bửu, Lê-Thanh-Hồng-Vân, Ẩn Cọp, Minh, Phạm văn-Thặng, Tự, Ấn đen, Phùng, Sơn, Khôi, Du, Tự, Phan Hiền Tính, Vinh, Hùng, Hai Còi, Lê Thuận Lợi, Mai râu, Phúc, Long, Xuân, Thọ, Phạm Công Khanh, Thắng, Nghĩa, Phạm Ngọc Hà, Dương, Đinh Đức Bản, Trang Văn Thành, Tào Thuận, Trương Nguyên Thuận, Chín Dơi… của Không-Quân;

Đào Trọng Vượng, Thủy, Đào Văn Năng, Hoàng-Phổ, Quách-Thưởng, Đức, Nguyễn Cảnh Nguyên, Ngộ, Hải, Liêm, Nguyễn N. Phong, Trần Tiễn San, Nguyễn thế Đỉnh, Đỗ Mạnh Trường, Chánh, Cầu, Hậu, Song, Bình, Quán, Thại, Ý, Vương Mộng Long… của Biệt-Đông-Quân;

Nguyễn Đình Bảo, Lê Minh Ngọc, Lạc, Thanh, Chi, Chiêu, Tô Phạm Liệu, Nguyễn Lô, Bình, Đoàn Phương Hải, Mễ,…của Nhẩy Dù;

Ban, Hậu, Hạ, Hải, Vũ… của Hải-Quân; Minh, Vũ, Hoàng …của Thuỷ-Quân-Lục-Chiến;

Rĩnh, Nguyễn-Sơn, Triều, Thông, Tựu, Thiện (hô), Vinh, Hùng, Thọ, Khiển… của Biệt-Kích; Tám Soi, Yến, Lâm, Bảo…của Bộ-Binh,

cùng những người bạn ngoài dân-sự như: Liêu (bến tầu), “Nho Saxaphone” Đà-Nẵng; Thưởng PleiKu; Sáng Nha-Trang; Minh Đà-Lạt, Hai Cần-Thơ; Năm Sài-Gòn; Tư “Đậu Nành” Châu-Đốc.

Còn nhiều những tên tuổi ngang-tàng, hào-sảng khác nữa, mà mỗi lần có dịp, là một lần gặp-gỡ để các anh “xả-láng cuộc đời” cho tình nghĩa giang-hồ, đồng-ngũ… Rồi những buổi sáng tinh sương, cúi rạp mình, phóng xe trên xa-lộ từ Sài-Gòn xuống Biên-Hoà để vào phi-đoàn cho kịp giờ cất cánh cho một phi-vụ bao vùng, yểm-trợ quân bạn ở một tiền-đồn hẻo-lánh ngoài biên-giới… Hoặc những buổi trưa hực lửa nắng hè, ngồi ép mình trong chiếc xe đò hiệu “traction” đời cũ, chỉ có 5 chỗ ngồi, mà người tài-xế đã đặt thêm một tấm ván gỗ ở giữa để làm ghế, cố nhét cho đủ 12 hành-khách, để xin bà con cô bác thông-cảm cho thêm tiền “xăng nhớt”, đang chạy với tốc lực 120 cây số một giờ mà anh vẫn còn thấy chậm, chỉ sợ không kịp về cho đúng giờ hẹn với người tình…

Và những buổi chiều lộng gió, sau những lúc đùa bỡn với tử-thần ngoài chiến trận, trở về thành-phố đón người yêu ra xa-lộ, ngồi trong chiếc quán vắng, cạnh một gốc dừa lả ngọn, tận hưởng những giây phút riêng tư qua làn không-khí mát rượi, trong lành, ngát thơm mùi hương đồng cỏ nội… Để đến đêm về, dừng lại ở một nơi nào đó có những ánh đèn mầu mờ-ảo, có điệu nhạc bổng trầm quấn-quýt bước chân… để ngây-ngất với những đụng chạm nồng-nàn trên làn môi mềm mật ngọt, và vòng tay êm-dịu của người yêu cùng dìu nhau trên lối mộng… Cuộc sống có vội-vã, có những hiểm-nguy bất-trắc, nhưng vẫn còn một quãng trống của thời-gian để lấp đầy những hẹn-hò, chờ đợi cho một cuộc tình vừa chớm nở…

Rồi thì những tháng năm luân-chuyển đơn-vị phục-vụ các nơi, xuyên qua vùng trời mịt mù khói lửa của quê-hương… Tuy có xa cách, nhưng khoảng không-gian giữa Sài-Gòn và những miền đất đồn-trú, dù ở chỗ nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là cái gạch nối không dài lắm, cho anh thỉnh-thoảng có dịp tháp-tùng một chuyến bay của “Hàng-Không Việt Nam”, hay của các phi-hành-đoàn bạn…để bất-chợt trở về như một món quà nhỏ tuyệt-vời mang đến cho người yêu trong những lần gặp-gỡ không hẹn trước…

Bây giờ thì đã hết. Chỉ một khoảng-cách ngắn-ngủi, mà anh thấy dài như chiều dài của một chiến-tuyến khốc-liệt… Nhìn xung-quanh, thấy bạn mà ngờ là quân thù… Cảnh-tượng đoàn xe của các chuyên-viên vũ-khí Không-Quân từ Biên-Hòa về Sài-Gòn bị đồn Quân-Cảnh gác xa-lộ chặn lại, vì không có sự-vụ-lệnh di-chuyển, để anh và Bá phải “biểu-dương lực-lượng”… Một cuộc biểu-dương bất cân-xứng…

Phúc không trách những người lính quân-cảnh, vì họ cũng chỉ là những người lính thi-hành nhiệm-vụ qua lệnh của cấp trên, mà chính những người ra lệnh cho họ giờ đây cũng chẳng biết sẽ nhận được những lệnh gì nữa của cấp cao hơn… Rồi thì như có một cái gì thật mỉa-mai ập tới, mà trong một thoáng, anh cảm thấy uy-danh của người phi-công khu-trục bị chà đạp, lòng anh bỗng dưng chùng hẳn xuống như vừa lãnh trọn cú hút tàn-bạo của cơn lốc xoáy trên không… Anh và bạn-bè vẫn còn đang sẵn-sàng hy-sinh, chiến-đấu để bảo-vệ tài-sản và đất-đai của dân-chúng kia mà… Nghĩ đến đây Phúc mỉm cười chua chát, để thấy rằng chỗ vùng-vẫy của những “Hiệp-Sỹ Không-Gian” chỉ là khoảng trời cao rộng, ngút-ngàn mây với gió, chứ không phải ở dưới vùng đất bụi mù kia…

Phúc cho phi-cơ vào chỗ đậu theo sự hướng-dẫn của Thịnh, người trung-sỹ phi-đạo. Anh với tay tắt máy, tháo giây nịt an-toàn trên người, và cởi nón bay rồi leo ra khỏi phòng lái. Dưới ánh sáng chói lòa từ dàn đèn pha 1500 watts trên sân bay, bên chiếc xe xăng đậu cạnh phi-cơ, anh ký tên vào sổ kiểm-tra kỹ-thuật, trao đổi một vài câu với Thịnh… rồi chia tay cùng Bá, phóng xe về cư-xá. Dạ-Thảo đang ôm con đứng đợi nơi cửa. Vừa thấy chồng, nàng vui mừng nói nhanh theo hơi thở đứt quãng:

– Anh… Hồi nãy phi-trường bị thả bom, em sợ muốn chết, vừa lo cho con, vừa nghĩ đến anh không biết có sao không.

Phúc dựng xe rồi dìu vợ vào nhà cười nói với nàng:

– Chắc chắn là anh không sao rồi. Chỉ lo cho em và con thôi…

Rồi anh trầm giọng nói:

– Em ạ! Anh thấy tình-hình nguy-kịch lắm rồi, căn-cứ Không-Quân Biên-Hòa đã được phá-huỷ bằng chất nổ hồi chiều, bây giờ vẫn còn đang cháy. Dân chúng đổ dồn về thành-phố còn đang kẹt cứng ngoài xa-lộ. Quãng đường từ Biên-Hòa về Sài-Gòn qua ngả xa-lộ Đại-Hàn hoàn-toàn bỏ trống… Anh nghĩ đêm nay thế nào tụi nó cũng pháo vào Tân-Sơn-Nhất. Thôi để anh đưa em và con ra ngoài, về nhà ba má ở tạm rồi tính sau, chứ ở trong này nguy-hiểm lắm.

Thân hình Dạ-Thảo hơi rung lên trong vòng tay cứng rắn của Phúc, nàng ôm chặt con vào ngực giọng thảng-thốt:

– Không, em sẽ ở đây với anh. Giờ phút này làm sao mà em xa anh được. Nếu có chuyện gì… thì cho mẹ con em cùng chịu với anh.

Phúc chợt thấy lòng mình mềm lại qua câu nói tha-thiết, chân-thành của người bạn đời. Chàng cảm-động cúi xuống hôn nhanh lên đôi môi nồng ấm của vợ, rồi nói:

– Thôi được để chút nữa tính. Cho anh bồng con một chút, ngồi trong máy bay trên trời mà nhớ con và em đến phát điên lên được.

Dạ-Thảo âu-yếm trao con cho Phúc rồi nhìn chồng mỉm cười tình-tứ nói:

– Có thật là nhớ em hay nhớ ai đó…

Phúc đỡ bé Hạnh-Thương trên tay vợ rồi ghé sát vào tai nàng thì-thầm:

– Đừng nói với ai nha. Anh nhớ cô Dạ-Thảo của anh đó mà.

Dạ-Thảo đỏ hồng đôi má, nàng đẩy nhẹ Phúc ra. giọng nũng-nịu:

– Ư ư… anh chỉ nói nịnh em thôi… Rồi nàng nhìn Phúc dịu-dàng nói. Anh bồng con một chút xong đặt con vào nôi cho nó ngủ, rồi đi rửa mặt thay áo, để em sửa soạn dọn cơm nghe…

Phúc cười sung-sướng, xoa nhẹ ngón tay lên cặp má phúng-phính mịn-màng như cánh hồng nhung của bé Hạnh-Thương. Bồng con trên tay, anh như quên tất cả những muộn-phiền căng-thẳng của một ngày dài tưởng chừng như vô-tận… Nhìn cặp mắt nhắm nghiền thật vô-tư, và chiếc miệng chúm-chím nhỏ síu, thơm tho như một búp hoàng-lan vừa hé nụ, đang nhắp-nhắp như còn thòm thèm dòng sữa mẹ của con, anh nựng:

– À… âu… u… u… Chó cưng của bố nè… Cái mặt đáng ghét này giống mẹ như đúc nè… Mau lớn rồi bố chở con đi chơi bằng máy bay khu-trục.

Nghe Phúc nựng con, Dạ-Thảo phì cười, nhắc chồng:

– Anh… Con vừa mới bú no, anh đừng lắc con nhiều qúa, coi chừng con nó bị ói sữa đó… Hồi trưa chị Thanh ghé chơi, có cho trái bầu và bó ngò gai. Em nấu món canh bầu với giò sống, và tôm để vỏ rang sả ớt với thịt ba-dọi. Những món ăn mà anh vẫn thích đó… À, lúc nẫy chú Vân đến cho em biết phi-trường bị A-37 thả bom; chú nói hình như bọn Việt-Cộng lấy máy bay từ các phi-trường Phù-Cát, Phan-Rang hay Đà-Nẵng bay về thì phải. Chú phải ghé phi-đoàn coi phi-lệnh rồi về đây ăn cơm với vợ chồng mình. Chắc chú ấy cũng sắp tới.

Nghe giọng nói ngọt-ngào, sang-cả, gói-ghém những tình-tự, săn-sóc trìu-mến của vợ, Phúc thật sự thấy mình đang ngụp lặn trong biển yêu-đương dưới mái ấm gia-đình nhỏ bé của mình… Dù rằng trong hoàn-cảnh hiện tại, anh linh-cảm thấy nó rất mỏng-manh. Phúc nhìn vợ và con, lòng dạt-dào thương-cảm… Kể từ ngày quen biết Dạ-Thảo cho đến khi thành vợ chồng rồi có con; qua mọi tình-huống, dù khó-khăn đến đâu, lúc nào anh cũng thấy nàng bình-tĩnh, can-đảm đối đầu với mọi chuyện một cách thật nhẹ-nhàng và uyển-chuyển… Nàng như một cái phao cho anh bám lấy trong những giây phút mệt mỏi giữa cơn sóng gió của dòng đời. Dạ-Thảo dịu-hiền, và mềm-mỏng như một cành trúc trước trận cuồng-phong, giông-bão… Anh đặt con vào chiếc nôi cạnh bàn ăn, vừa lúc đó thì Vân bước vào nhà. Chưa kịp chào hỏi gì cả thì Vân đã liến-thoắng nói:

– Sao, anh hai, hạ được mấy phi-cơ địch. Hồi chiều em vừa “taxi” vào ụ đậu thì nghe tiếng bom nổ, ngước nhìn lên em thấy mấy chiếc A-37 đang lượn trên trời rồi bay về hướng Bắc. Có một phi-tuần F5E bay lên truy-cản nhưng chắc là không kịp. Em nghĩ anh đang bao vùng, chắc gặp tụi nó. Phúc cười nhìn người em vợ bay bên C7 nói:

– Tuy A1 chậm hơn A-37 một chút, nhưng nếu có cao-độ và ưu-thế thì vẫn hạ được nó như thường. Chú biết không, Hải-Quân Trung-Úy Hartman, và Đại-Úy Johnson bay AD6 mà hạ MIG của Việt-Cộng đấy nhé. Thật ra thì hồi chiều bọn anh đang làm vòng chờ ở phía núi Châu-Thới, anh có thấy một hợp-đoàn 4 chiếc A-37 đang bay về hướng Bắc ở cao-độ thấp. Lúc đó bọn anh chưa biết đó là phi-tuần đã dội bom Tân-Sơn-Nhất, khi nghe được Paris thông-báo trên “tần số guard”, thì đã qúa trễ, chứ nếu biết trước thì tụi nó cũng tiêu-tùng với bọn anh rồi.

Dạ-Thảo vừa bầy đồ ăn lên bàn vừa nói:

– Khiếp, lính tráng có khác. Chuyện quan-trọng như thế mà nghe mấy ông nói với nhau cứ như là chuyện đùa. Thôi chú vào rửa tay đi rồi còn ăn cơm chứ chị đói lắm rồi đó.

Vân vừa bước vào nhà trong vừa cười nói:

– Lấy chồng lính, lại là dân tác-chiến, chị phải tập cho quen với những cá-tính đặc-biệt của họ chứ. Rồi như cao hứng, Đạt nhái lại mấy câu trong bài thơ “Mầu tím hoa sim” của Hữu-Loan: “Lấy chồng đời chiến binh – Mấy người đi trở lại – Mà lỡ khi mình… về muộn… thì…”

Nghe Vân nghêu-ngao ngâm thơ, pha chút giễu-cợt, Dạ-Thảo cười ngắt lời em:

– Chú là dân đại-học Phú-Thọ mà cứ mở miệng là thơ với văn, đáng lẽ hồi đó chú phải học Văn-Khoa mới đúng.

Vân bước ra cười nói:

– Học ban gì thì cũng vậy thôi. Thời buổi bây giờ là thời của những “đôi giầy bay bết bùn đất hành-quân…” (2) và những tà “áo tím điểm tô đời nữ-sinh…” (3) mà chị.

– Chú nói chuyện ngang cứ như cua. Đôi giầy bay của chú làm sao mà bết bùn đất hành-quân được. Vân cười nheo mắt nhìn Phúc nói:

– Hì… hì… Truyện này ly-kỳ lắm, khi nào rảnh để anh hai kể cho chị nghe tại sao.

Cả ba người cùng cười rồi ngồi vào bàn ăn… Bữa cơm gia-đình tuy đơn-sơ nhưng diễn ra thật thân-mật và ấm-cúng. Vân vừa ăn vừa hít hà khen:

– Trời ơi… món canh bầu giò sống, đi với rau ngò gai thái nhỏ sợi, thêm chút tiêu hột, quyện với nhau tạo thành một hương-vị tuyệt-hảo. Anh hai, mai mốt giải-ngũ, mình chung nhau mở một quán ăn. Chị làm đầu bếp, em rửa chén, anh hai trông cháu…

Dạ-Thảo vừa xới cơm cho Phúc, vừa cười nhìn em nói:

– Chú tính vậy cũng gọn đấy. Chị đề-nghị chú lãnh thêm phần quảng-cáo cho quán ăn luôn thể… Thế còn ai đứng bán hàng đây… Ồ! Hay là mình để dành chân bán hàng cho “tà áo tím” của “Thím Vân tương-lai”… Vân nhìn chị cười một cách vô-tư lự:

– Hì hì… tính em bộp-chộp, chả có cô nào để mắt, nên khó kiếm vợ. Chắc phải nhờ anh chị làm cố-vấn…

Cả ba người cùng cất tiếng cười ròn-rã như để tạm quên đi những hiểm-nguy bất-trắc đang rình-rập họ tại một khúc ngoặt nào đó trên quãng đường đời vô-định… Trong bữa ăn, Phúc kể lại chi-tiết phi-vụ hộ-tống đoàn xe của Không-Quân từ Biên-Hòa về Sài-Gòn cho mọi người nghe. Bằng một giọng nói trầm ấm, và lối kể chuyện hoạt-bát, lôi-cuốn của mình, Phúc như kéo mọi người vào trong câu truyện. Dạ-Thảo chống đũa, say-đắm nhìn chồng như quên cả ăn uống, thỉnh-thoảng lại chớp mắt biểu-lộ sự cảm-phục của nàng. Còn Vân thì luôn miệng phụ-họa với anh rể:

– Anh hai, nghe anh kể mà em thấy tay chân mình ngứa ngáy, chỉ tiếc là chiếc C7 của em nó chậm như một con bò sữa, không nhào lộn được… Nói nhỏ thôi đấy nha, ông Phi-Đoàn-Trưởng của em mà nghe được, ổng đổi em về “vùng 6 chiến-thuật” thì bể gáo hết… À, cho mọi người biết là em đã làm đơn xin hoán-chuyển qua F5. Đơn đã lên đến Tham-Mưu Phó Hành-Quân, khối Đặc-Trách Khu-Trục trên Bộ-Tư-Lệnh.

Phúc cười nhìn người em vợ vui tính rồi nói:

– Vậy thì anh chúc chú sớm đạt được ý-nguyện. Thật ra thì mỗi loại máy bay đều có những khả-năng và ưu-điểm riêng của nó, và loại nào cũng cần cho mình cả… Còn chiếc A1 của bọn anh thì cũng già lắm rồi, và đã được xếp vào loại phải đình-động. Anh nghe nói nó sẽ được thay thế bằng loại A-10 tối tân hơn.

Vân liến-thoắng nói:

– Anh hai thấy… liệu A-10 có thể địch lại F5 không?

Phúc nheo mắt nhìn Vân rồi âu-yếm quay qua Dạ-Thảo cười tủm-tỉm:

– Cái đó cũng còn tùy… người “lái phi-công” nữa chứ. Có phải vậy không em?

Dạ-Thảo tình-tứ liếc mắt nhìn chồng cười nói:

– Thôi ăn đi kẻo canh nguội hết rồi kìa… Cứ lo nói chuyện mãi. Còn chú Vân khi nào bay F5 thì cho chị tháp-tùng theo thử xem sao. Chị được ngồi trên AD5 rồi đó nghe.

Cả ba cùng cất tiếng cười vang. Một bầu không-khí ấm cúng gia-đình đang quấn lấy đôi vợ chồng trẻ. Phúc nhắc đến cái hẹn của người trưởng-toán kỹ-thuật không-quân hồi chiều. Vân đề-nghị:

– Tối nay em sẽ đưa chị và cháu qua cư-xá của phi-đoàn em ở, vì tụi em có đào một cái hầm trú-ẩn rất kiên-cố để tránh pháo-kích cho những phi-hành-đoàn ứng trực. Em đã sửa-soạn đầy-đủ mọi thứ cho chị và cháu bé rồi. Như vậy đêm nay anh có thể yên-trí trực tại biệt-đội, nếu có chuyện gì xẩy ra thì đã có em. Em có tấm thẻ đi trong giờ giới-nghiêm của “Phòng 7” Bộ TTM cấp. Anh có thể ghé qua chung vui với họ một chút để khỏi phụ lòng tri-kỷ…

Phúc âu-yếm nhìn Dạ-Thảo nói:

– Không được, giờ phút này anh đâu còn lòng dạ nào mà nghĩ đến chuyện nhậu nhẹt; mà nếu phải có một bữa tiệc rượu thì chỉ có “tiệc rượu hợp-cẩm đêm tân-hôn” thôi, có phải vậy không em.

Dạ-Thảo ửng hồng đôi má, liếc mắt nhìn chồng nói:

– Anh kìa… lúc nào cũng nói giỡn được.

Phúc hạ thấp giọng nói:

– Anh nói đùa đó thôi. Thật ra thì anh đang lo không biết tính sao, anh linh-cảm thấy dường như có một cái gì đó sẽ xẩy ra đêm nay. Anh không muốn rời em và con trong lúc này. Bây giờ có chú Vân thì cũng đỡ lo… Chút nữa đưa em và con vào phi-đoàn của chú Vân xong anh phải về phòng trực của biệt-đội để túc-trực bay đêm.

Dạ-Thảo ngước mắt ngập-ngừng hỏi em:

– Vào đó có tiện không em. Hay là… cứ để chị và cháu ở đây cũng được.

Vân cười trấn-an chị:

– Chị đừng lo, trong phi-đoàn em đứa nào cũng hâm-mộ chương-trình “Đọc truyện ban đêm” của chị. Nhiều “ông con” còn mê “hoảng” giọng nói liêu-trai của bà chị xướng-ngôn-viên Dạ-Thảo. Nay gặp mặt thần-tượng, chắc tụi nó mừng hết bay luôn.

Dạ-Thảo mỉm cười nhìn chồng nói:

– Chắc họ sẽ thất-vọng mất, vì bây giờ chị chỉ còn biết đọc kinh cầu-nguyện thôi.

Vân nheo mắt nhìn Phúc nói:

– Thế mới nát lòng “người trai khói lửa” (4) Còn cảnh nào đẹp và bi-hùng hơn cảnh: “Em ngồi xõa tóc trong hầm tối – Đọc tiếng kinh cầu như đọc thơ.” (5) Phải không anh hai?

Phúc cười vỗ vai người em vợ lém-lỉnh:

– Nhờ cậu tý, cậu bay C7 mà lại đòi “nghênh-cản” khu-trục. Thôi để anh tống ga dọt trước cho cậu đỡ tốn xăng, tốn đạn.

Dạ-Thảo sung-sướng nhìn chồng và em nói:

– Anh em các ông sao mà hợp nhau thế. Kẻ tung người hứng cứ như là chơi bóng chuyền vậy. Vân nhìn chị cười nói:

– Ơ, thế chị không biết à, thì cùng xuất-thân từ “lò huấn-nhục” Nha-Trang ra mà. Tuy khác nghành khác khóa, nhưng chung một chìa mà. Phải không anh hai.

Cả ba người cùng cất tiếng cười ròn-rã. Dạ-Thảo cảm thấy thương chồng và em hơn. Nàng vẫn thầm cảm-phục cái phong-độ hào-sảng của những người lính chiến Không-Quân dù là ở ngành nào. Nhiệm-vụ của họ có khó-khăn và nguy-hiểm, nhưng cuộc sống của họ thật bình-dị và cởi-mở, không hình-thức, câu-nệ. Đôi khi có pha trộn những nét dí-dỏm, khinh-bạc vào cuộc đời. Ngày xưa… kể từ ngày mới quen nhau, cho đến khi làm vợ Phúc, nàng đã dần-dần khám phá ra những cá-tính khác biệt như những đường nét khó hiểu trong một bức tranh lập-thể của người phi-công khu-trục trẻ tuổi này… Mới tiếp-xúc thì tưởng như là một người rụt-rè nhút-nhát, nhưng lại rất sôi-nổi và lãng-mạn trong tình yêu… Bề ngoài trông thật lả-lướt và bay-bướm, nhưng bên trong lại tiềm-ẩn một tấm lòng chung-thủy và gắn-bó với gia-đình, và nhất là… rất hào-hùng, nghĩa-khí ngoài chiến trận. Những khi gần chàng, nàng thấy như được bao-bọc và che-chở. Cuộc sống lứa-đôi của nàng và Phúc, đôi khi cũng có những dỗi-hờn bóng gió, nhưng chỉ là một thoáng mây bay… Để rồi với những lo-âu, chờ đợi hàng ngày qua những phi-vụ hiểm-nghèo của người lính chiến Không-Quân, đã làm mềm lòng người vợ trẻ. Bởi vì: “Mỗi lần không-yểm cho quân bạn – Là một lần đi khó hẹn về…” (6) Cho nên, nó đã không chừa cho nàng một chỗ trống nào trong trái tim mình để chứa chất thêm những giận-hờn, trách móc… Dạ-Thảo nhìn em nói:

– Thôi để chị đi dọn-dẹp rồi còn soạn vài thứ cần-thiết cho cháu.

Vân cười nhìn chị nhanh-nhẩu nói:

– Để em rửa chén và thu dọn cho. Chị biết không, rửa chén, dọn-dẹp nhà cửa và… đi bay là nghề của chàng mà. Chị cứ việc lo cho cháu.

Phúc sung-sướng nhìn cảnh đầm-ấm của gia-đình. Anh vẫn cầu mong ơn trên che trở sao cho nó không bị sứt mẻ, cho dù bất cứ trong hoàn-cảnh nào. Phúc hôn vợ và con rồi dặn:

– Có chuyện gì thì anh sẽ về đón em và con, đừng chạy đi đâu cả nghe không.

– Vâng, anh đừng lo, với lại còn có chú Vân nữa mà.

Vân cũng nói:

– Không sao đâu anh hai. Có gì em sẽ gọi điện-thoại tới anh ngay.

Phúc từ-giã vợ con và Vân rồi lên xe chạy về biệt-đội. Khi đi ngang qua khu gia-binh anh thấy hàng quán ồn-ào, đèn đuốc sáng trưng. Người ta đang tụ-tập ăn uống để nghe ngóng, bàn-luận tình-hình trong sự lo-âu và chờ đợi. Anh mỉm cười ngừng xe lại bên lề đường. Ngẩng mặt nhìn trời… rồi hít một hơi dài làn không-khí mát lạnh của đêm vào buồng phổi. Giờ này, trong muôn triệu những vì sao lấp-lánh trên vòm trời, anh chợt thấy một ngôi sao nhỏ ly-ty rụng xuống, quét một vệt sáng mỏng như sợi chỉ trên không, rồi biến mất vào với màn đêm vô cùng tận của vũ-trụ…Có tiếng gọi từ bên trong một quán ăn vọng ra:

– Ê! Phúc Cháy.

Phúc nhìn vào, anh thấy Phùng đang đứng dậy cầm ly rượu giơ tay vẫy:

– Vào đây làm một ly với anh em. Tao với thằng “Thọ Điên” vừa ghé biệt-đội nhưng không thấy mày, nên ra đây lai-rai chút đỉnh rồi trở lại. Tụi tao cũng mới tới được khoảng 10 phút. Tao có để xe lại biệt-đội để mày biết là có tao đến.

Phúc tắt máy, dựng xe bước vào. Anh thấy Thọ, “Người Hùng Phòng-Thủ” căn-cứ Tân-Sơn-Nhất hồi Tết Mậu-Thân cũng đang ở trong đó, đứng dậy cười nói oang-oang:

– Sao bạn, cơm nước gì chưa? Làm thêm một tô cháo và ly “mã-huyết-tửu” để chút nữa lên trời cho ấm bụng. Cho bạn biết, thứ “mã-huyết-tửu” này còn hay hơn sức ngựa “Xích-Thố” của Lữ-Bố đời Tam Quốc bên Tầu, uống vào tha hồ “hí… và dí… Việt-Cộng”. Bảo-đảm là không biết mệt…

Phúc cười cám-ơn Thọ rồi quay qua nói với Phùng:

– Mới ăn cơm xong, nhậu gì nổi. Tưởng ông xuống Bình-Thủy sáng nay rồi chớ.

Phùng ngửa cổ uống cạn ly rượu, lấy tay áo chùi miệng rồi nói:

– Tao có vài chuyện quan-trọng cần phải làm nên xin ở lại ngày mai mới xuống. Thằng số hai của mày nhờ tao trực thế nó, để nó về lo cho vợ con di-tản theo chuyến bay 12 giờ đêm nay. Còn vợ con mày sao, chừng nào đi?

Phúc nhìn Phùng ngập-ngừng nói:

– Chắc là ở lại. Cô nàng không chịu đi một mình. Nếu có chuyện gì thì cùng đi một lượt.

Phùng vỗ vai Phúc nói:

– Tao phục bà xã mày đó. Vậy mới ngon. Vợ con tao cũng vậy, cứ nhất-định phải có tao mới chịu đi. Thôi tụi mình về biệt-đội tao có chuyện cần bàn với mày. Rồi quay qua Thọ, Phùng nói tiếp:

– Mày cứ tự-nhiên ở đây lai-rai… Nhưng từ từ thôi nghe ông bạn, coi chừng phóng ngựa lạc qua khu “Ngã Ba… bên ngoài vòng đai” là phe ta mất một “tay nhậu giang-hồ” thứ thiệt đó. Tiền bạc tính xong xuôi cả rồi. Tao về trước trực bay với thằng Phúc.

Thọ cười híp mắt nhìn người phi-công hào-hoa luôn-luôn “xử đẹp” với anh em rổn-rảng nói:

– Hà… hà… Không sao, mày đừng lo. Tao ở đây đợi mấy thằng bạn bên Nhẩy-Dù qua. Bọn nó cũng sắp tới. Tối nay tụi mày cứ ngủ kỹ…Đã có thằng “Thọ Điên” này phi “ngựa sắt” tuần-phòng ngoài vòng-đai phi-trường… Trên không là vùng trời của tụi mày, dưới đất là lãnh-địa của dân phòng-thủ bọn tao mà. Hà… hà…

Phùng ngửa mặt cười vang, theo Phúc ra xe rồi leo lên yên sau ngồi ôm bụng Phúc. Phúc rồ máy phóng xe lao ra đường. Khi đi ngang qua khu nhà dành cho đại-diện ủy-ban liên-hợp của Việt-Cộng bên kia vòng rào kẽm gai, Phùng chồm lên nói vào tai Phúc: – Mày biết không. Nếu có chuyện gì xẩy ra, tao sẽ để một quả “500 lbs” vào đây cho mấy thằng “cà-chớn” này về chầu “ông cố ngoại Sít-Ta-Lin” của chúng nó luôn.

Phúc cười nói vọng ra sau:

– Đừng nóng ông. Chuyện đâu còn đó. Ba cái thằng cắc-ké này đâu đáng kể. Tính sổ tụi nó lúc nào mà không được

Phùng hét vào tai Phúc:

– Nóng cái… Mỗi lần đi ngang đây là tao muốn phóng uế lên đầu tụi nó rồi. Đánh đấm kiểu gì mà lại nuôi báo-cô mấy thằng giặc ngay trong nhà mình. Thật là lãng nhách. Đêm nay lỡ mà bọn nó pháo-kích, tránh sao khỏi có bọn “đặc-công cà-chớn” này làm ăng-ten chỉ-điểm.

Phúc cười vang, rồ tay ga lạng xe vào sát hàng rào. Phùng ôm cứng eo ếch Phúc la lớn:

– Từ từ chứ chú em, mày quăng tao xuống đường mương bây giờ.

Cả hai cùng cất tiếng cười ròn rã như muốn phá thủng màn đêm huyền-bí bao trùm chung quanh họ…

Phúc còn đang nằm mơ-mơ màng-màng, chưa dỗ xong giấc ngủ, thì có những tiếng nổ chát-chúa liên-tục vang lên muốn long màng óc, làm anh bật dậy lăn mình xuống khỏi giường. Một tiếng rít như xé rách màn đêm tiếp theo bay ngang qua căn nhà của biệt-đội. Phúc vừa xỏ chân vào giầy vừa nghe tiếng Phùng hét lên trong bóng tối:

– Phúc! Dậy mau, phi-trường bị pháo kích.

Tiếng chuông điện-thoại reo inh-ỏi, cùng với tiếng còi báo-động hụ lên từng chập ở bên ngoài, như tiếng réo gọi của tử-thần. Phùng chụp tấm bản-đồ hành-quân, bấm đèn “pin” để soi cho Phúc ghi hiệu-lệnh cất cánh. Phúc nói vội vào tai Phùng:

– Hiện tại có hai phi-cơ, một A1H và một A1G đã sẵn sàng, trang bị bom nổ 250 lbs, hỏa-tiễn công phá và đại-bác 20 ly, “full load”. Mình lên trời làm việc với thằng Tinh-Long trên tần số UHF 233.8. OK!

Phùng gật đầu nói nhanh:

– OK! UHF 233.8. Mày bay “lead” thì lấy chiếc AD6, còn chiếc AD5 để tao bay số hai cho.

Cả hai cùng phóng mình ra cửa leo lên chiếc xe “jeep” dân-sự của Phùng chạy ra bãi đậu phi-cơ. Thịnh cùng một người cơ-trưởng nữa từ chỗ ẩn nấp chạy vụt ra, leo lên phụ Phúc và Phùng cài khóa giây dù. Thịnh ghé vào tai Phúc hét lên:

– Tụi nó pháo từ nhiều hướng. Đại-Úy cẩn-thận.

Phúc gật đầu giơ ngón tay cái ra hiệu sẵn-sàng mở máy. Thịnh nhanh nhẹn trườn mình tuột xuống bên hông phi-cơ, bật nút dàn “máy tiếp điện” đã được gắn vào thân tầu từ trước. Tiếng động-cơ nổ ròn. Phúc tắt đèn pha trên máy bay, bấm máy liên-lạc với Phùng để thử vô-tuyến. Hai chiếc khu-trục A1 nối đuôi nhau lầm-lỳ di-chuyển trong đêm tối như hai bóng ma khổng-lồ chạy trên “phi-đạo di-chuyển”. Từng loạt hoả-tiễn 122 ly vụt ngang qua đầu và những tiếng nổ chát-chúa dội lên khắp nơi. Phúc bấm máy liên-lạc với đài kiểm-soát xin cất cánh khẩn-cấp. Hai chiếc khu-trục so hàng đậu nơi đầu “phi-đạo cất cánh”. Một trái hỏa-tiễn rớt bên lề sân bay, gần hai chiếc phi-cơ trang bị đầy bom đạn… Ánh lửa nháng lên làm Phúc lóa mắt, rồi một tiếng nổ bật tung đất đá, phá vỡ bầu không-khí, làm chấn-động lồng ngực. Mồ hôi trên trán Phúc rịn ra, anh cảm thấy như có một luồng điện cao thế chạy luồn qua xương sống… Tiếng Phùng hét lên qua ống nghe của nón bay:

– Lên lẹ đi Phúc. Mình sẽ cất cánh hợp-đoàn. Tao theo mày bên cánh trái. Đ.M… Chắc tụi nó thấy mình.

Mặt Phúc đanh lại, anh mím môi tống ga. Chiếc phi-cơ chồm lên lao về phía trước… Với trên hai ngàn giờ bay, Phúc đã nhiều lần cất cánh khẩn-cấp ban đêm khi căn-cứ bị pháo-kích, nhưng chưa lần nào anh thấy đầu óc mình căng-thẳng như lần này. Trong một giây, anh thầm cầu-nguyện Chúa, Trời, Phật, Tổ-Tiên che chở cho anh và Phùng cất cánh được an-toàn… Và nếu anh phải lãnh một trái 122 ly của địch trên phi-đạo bây giờ, thì xin cho vợ con anh được bình-an, vô-sự…

Phúc kéo nhẹ cần lái, chiếc AD6 bốc mình lên khỏi mặt phi-đạo. Anh nâng cần gấp bánh lái, rồi lấy cao độ về bên phải. Phúc bấm máy liên-lạc với Phùng. Nhìn qua cánh trái trong đêm tối, Phúc thấy ánh đèn trên phi-cơ của Phùng nhấp nháy bám sát bên cánh. Anh mỉm cười tiếp-tục lên cao độ bình-phi, rồi gọi số hai chuyển qua tần số UHF liên-lạc với Tinh-Long.

– Tinh-Long đây Phi-Long gọi . Bạn nghe rõ không, trả lời.

– Tinh-Long nghe Phi-Long năm trên năm (5/5). Chúng tôi vừa theo dõi bạn cất cánh; mừng bạn đã lên trời được an-toàn. Hiện tại Tinh-Long đang ở hướng 11 giờ của bạn. Cao độ 2,000 bộ. Tụi nó đặt pháo từ hướng Phú-Lâm, Hốc-Môn, An-Nhơn và Gò-Vấp. Xin lưu-ý Phi-Long là có trực-thăng võ-trang ở trên vùng, cao-độ 1,000 bộ.

– Phi-Long thấy các bạn rồi. Chúng tôi đang ở cao-độ 3,000 bộ. Chúng tôi có bom nổ 250 cân, hỏa-tiễn công phá, và đại bác 20 ly.Xin bạn cho một trái sáng. Chúng tôi sẽ vào vùng làm việc.

– Chúng tôi không có trái sáng. Khi nào bạn sẵn-sàng Tinh-Long sẽ vào vòng bắn, và xạ-kích để xác-định mục-tiêu cho bạn.

Phúc nghĩ thầm: “Chết mẹ! Không có trái sáng làm sao đánh bom cho chính-xác. Khu-trục chứ đâu phải AC119. Một người bay phi-cụ, một người xác-định tọa-độ.” Tuy-nhiên anh tin vào kinh-nghiệm và khả-năng của mình cũng như của Phùng. Anh gọi số hai ra đội-hình chiến-đấu rồi liên-lạc với Tinh-Long để xác-định lại vị-trí:

– OK! Chúng tôi đợi bạn trên vòng chờ ở 3,000 bộ.

Nhiều ánh lửa ở dưới vút lên từ hướng 9 giờ bên cánh trái của Phúc. Anh la lớn trên tần-số: A1EE

– Tinh-Long chúng đang pháo đó bạn thấy không. Có phòng-không bắn lên.

– Chúng tôi thấy rồi. Tinh-Long sẽ vào vòng bắn trước.

Chiếc AC119K nghiêng cánh làm một vòng tròn 360 độ trên cao-độ 2,000 bộ. Đạn từ những khẩu đại-liên 6 nòng và đại-bác 20 ly trên thân tầu nhả xuống, gầm rú chẳng khác gì như một con “Rồng” đang phun lửa, làm sáng rực cả một vùng dưới đất. Có tiếng Tinh-Long trên tần-số:

– Phi-Long bạn thấy không, có nhiều bóng người chạy ra từ bụi cây bên dưới.

Phúc bấm máy cười trả lời:

– Thấy rõ! Tinh-Long bắn tuyệt đẹp. Bạn vừa châm ngòi khai-mạc cho đêm hoa-đăng mùa Hạ… OK! Chúng tôi nhận ra mục-tiêu rồi. Bây giờ tới phiên Phi-Long vào “làm việc”. “Phi-Long hai” mình sẽ đánh từng trái một.

Tiếng Phùng chìm xuống:

– Nghe rõ. Đ.M… tụi này chắc là được “bác và đảng” cho “chích nước cà-cuống”. Chết đến đít mà vẫn còn cay-cú, liều mạng. Mày vào trước, tao sẽ bao sau. Cẩn thận nghe Phúc, đừng “hot” qúa để rơi vào “vertigo”.

Phúc mỉm cười cảm-động khi nghe thấy lời nhắn-nhủ gói-ghém những lo-âu chăm-sóc của người phi-công đàn anh. Phúc ước-lượng khoảng-cách mục-tiêu, nghiêng cánh, ấn nhẹ cần lái cho phi-cơ chúi xuống, rồi bấm nút thả một trái bom bên cánh phải; anh liếc mắt qua bảng phi-cụ, kiểm-soát thật nhanh đường chân trời, và cao-độ-kế rồi kéo mũi phi-cơ lên để lấy cao-độ. Tiếng Tinh-Long trên tần-số:

– Rất đẹp. Bạn đánh đúng chỗ rồi đó.

Có tiếng của Phùng trên tần-số:

– Phi-Long 2 vào vùng.

Tiếp theo đó là những ánh lửa nháng lên từ bên dưới, và những tiếng nổ liên-hồi như sấm động. Tiếng Tinh-Long hét lên như muốn vỡ màng tang qua ống nghe trong nón bay:

– “Phi-Long hai” thả bom như để. Bạn đánh trúng chỗ tập-trung của địch rồi đó. Chúng tôi ghi nhận có nhiều tiếng nổ phụ bên dưới.

Tiếng Phùng cười nhẹ trên tần-số:

– Chỉ là chuyện nhỏ… Cám ơn bạn qúa khen.

Sau luồng đạn phủ đầu của Tinh-Long và hai trái bom của Phi-Long thả xuống mục-tiêu, tiếng pháo-kích im bặt. Địch quân bị rối loạn trước đòn trả đũa chính-xác và khủng-khiếp của những nguời lính chiến Không-Quân. Chiếc AC119K của Tinh-Long cùng phi-tuần khu-trục của Phúc và Phùng ngưng xạ-kích, làm vòng chờ trên cao-độ. Bầu trời tối đen. Một thứ bóng tối âm-u, ma-quái, đầy dẫy những cạm-bẫy, đang rình-rập những người chiến-sỹ Không-Quân qủa-cảm. Những chiếc phi-cơ trang bị đầy bom đạn, lầm-lỳ bay lượn như những con dơi khổng-lồ chao muỗi trên không. Xuyên qua màn đêm, Phúc thấy bên dưới nhấp-nháy ánh đèn khi mờ khi tỏ, phát ra từ những ngôi nhà rải-rác cạnh các khu vườn, thửa ruộng… Bất giác trong một giây, anh thầm nguyện-cầu sao cho bom đạn đừng rơi trúng vào nhà dân chúng. Có tiếng Tinh-Long trên tần-số:

– Nghe giọng quen quen xin hỏi Phi-Long là những ai đó.

Phúc bấm máy trả lời:

– “Papa-Charlie” số một, và “Tango-Papa” số hai.

Có tiếng Tinh-Long cười reo lên thân-mật:

– Thì ra là Đại-Úy “Phúc Cháy” và Thiếu-Tá Trương-Phùng hỗn-danh “Hiệp-Sỹ-Say”. Toàn những “Đại-Cao-Thủ võ-lâm” không. Phen này chắc tụi nó tới số. Trưa hôm qua đang nhậu với anh em, chưa “tới độ” mà quay ra đã thấy Thiếu-Tá cùng Đại-Úy “Hai còi” và Đại-Úy Liêu đi đâu mất tiêu, chỉ còn Thiếu-Tá “Mai râu” ở lại “thủ thành”, làm thằng Chín (7) tìm mấy ông qúa cỡ. Nó cũng bay trên này và đang lo cho mấy con “gà cồ” phía sau.

Tiếng Phùng nổi lên:

– Phải thằng “Tango-Charlie” đó không. Mày không thả trái sáng làm “hiệp-sỹ-say” trở thành “hiệp-sỹ mù nghe gió kiếm”. Hôm qua lo nhậu, tao quên “thỉnh” mày lá bùa. Có nó giờ này cũng đỡ. Cho tao nói chuyện với thằng Chín chút coi. Có tiếng cười ngất-ngưởng vang lên trên tần-số qua màn đêm:

– Hà…hà… Đúng năm! “Thành Căm-Bốt” đây. Có cả thằng Tào-Thuận trên này nữa. “Ông” khỏi cần bùa, chỉ cần thoọc-lét cho “thằng em nó” nhe răng cười là “đạn thù” khó lòng chạm tới “long thể”. Chút nữa về đáp, tụi này sẽ xuống kho vũ-khí, lấy đền ông hai trái “flares” sống làm đồ nhậu.

Tiếng Thuận cười gằn:

– Hừ… ừm… hừm… Khỏi cần thoọc lét, nhìn tụi nó thoọc pháo-bông ở dưới cũng đủ thấy nhột bàn tọa rồi.

Có tiếng của Chín chen vào trên tần-số:

– “Charlie” đây Thiếu-Tá. Cám-ơn Thiếu-Tá về bữa nhậu hôm qua. Hai “ông thầy” em, cùng Thiếu-Tá và Đại-Úy bay như để… “Thằng em” nhìn xuống mà thấy lòng ngất-ngây… Chẳng khác nào: “Bắn cháy xe tăng như uống rượu – Mà tưởng rằng… em rót chén mời…” (7)

Hà…hà…Thấy đa…ảảả… hết sức.

Phùng bấm máy cười vang trên tần-số:

– Ơn nghĩa mẹ gì, Thấy bạn bè ngất-ngưởng là tao “dzui” rồi. Đ.M…Mày thuổng mấy câu thơ này ở đâu vậy “Chín Dơi” (8)

– Hà… hà…”Thằng em” mượn đỡ của một “Đại-Hiệp” bên “Biệt-Kích 81” trong trận giải-tỏa Bình-Long kỳ trước…

Những tiếng cười nói đùa giỡn với tử-thần của các hảo-hán AC119, và khu-trục vang lên, xuyên thủng qua màn đêm u-uất đang phủ trùm lên bầu trời thủ-đô… Giờ này, trong muôn ngàn hiểm-nguy, bất-trắc đang chờ đợi; họ, những con người vốn có một cuộc sống thật “bình-thường” hàng ngày, vẫn thường chia xẻ cùng người thân và bè bạn những lo-âu hãi-hùng của chiến trận; giờ đây, đã vượt ra khỏi mảnh không-gian bốn chiều hiện-hữu, để bước vào một vùng không-gian vô-hình khác vừa hé mở giữa hai lằn ranh sinh-tử của cuộc đời; để biến thể, trở thành những con người “phi-thường”, tung-hoành trong lửa đạn, bay truy-lùng và tiêu-diệt pháo địch trong đêm tối… Tiếng cười đùa chưa dứt, thì một loạt hoả-tiễn bên dưới lại nháng lên từ nhiều phía, phóng tới-tấp về hướng phi-trường, cùng với những tia đạn tưới lên không-trung như một tấm lưới sắt rực lửa, bủa vây lấy thân tầu của những “Hiệp-Sỹ Không-Gian”…

Mặc dầu không có trái sáng, nhưng những phi-công dầy-dạn chiến-trường của KLVNCH đã thay phiên nhau phóng xuống đầu địch những tràng đạn và bom thật chính-xác…

Trên cao-độ trong đêm tối, Phúc thấy địch-quân lúc-nhúc như những con chuột đồng từ những lùm cây, bờ đất theo ánh lửa của bom đạn chui ra… Từng trái bom, luồng đạn trút xuống… những xác người tung lên… Trực-thăng võ-trang bay bao vùng ở cao-độ thấp, nhả đạn vào những tấm bia thịt ngu-xuẩn, đang điên-cuồng như những con thiêu-thân lao mình vào ngọn lửa… Đạn phòng-không liên-tục tưới lên đan kín cả một mảnh trời…Mỗi một phút trôi qua, Phúc có cảm-tưởng như mình đang ngụp lặn trong một “vũng thời-gian” mênh-mông sâu thẳm…Từng xớ thịt trên người anh co cứng lại. Đầu óc như căng nứt ra, miệng khô chát… khi nhìn thấy những luồng đạn như những tia chớp vút qua trước mặt. Trời mờ mờ sáng… Thứ ánh sáng còn đục ngầu, ướt sũng sương đêm, nhưng cũng đủ giúp cho các phi-công trên cao nhìn địch rõ hơn. Những vật-cụ hóa-trang đã lộ hình làm mồi cho những tràng đại-liên, đại-bác và bom nổ… Không chịu nổi phi-pháo của Không-Quân, địch khựng lại và tháo lui. Mức-độ pháo-kích giảm dần rồi ngưng hẳn.

Nhìn về hướng phi-trường, Phúc thấy có ánh lửa bập-bùng, và những cột khói bốc lên. Anh nghĩ đến vợ con mà thấy lòng cồn cào như lửa đốt…Phúc liên-lạc với Tinh-Long:

– Tinh-Long, Phi-Long đã thả hết bom, chỉ còn đại-bác 20 ly.

Vừa lúc đó có tiếng gọi dồn-dập của một phi-tuần khu-trục vang lên hòa lẫn cùng với tia sáng đầu tiên của vầng thái-dương vừa ló dạng khỏi đám mây ở cuối chân trời:

– Tinh-Long đây Phượng-Hoàng gọi, bạn nghe rõ không trả lời.

Có tiếng trả lời mừng rỡ của Tinh-Long:

– Tinh-Long nghe Phượng-Hoàng năm trên năm. Chúng tôi đang làm vòng chờ trên trục Phú Lâm – Tân Sơn Nhất – Phú lâm. Cao-độ 2,000 bộ. Xin bạn cho biết vị-trí.

Tiếng trả lời rổn-rảng của người phi-tuần-trưởng phi-tuần Phượng-Hoàng:

– Phượng-Hoàng gồm hai A1, trang bị 16 trái “250 lbs” cùng “hoả-tiễn công phá”, và “đại-bác 20 ly”. Cất cánh từ Bình-Thủy lên làm việc với bạn. Hiện tại chúng tôi đang bay ngang Bến-Lức. Cao độ 5,000 bộ. Mọi người trên vùng nghe tiếng phi-tuần Phượng-Hoàng trên tần-số đều thấy lòng bừng dậy như đang nghe một khúc nhạc quân-hành của đoàn “không-kỵ” trổi lên… Các anh vừa trải qua những giờ phút căng-thẳng, dằng-dai trong đêm… Giờ có thêm một phi-tuần lên vùng, các anh thấy như được tiếp thêm nguồn sinh-lực… Phúc bấm máy gọi: – Phượng-Hoàng, đây Phi-Long gọi. Chúng tôi đã thả hết bom. Đợi các bạn lên vùng rồi sẽ về đáp.

Có tiếng “Phượng-Hoàng hai”, hỏi trên tần-số:

– Phải “Phúc Cháy” đó không. Thụy đây. Có lệnh di-chuyển biệt-đội về Cần-Thơ hôm nay. Nếu còn đủ xăng, tụi mày có thể về đáp Bình-Thủy cho được an-toàn.

– “Negative.” Tụi tao phải đáp Tân-Sơn-Nhất trước.

– OK, hiểu. Mày về đáp Tân-Sơn-Nhất. Nhưng… phải cẩn-thận đó nha.

Phúc cảm-động trước lời nhắn-nhủ chân-tình của Thụy, người bạn thân đã cùng anh trải qua biết bao nhiêu hiểm-nguy trong những phi-vụ ngặt-nghèo trên vùng trời Tây-Nguyên của mùa Hè đỏ lửa ngày nào… Anh bấm máy nói lời cám-ơn Thụy rồi liên-lạc với Tinh-Long.

– Tinh-Long, Phi-Long về đáp. Đổ xăng và trang bị bom đạn xong tụi này sẽ lên tiếp với bạn.

– Đã có Phượng-Hoàng trên vùng, Phi-Long cứ việc về nghỉ dưỡng-sức. Mình sẽ gặp lại sau.

Có tiếng của Phùng nhắc-nhở:

– Tinh-Long và Phượng-Hoàng cẩn-thận đó nghe… Tao còn nguyên chai “VSOP”, đợi tụi mày xuống uống mừng chiến-thắng.

Có tiếng cười ròn-rã của người phi-tuần-trưởng phi-tuần Phượng-Hoàng:

– Hà… hà … “Ấn Đen” đây. Chỉ cần nghe tiếng của “Hiệp-Sỹ-say” thôi, thì tuy: “Rượu chưa rót, mà đã thấy lòng say ngất-ngưởng…” rồi. Hà… hà… Tụi mày cứ về đáp, ngủ cho lại sức. Có thêm một phi-tuần nữa của thằng “Sơn Đị” và thằng Vân cũng sắp tới… “Hiệp-Sỹ-Say”, nhớ để dành cho tao vài ly cognac “xúc miệng” để ăn sáng…

– Có ngay, tao còn nợ mày chai “Ông Già Chống Gậy”, và chai rượu “Đậu-Nành” lần trước. Kỳ này gặp, mình sẽ thanh-toán luôn một thể.

Phúc cho phi-cơ xuống cao-độ, rời tần-số Paris, rồi lấy hướng về phi-trường. Phùng vào vị-trí cận-phi bên cánh phải, Phúc gọi đài kiểm-soát:

– Đài kiểm-soát Sài-Gòn đây Phi-Long gọi. Bạn nghe rõ không, trả lời?

– Phi-Long, Sài-Gòn nghe bạn năm trên năm.

– Phi-Long thi-hành phi-vụ xong, xin hạ cánh. Nhờ bạn “check” dùm coi mấy đám cháy ở vào chỗ nào được không?

– Sài-Gòn nghe rõ. Phi-Long hạ cánh phi-đạo 25, tầm nhìn xa 5 dậm, gió lặng…Hiện tại chúng tôi đang ở dưới hầm nên không “check” cho bạn được.

Tiếng Phùng giận-dữ hét lên trên tần-số:

– Đ.M… Bạn ở dưới hầm thì làm sao bạn điều-khiển cho phi-cơ cất cánh và hạ cánh.

Có tiếng ngập-ngừng của người “kiểm-thính-viên” của đài-kiểm-soát:

– …Chúng tôi có… sơ-đồ phi-trường ở dưới hầm.

Phúc phì cười rồi nói:

– Được rồi, chúng tôi đang vào vòng cận-tiến phi-đạo. Bạn ráng thức đừng ngủ gục và đừng cho phi-cơ nào cất cánh ngược chiều. OK…

Hai chiếc khu-trục A1 trên đường bay vào hướng phi-đạo. Nhìn sang bên cánh phải của mình, Phúc thấy phi-cơ của Phùng còn hai trái bom. Anh ra dấu cho Phùng rồi gọi trên tần-số:

– “Phi-Long hai” còn hai trái bom bên cánh trái. Mình sẽ lên vùng lại để giải-tỏa.

Tiếng Phùng thúc-dục trên tần-số:

– Mày cứ về đáp, để tao lên vùng trở lại nhập bọn với phi-tuần của thằng “Ấn đen” được rồi. Không sao đâu, mày cứ việc về trước lo cho vợ con, tao sẽ về sau. Nhớ chờ tao ở biệt-đội. OK!

Nói xong Phùng ra dấu rời hợp-đoàn. Phúc mỉm cười lắc đầu nhìn chiếc A1G của Phùng làm một vòng quẹo thật gắt, với 90 độ nghiêng, đưa bụng ngang đuờng chân trời để lộ hai trái bom còn dính trên cánh, lấy hướng bay về Phú-Lâm…

Trong số bạn đồng-ngũ, Phúc vẫn nể Phùng, người phi-công đàn anh của mình… Bạn bè trong đơn-vị biết rất ít về gia-cảnh của Phùng; mọi người chỉ biết anh là một người rất mực hào-phóng… Là một phi-tuần-trưởng khu-trục dầy kinh-nghiệm, anh luôn-luôn xông-xáo gánh vác những công việc khó-khăn và nguy-hiểm… Những phi-công trẻ mới ra trường, về phi-đoàn bay xác-định hành-quân với Phùng, đều mến phục anh qua cung-cách ngang-tàng và phong-độ hào-sảng của một “người Không-Quân”.

Trong nhiệm-vụ, ở trên trời, anh gắn-bó với các phi-tuần-viên qua những giây phút hiểm-nghèo; khi xuống đất, anh chia-sẻ với họ trách-nhiệm của người phi-công khu-trục, cùng những ưu-tư về thân-phận con người trong cuộc chiến… và ở ngoài đời, anh buông thả theo với nghĩa-tình giang-hồ bằng-hữu… Anh thường nói: “Tụi mày biết không, với từng này giờ bay, tao có thể đổi về ngồi ở một chỗ nào đó an-toàn hơn, để được gần-gũi với gia-đình, vợ con…Nhưng cuộc chiến này không cho phép tao làm chuyện đó. Mỗi lần đến gõ cửa nhà một đồng-đội vừa hy-sinh, để nhìn thấy những gương mặt kinh-hoàng, những giọt nước mắt đau khổ của người vợ trẻ, của bà mẹ gìa nua, những tia nhìn ngơ-ngác của đàn trẻ thơ…tao thấy như chính tim mình bị lãnh một viên đạn của kẻ thù… Tao phải sát cánh cùng tụi mày…” Phúc lắc đầu xua đuổi những ý-nghĩ tiếp nối. Anh cho phi-cơ bay trên phi-đạo rồi làm một cú quẹo gắt vào vòng đáp…

Chiếc khu-trục-cơ AD6 hạ cánh nhẹ-nhàng trên phi-đạo. Phúc thận-trọng cho phi-cơ di-chuyển trên sân bay để tránh những miểng pháo vương-vãi khắp nơi… Về đến ụ đậu của biệt-đội, không thấy Thịnh ra đón phi-cơ, Phúc tắt máy rồi nhìn lên trời. Anh thấy chiếc AC119K của Tinh-Long đang bay ở cao độ thấp, xối-xả nhả đạn xuống phía ngoài vòng-đai phi-trường, dọc theo chiều phi-đạo “ 07-25”, từ hướng Hóc-Môn vòng về khu Gò-Vấp, cùng với hai chiếc khu-trục A1 của phi-tuần Phượng-Hoàng, đang nhào lộn trên không như những con diều-hâu vồ mồi, thay phiên nhau trút bom xuống… Đạn phòng-không tưới lên tới-tấp…

Nghe tiếng bom đạn ầm-ì vọng lại, và những cột lửa cuồn-cuộn bốc lên, Phúc thấy bồn-chồn trong dạ, linh-tính như báo cho Phúc biết là sẽ có chuyện gì khủng-khiếp lắm xẩy ra… Anh mệt mỏi đưa mắt nhìn một lượt khung-cảnh điêu-tàn, đổ-nát xung quanh… Ngổn-ngang đó đây, những chiếc phi-cơ trúng đạn sụm xuống, những mái “hangar” lủng nóc, những hố đạn cầy nền xi-măng bắn lên tung tóe… Bên kia dẫy nhà của cư-xá có nhiều đám khói tản mác bay lên… Một chiếc xe xăng phóng tới đậu sát phi-cơ của Phúc. Người tài-xế để nguyên máy nổ. Thịnh từ trên xe nhẩy xuống, kéo hai “con chốc” chặn bánh phi-cơ, rồi leo lên cánh chiếc AD6, ôm lấy vai Phúc nói nhanh: – Đêm qua nằm ngoài này bị tụi nó pháo rát quá, tôi và thằng “Nghiệp rỗ” phải chạy về ụ-cát của biệt-đội để nấp. Vừa thấy phi-cơ đáp, tôi theo xe xăng của nó chạy ra đây… Đại-Úy ơi! Ông biết gì không? Tôi vừa nghe trên “máy” của xe xăng, có tin báo về phòng hành-quân chiến-cuộc là phi-cơ của Thiếu-Tá Phùng mới bị bắn rơi gần đài Radar Phú-Lâm. Không thấy phi-công nhẩy dù… Hiện giờ thì tụi nó đang tấn-công phía vòng đai phi-trường…

Trong một thoáng, Phúc cảm thấy như có một luồng lãnh-khí từ cõi âm nổi lên, thổi luồn từ chân lên tới đầu mình… Gương mặt anh co rúm lại… Anh ngồi bất-động, không có phản-ứng gì sau câu nói của Thịnh; hình ảnh của Phùng thoáng hiện trước mắt anh rồi bay vút vào khoảng không như một tia chớp… Và như một cái máy, anh ngửa mặt nhìn lên trời. Miệng Phúc há hốc, mắt trợn-trừng như không tin những gì đang xẩy ra… Bên cạnh anh, người trung-sỹ phi-đạo cũng đứng chết trân trên cánh phi-cơ, một tay nắm chặt thành tầu, một tay bấu lấy vai anh… cả hai cùng nhìn chiếc AC119K vừa hứng trọn luồng đạn thù-nghịch của địch. Một tia sáng lóe lên bên hông… Cánh phi-cơ bị gẫy gập rời khỏi thân tầu, lạng xuống như một con diều đứt giây. Có bóng người bắn ra… Chiếc phi-cơ bốc cháy, chao-đảo trên không, rồi bùng lên và rụng xuống như một qủa cầu lửa… Phúc bàng-hoàng trước sự-kiện xẩy ra qúa bất-ngờ, qúa nhanh, qúa hùng-tráng, và qúa tàn-khốc… rồi vụt biến mất như một kẽ nứt giữa hai vùng không-gian khác chiều âm, dương vừa được khép lại… Phúc gục đầu xuống, hai vai anh rung lên từng nhịp như những nhịp đạn đại-bác 20 ly nhả về phía quân-thù… Thịnh lay vai Phúc cuống-quýt gọi:

– Đại-Úy… Đại-Úy… Ông có sao không?

Phúc ngẩng mặt, mắt đỏ hoe, nhìn Thịnh lắc đầu. Anh mím môi, chống tay đu mình ra khỏi phòng lái. Phúc nắm tay Thịnh như để gởi lời cám-ơn tới người bạn cùng đơn-vị qua sự quan-tâm, chăm-sóc của anh đối với mình… Rồi Phúc xốc lại chiếc áo bay, chụm hai chân, đứng thẳng người, cắn chặt vành môi đến bật máu, quắc mắt nhìn lên khoảng không-gian hun-hút xa thẳm… đưa tay chào vĩnh-biệt những chiến-hữu vừa mới đây đã cùng anh chia-sẻ những giây phút nhọc-nhằn, nguy-hiểm nhất của một đời người… Trên bầu trời vần-vũ đám mây tang của một ngày vừa thức giấc… Những chiếc khu-trục cơ còn lại đang gầm thét, vẫy vùng bay lượn, như để tiễn đưa những con đại-bàng đã rời đàn, xoải cánh bay về vùng trời miên-viễn, nơi cõi vĩnh-hằng cao diệu-vợi…

Phúc nhẩy xuống đất, nhìn chiếc xe “jeep” của Phùng nằm chơ-vơ trên tấm vỉ sắt “psp” cạnh phi-đạo; anh chợt nghĩ đến vợ con của Phùng, và những gia-đình của phi-hành-đoàn trên chiếc AC119 vừa bốc cháy…mà thấy lòng mình hụt-hẫng, xót-xa… Anh quay qua thấy Nghiệp, người trưởng-xa nhiên-liệu, sắc mặt nhợt-nhạt, đang đứng nhìn anh trân-trối… Rồi bất thần, Nghiệp chụp lấy tay anh lắc mạnh, nghẹn-ngào nói:

– Khủng-khiếp qúa Đại-Úy ơi! Suốt cuộc đời lính của tôi, chưa bao giờ tôi chứng-kiến một cảnh nào kinh-hoàng, dữ-dội, bi-thương, và hùng-tráng như lần này…

Rồi không dằn được cơn xúc-động, Nghiệp gào lên: “- Các anh đã chết để cho mọi người được sống…” và qụy xuống, ôm chân Phúc khóc tức tưởi… Phúc đứng lặng người trước luồng tình-cảm qúa mãnh-liệt đang cuồn-cuộn dâng lên trong lòng người lính trẻ. Anh mím môi, cắn chặt răng để ngăn dòng nước mắt đang chực trào ra… Phúc đưa tay nâng Nghiệp dậy, và bóp mạnh vai anh như cảm-thông với những xúc-động chân-thành phát xuất tận đáy lòng của người bạn cùng chung mầu cờ sắc áo với mình, rồi vỗ vai Nghiệp, giọng trầm xuống, phảng-phất âm-điệu se buồn:

– Mày lo đổ xăng đi, đợi tụi nó lắp bom đạn xong tao sẽ lên tiếp…

Nghiệp hốt-hoảng tròn mắt nhìn Phúc nói:

– Không được đâu Đại-Úy ơi. Phòng-hành-quân-chiến-cuộc mới ra lệnh chỉ đổ xăng cho những phi-cơ bay xuống Cần-Thơ thôi, với lại Thủ-Tướng vừa lên đài-phát-thanh kêu gọi quân-đội ngưng bắn, để đón “người anh em bên kia”…

Phúc nắm vai Nghiệp lắc mạnh:

– Mày vừa nói gì vậy.

– Chúng mình bị cha “Minh”, và cha “Mẫu” bán đứng cho giặc rồi ông ơi. Đại-Úy lên xe đi, tôi đưa ông về biệt-đội…Rồi còn về thăm bà-xã nữa chứ. Bả gặp ông giờ này chắc là sẽ mừng lắm đó… Hồi đêm, đạn pháo-kích trúng khu cư-xá của nữ quân-nhân, không biết… có ai bị gì không.

Ngồi trên chiếc xe-xăng, Phúc điếng người hỏi Nghiệp:

– Vợ con tao ở gần đó. Khu cư-xá của phi-đoàn C7 có sao không?

Nghiệp nhìn Phúc, cười như mếu:

– Chắc là không sao đâu Đại-Úy.

Phúc nổi nóng hét lên:

– Mày có ở đó đâu mà biết là không sao.

Rồi thấy mình lớn tiếng với Nghiệp một cách vô-lý, Phúc nắm cánh tay Nghiệp lắc mạnh như để thầm xin lổi… Nghiệp vẫn mỉm cười như mếu. Giọng nói gói-ghém âm-điệu nhẫn-nhục, chịu-đựng:

– Chắc là không sao đâu Đại-Úy.

Trong một thoáng, Phúc chợt thấy lòng rúng động; anh quay qua nhìn Nghiệp, ánh mắt như bị phủ mờ đi bởi tâm-tình u-uẩn của người hạ-sỹ-quan nhiên-liệu đang dàn trải, bung ra như một tấm màng nhện quấn lấy mình…Trong cuộc chiến tàn-khốc này, có lẽ… chỉ có những con người thường-xuyên cận kề với những giây phút hiểm-nghèo, mới bắt được và chia-xẻ với nhau những luồng tình-cảm vô-hình lãng-đãng vây quanh họ… Phúc cắn nhẹ vành môi, giọng nói như chìm vào một cõi mênh-mông xa vắng:

– Tao cũng hy-vọng là không sao… Mày có biết gia-đình của Thiếu-Tá Phùng, và các gia-đình của phi-hành-đoàn Tinh-Long hiện giờ đang ở đâu không?

Nghiệp mím môi, chớp cặp mắt đỏ hoe nhìn Phúc lắc đầu…

Từ giã Nghiệp, Phúc phóng xe như bay về khu cư-xá C7. Tới nơi, anh đứng lặng người trước khung-cảnh hoang-tàn đổ-nát… như một bãi chiến-trường. Một trái 122 ly chưa nổ nằm ngay cạnh căn hầm trú-ẩn. Anh dựng xe nhớn-nhác nhìn quanh, rồi chạy xuống hầm. Một cảnh-tượng bừa-bãi, ngổn-ngang trước mắt. Vài chiếc ghế bố nằm nghiêng-ngả trong góc hầm… Phúc biến sắc, tim đập mạnh khi thấy bó tã của con có vết chân của ai dẫm lên lấm đầy đất. Anh cúi xuống nhặt lấy, nhét vào túi áo bay rồi vội-vã lên khỏi hầm. Một người bạn của Vân từ trong phi-đoàn chạy tới đưa cho Phúc một tờ giấy nói: – Anh Phúc, thằng Vân nhờ em đưa tờ giấy này cho anh. Nó chở cháu với chị ra ngoài đêm hôm qua rồi. Thật là hú vía. Nhờ chị cầu-nguyện ơn trên che-chở, nên trái 122 ly rớt ngay cửa hầm mà không nổ.

Phúc nhìn trái hỏa-tiễn nằm im-lìm trên mặt đất như một con cá mập bị mắc cạn mà thấy lạnh gáy. Anh mở tờ giấy ra đọc: “Anh hai, em đưa chị và cháu về nhà ba má. Ở trong này nguy-hiểm quá. Em có gọi qua biệt-đội nhưng anh đã đi bay. Hẹn gặp anh sau. Không sao đâu. Mọi người đều bình-an, vô-sự. Chị đang cầu xin ‘Đức Mẹ’ và ‘Đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát’ che-chở cho anh đó. – Vân.” Phúc gấp tờ giấy ấp vào ngực, mà tưởng như mình đang ôm Dạ-Thảo và bé Hạnh-Thương trong vòng tay… Anh quỳ xuống đất, ngửa mặt lên trời, rồi chắp tay thầm cảm-ơn Trời, Phật, Chúa, Đức Mẹ đã che-chở cho vợ con anh được bình-yên vô-sự…

Phúc loạng-choạng đứng dậy, ngoảnh mặt nhìn căn hầm một lần chót, rồi lên xe phóng về phía liên-đoàn-phòng-thủ kiếm Thọ. Anh tính nhờ Thọ chở ra ngoài căn-cứ tìm vợ con. Không thấy Thọ, Phúc vòng qua phi-đạo để về biệt-đội. Dọc đường anh gặp mấy chiếc khu-trục đang di-chuyển ra sân bay… Dẫn đầu là chiếc của Thiếu-Tá Huynh. Huynh thấy Phúc thì cho phi-cơ ngừng lại, thò tay ra ngoắc… Phúc dựng xe bên cạnh tường của căn nhà vòm, rồi leo lên cánh chiếc AD6 đang nổ máy. Sức gió thổi ngược chiều cuốn tung mái tóc rối bù, anh bám chặt lấy thành tầu, ghé sát tai nghe Huynh hét lên như át cả tiếng động-cơ:

– Thủ-Tướng ra lệnh quân-đội buông súng đầu hàng giặc rồi. Tuị mình bay xuống Bình-Thủy. Xuống đó tao sẽ xin một chiếc C47 về đón gia-đình những ai còn kẹt lại sau. Bây giờ mày lên chiếc AD5 của thằng Sang và thằng Hiển, ngồi “blue room” xuống Bình-Thủy. OK.

Nghe Huynh nói, Phúc thấy lòng mình chai lại; như một cái máy, anh theo đà nhẩy xuống khỏi cánh máy bay, ra xe lấy chìa khóa, rồi chạy lại leo lên chiếc AD5 của Sang và Hiển… Cánh cửa khung-phòng “blue room” phía sau của chiếc AD5 vừa bật lên, Phúc leo vào, anh bỗng khựng lại vì bên trong chất đầy người. Anh liếc qua thấy có Sơn, Liêu, “Hai-còi”, Lộc, Cơ, Thuận… và nhiều người khác nữa… Phúc còn đang ngập-ngừng thì “Hai-còi” thò tay nắm vai áo kéo anh lộn nhào vào bên trong, rồi đóng cửa lại…Tiếng động-cơ gầm rú dữ-dội, chiếc AD5 rung lên như bị xúc-động mạnh trước giờ ly-biệt, rồi chồm lên lăn bánh trên mảnh phi-đạo thân yêu, và bốc mình rời khỏi mặt đất, mang theo những con người ra đi để làm lại lịch-sử…

Phúc thấy hai tai mình ù đi, đầu óc choáng-váng vì âm-thanh chát-chúa của động-cơ… Anh mệt mỏi thả người dựa lưng vào Hai. Phúc bỗng cảm thấy một bàn tay ấm-áp bóp nhẹ vai mình như để truyền thêm nguồn sinh-lực cho người phi-công đang kiệt sức… Rồi bên tai Phúc có tiếng thì-thầm của Hai: “Tao nghe tin Thiếu-Tá Phùng, và bọn thằng Thành, thằng Thuận bị rớt rồi. Mừng cho mày về được an-toàn.” Phúc im-lặng không trả lời… Một giòng nước mắt nóng hổi lăn dài trên má anh… như lăn theo cả những căm-hờn, oan-khuất của người lính chiến bị bức-tử… Những người lính chiến hiên-ngang, từng coi giặc-cộng như loài cỏ rác, cuối cùng đã thua cuộc chỉ vì bị “phản-bội”, cùng với những mưu-đồ chính-trị xảo-quyệt và bẩn thỉu trói tay, cản bước… Bao nhiêu năm vẫy-vùng trên bầu trời cao rộng, bao nhiêu lần đi, về từ cõi tử-sinh cùng với các chiến-hữu, và con tầu thân-yêu… chưa lần nào anh để ý đến cái khoang trống sau chiếc ghế bay…Để đến bây giờ, những người “Hiệp-Sỹ-Không-Gian” bị bắt buộc phải xếp cánh, đã phải nằm ép mình trên cái sàn tầu lạnh ngắt như một chiếc “quan-tài bay” vô tri-giác này…

Phúc cảm thấy toàn thân mình đau nhừ, đôi môi khô rát, cuống họng đắng chát… sau những giờ phút căng-thẳng, dồn-dập suốt một ngày một đêm không chợp mắt… Anh muốn duỗi thẳng chân, nhưng chân anh đụng phải người con gái ngồi trước mặt, anh vội co chân về… Người con gái đưa mắt nhìn anh, nở một nụ cười như mếu… Phi-cơ đang lấy cao-độ bình-phi. Tiếng động-cơ ầm-ỳ như một thanh-âm huyền-hoặc quái-dị, “thôi-miên” đưa Phúc vào một “chiều thời-gian” của mộng-mị chập-chờn.… Anh nghĩ đến bố mẹ, đến những người thân, đến Dạ-Thảo, đến bé Hạnh-Thương, đến bạn bè…Trong cơn mê mơ-hồ thảng-thốt, qua khung cửa kính trên trần phi-cơ, Phúc (9) thấy những cụm mây trời hiền-hòa lững-lờ trôi theo con tầu… Và thấp-thoáng trong những đám mây trắng bồng-bềnh giật-dờ trên không, anh bỗng thấy Phùng, Thành, Thuận, cùng các hảo-hán điều-hành-viên, áp-tải, vô-tuyến, cơ-phi, xạ-thủ của chiếc AC119K vừa bốc cháy giữa vòm trời lửa đạn của quê-hương, lần-lượt hiện ra trong những bộ phi-bào bê-bết máu, nét mặt tươi-cười, giơ tay vẫy chào tiễn-biệt…

Văng-vẳng bên tai, anh nghe tiếng của những người bạn cùng quân-chủng nói với theo: “Chúc các bạn ra đi được an-toàn… Đã có chúng tôi ở lại cản đường quân giặc. Nhớ lo chu-toàn đại-cuộc…” (Tháng Tư oan-nghiệt!)

Chú-Thích: (1) Kiều của Nguyễn-Du (2) “Mầu Tím Hoa Sim” của Hữu-Loan: “Đôi giầy đinh bết bùn đất hành-quân…” (3) “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” Thơ Kiên-Giang. (4) “Mầu Tím Hoa Sim” của Hữu-Loan (5) “Gởi em… Cô gái Bình-Long”. Bài thơ của một chiến-sỹ “Biệt-Kích 81” đã hy-sinh ngoài chiến-địa. Một người bạn anh đã tìm được bài thơ này trên thân thể bê-bết máu của anh.

(6) Thơ Hà-Huyền-Chi. (7) “Gởi em…Cô gái Bình-Long”. Thơ của một “Biệt-Kích 81”. (8) Thượng-Sĩ Chín. là người đã nhẩy dù ra khỏi chiếc AC119K/P.Đ 821 bị bắn rơi sáng ngày 29 tháng Tư năm 1975, nên đã thoát hiểm. Trong thời điểm viết truyện này, người viết không biết anh và gia-đình đang ở đâu.

(9) Đại-Úy Phúc: Người trở về từ cõi chết. Sáng ngày 29 tháng Tư năm 1975 anh phải theo đơn vị rút về Vùng 4 chiến thuật và đã thất lạc vợ con. Từ Bình-Thủy anh và các bạn đã chống lại lệnh đầu hàng cộng-sản của tân T/T, và bay qua UtaPao TháiLan, rồi vào tị-nạn tại Hoa-Kỳ. Sau 9 năm 10 tháng sống trong đợi chờ, mong nhớ, cuối cùng vợ con anh đã được đoàn-tụ trên miền đất tự-do. Bé Hạnh-Thương đã học thành tài, và giờ là một nữ Dược-Sỹ. ** Hơn 30 năm sau, toàn bộ phi hành đoàn Tinh Long 07 và Thiếu Tá Trương Phùng đã được KQ Nguyễn Toại Chí, hợp với các đồng đội, thân nhân, cùng các nhà ngoại cảm, đã đào xới được những dấu tích bi hùng của một thời chinh chiến, và đem hài cốt của các “anh hùng tuẫn quốc” về cải táng. Thượng-Sĩ Chín Dơi cũng có mặt để chia xẻ cái giây phút thiêng liêng này cùng mọi người.

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s