Trần Hoài Thư – Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối

Hôm nay, 37 năm về trước, Ban Mê Thuột bị thất thủ

Đây là một câu truyện được xây dựng từ những dữ kiện có thật theo lời kể của cựu thiếu úy trinh sát trung đoàn 45/SĐ23B và cũng là người bạn cùng một Sư đoàn, Nguyễn Lương Sơn. Tác giả mong được nói lên phần nào về một biến cố lịch sử mà những người lính vô danh VNCH đã là những chứng nhân, và hơn nữa đã tham dự thật sự vào, bằng máu, nước mắt, kiêu hãnh và tủi nhục trong những ngày oan nghiệt nhất của lịch sử đất nước từ ngày đầu tiên 10/3 đến ngày cuối cùng 17/3/75 tại Ban Mê Thuột.

Trần Hoài Thư

Ban Đông, ngày một tháng ba. Đại đội về Ban Mê Thuột chưa kịp nghỉ dưỡng quân, bổ sung quân số, lại được lệnh tăng phái cho tiểu khu. Lệnh từ tiểu khu: Đến Ban Đông để tiếp nhận căn cứ do một đơn vị địa phương quân bàn giao lại. Cấp trên cho đi nghỉ mát hay cho vào hiểm địa chăng. Không ai cần biết. Lại lên đường. Trung đội trưởng Minh lại ngồi trong cabin, đám lính ngồi đằng sau, chĩa súng ra ngoài bìa rừng. Buổi sáng từ giã thành phố, từ giã Liên, quán cà phê, tiếng hát của Lệ Thu nức nở Nghìn trùng ngăn cách từ rạp hát Thăng Long, con phố ngắn hai bên vách tường vôi sậm bùn đỏ sệt như lời hát nào đi năm phút trở về chốn cũ. Đường về hướng Tây cũng như hướng Đông, hướng Nam, hướng Bắc. Vẫn là cõi sống và cõi chết. Vẫn là những khu rừng già che hết cả tầm nhìn. Vẫn là những lần ngồi trong xe, rồi nhảy xuống, rồi nhìn bản đồ, địa bàn, ra lệnh, hét hò, chửi thề. Vẫn là những hơi thuốc hít vội, những đầu lọc như bị cắn nhừ để chống những nỗi lo âu vô cớ…

Đóng đồn. Lâu lắm, đơn vị mới được dịp dừng lại trong bốn bề phòng tuyến, co cụm lại thay vì phải bung ra từng toán tăng phái cho tiểu khu, trung đoàn, sư đoàn hay quân đoàn. Buổi sáng đại đội tập họp, Minh lại nhớ thiếu úy Thường. Toán hắn đã chạm địch khi nhảy xuống rừng tìm tin tức của toán Minh. Nhưng cuối cùng, toán thất lạc của Minh đã trở về an toàn và toán đi tìm đã không còn dịp để trở về nữa. Thiếu úy Thường đã ôm trái lựu đạn tự sát vì bị thương quá nặng để rảnh tay đồng đội. Khi nghe tin thằng bạn thân chết Minh đã lấy súng bắn như điên cuồng về phía rừng. Mắt Minh long lên đỏ ngầu. Minh nhớ đôi mắt của bạn. Nụ cười của bạn. Nhớ đến cái dáng bất cần của bạn. Hắn dường như sống để mà lao về phía trước. Ngọn cỏ ngọn lau còn rụt rè, trái lại đối với hắn, cả thân hắn đứng thẳng, như thể thách thức với trận mạc. Và xác hắn banh. Tiếng nổ của trái lựu đạn thật quá lẻ loi không có ý nghĩa gì hết so với những tràng sấm kinh động từ những lần phi pháo trên những cánh rừng già Trường Sơn. Trung đội mất một thiếu úy Thường thì vẫn có một sĩ quan khác được bổ sung. Và nếu không có sĩ quan bổ sung, một hạ sĩ quan toán phó sẽ lên thay. Không ai bận tâm thắc mắc về một cuộc chiến mà chiến công được vinh danh qua những xác chết. Chỉ có những người cùng vào sinh ra tử với nhau này. Chỉ có những đứa con mỗi ngày chia xẻ từng hộp thịt quân tiếp vụ, từng hơi thuốc, từng cô gái giang hồ, từng chai bia lăn lóc, từng mẫu âm thoại trên máy PRC 25 này. Thường ơi, tao nhớ mày, mày biết không. Tại sao hôm nay mày không có mặt để đi đóng tiền đồn với tao.

oOo

Ban Đông ngày một tháng ba. Quận cách Ban Mê Thuột chừng 45 cây số về hướng Tây. Quận của mặt trời lặn. Đoàn xe bốn chiếc lăn bánh trên con đường nhựa còn sót lại thời kỳ Pháp thuộc. Bụi đỏ cuốn mù. Qua rừng cao su, những đồn điền trà và cà phê bất tận. Chiếc xe hàng chạy qua đầy ngập hành khách, những người Thượng trên rẫy hay bên đường đã cho người lính tự tin hơn về sự an ninh của con trục lộ miền núi. Sương mù vẫn còn trùm phủ những ngọn đồi xa. Người lính truyền tin đại đội vẫn tiếp tục báo cáo và nhận lệnh. Tháng ba, Tết đã qua, mùa xuân vẫn còn vương vít trong đất trời, với những đàn chim én nô đùa trong không gian tươi thắm nắng vàng. Núi rừng trùng trùng điệp điệp vây quanh, không có gì tỏa ra những đe dọa dưới một màu xanh thẫm bạt ngàn. Nhưng Minh đã biết hơn ai hết về những tai họa đang chờ chực dưới những cánh rừng già phía dưới ấy. Các toán đã báo cáo đến mệt lả về phòng hai. Từ Đức Lập, Thuần Mẫn, từ Lệ Trung, Lệ Thanh, từ Phú Bổn, Quảng Đức và dưới những cánh rừng già Đắc Lắc. Mỗi lần nhảy là bọn Minh phải ôm tim ôm ngực trước những bước chân di chuyển, tiếng động cưa cây, chặt gổ làm cầu, dọn đường cho tăng và những đoàn quân xa nặng, những đồ lương khô còn vất lại trên đường mòn, những bãi cỏ lau bị rạp vì bước chân người. Bọn Minh biết rõ từ lúc đầu tháng giêng năm 1975, những sửa soạn sôi nổi như không còn che dấu được nữa của những đơn vị sư đoàn F10, sư đoàn 320, trung đoàn Quyết Thắng, cả trung đoàn chiến xa đang dàn binh dọc theo hành lang của các tỉnh miền núi như Pleiku, Tuyên Đức, Đắc Lắc, Phú Bổn…Minh có dự cảm về một trận chiến sắp sửa ở đâu đây. Trận phún thạch không biết sẽ phụt lên lúc nào, và ở đâu. Đâu là điểm nóng, điểm lạnh. Ngày trước, mỗi lần lấy tin là cả một sự khó khăn. Toán phải bung sâu vào mật khu, xa bộ chỉ huy hàng mười lăm, hai chục cây số, lặn lội trong rừng già, mới tìm được tin mà báo cáo. Bây giờ, không còn phải vất vả như xưa nữa. Địch có mặt khắp nơi, khắp chốn, công khai, như thể sắp dự vào một trận đại địa chiến một mất một còn.

Ban Đông. Ngày một tháng ba. Xế trưa. Không có đơn vị địa phương quân nào đợi sẵn để bàn giao căn cứ. Căn cứ trống trơn, trơ vơ những hàng dây kẽm, những giao thông hào, những nhà tôn tiền chế và bãi phi đạo tầm ngắn còn lại từ thời tiểu đoàn biệt động quân biên phòng trấn đóng. Thì ra, đơn vị địa phương quân đã bỏ căn cứ từ lúc nào. Bỏ mà không nói một tiếng cho đại đội đến tiếp nhận. Thẩm quyền của Minh chửi bới um sùm qua máy. Đại đội bắt đầu tiếp nhận căn cứ. Dưới mắt Minh, núi rừng trong nắng chiều vàng thẩm, trùng điệp. Anh có thể thấy bao quát một vùng rộng lớn, mãi tít bên kia hành lang. Vâng, đây là cửa ngõ xâm nhập. Và căn cứ này là con mắt có thể quan sát được sự di chuyển của quân địch. Tầm quan trọng về chiến lược đã được để lại dấu tích bằng một căn cứ vững chắc, có cả phi đạo cho máy bay. Nhưng đó là chuyện của ngày xưa. Thời biệt kích Mỹ. Thời Biệt Động Quân biên phòng. Thời máy bay lên xuống căn cứ không ngớt. Thời mà cả tiểu đoàn vũ khí hùng hậu. Thời hễ bốc máy xin được yểm trợ là có phi pháo hay B52. Cái thời đó đã không còn nữa. Mà trái lại, lúc này là cái thời chỉ có một đại đội trấn giữ lẻ loi, cô đơn giữa một trùng trùng điệp điệp sư đoàn, binh đoàn địch, chẳng cần dấu diếm.

Phải. Lúc này, là lúc chín mùi cho một mặt trận. Về phía địch, họ đã đạt được ý nguyện, có nghĩa là không còn pháo đài bay, mắt điện tử dòm ngó khi họ chuyển quân xâm nhập, hay không còn những phản lực cơ từ đệ thất hạm đội, hay từ các căn cứ nội địa sẵn sàng có mặt trên đầu họ. Ký kết hiệp định Ba Lê, có nghĩa là người Mỹ phủi tay để nhìn một miền Nam trước sau gì cũng thoi thóp. Minh đã nhảy biết bao nhiêu lần. Và bao nhiêu lần Minh lấy tin từng đơn vị cấp sư đoàn đang ngày đêm ồ ạt tiến về Nam như tiến vào chỗ không người.

Như thường lệ, buổi tối các toán phải bung ra nằm ngoài phòng tuyến. Minh cho toán của chuẩn úy Hào lên nằm trên ngọn đồi cao điểm của căn cứ. Riêng anh theo toán của trung sĩ nhất Bao, dẫn người truyền tin cùng tên tà lọt đi cùng. Đêm trên cao, sao càng rõ hơn. Gió từ phía Lào thổi qua, vẫn còn mang theo hơi ẩm uớt từ những cánh rừng già. Phía dưới chợ, le lói vài ánh đèn như dấu hiệu của sự sống. Ngày xưa nơi này được tiếng là một quận trù phú về lâm sản và thú rừng. Bây giờ, người dân đã bỏ đi gần hết. Chỉ còn những người Thượng sống chết với núi rừng.

Đêm đầu tiên ở Ban Đông, Minh nghe vọng về rất rõ tiếng máy xe tiếng chân người di chuyển, cả tiếng cưa cây, bắc cầu, đóng cọc, có cả tiếng máy xe ủi… Kể từ khi không còn bóng những pháo đài bay, F110, hay F111 địch đã không còn là những bóng ma như người ta đã nói. Họ công khai xuất hiện. Như bọn Minh đã từng báo cáo suốt mấy tháng trước đây. Nhưng chẳng ai thèm ngó ngàng. Không còn B52, không còn thuốc khai quang, hết cho cây rừng còn xanh lá, thôi pháo binh, hết máy bay ném bom mỗi khi có lời yêu cầu. Và đêm nay, cũng vậy. Cả đại đội đang chờ đợi một điều sẽ đến. Có thể là một cuộc tấn công cũng nên. Minh lo không thể ngủ được. Minh sợ thằng gác ngủ quên. Đôi khi, Minh phải trở dậy đi tuần tra. Từ cả tháng nay, tin đồn Quốc Thánh về cùng những đứa con trinh sát của sư đoàn, cho biết Ban Mê Thuột sẽ gặp đại nạn, vô phương cứu chữa. Người ta nói anh linh của Tướng Trương Quang Ân nhập vào Quốc Thánh. Và Ngài chỉ đặc biệt độ trì trinh sát, bởi khi còn sống, vị Tướng này rất thương mến lính trinh sát. Trời ơi, sao Ngài không chịu nhập vào mấy tay lãnh tụ, tướng lãnh, Sài Gòn hay Ngũ Giác Đài. Sao Ngài lại không dùng quyền uy để bắt họ ra nằm ngoài Ban Đông một đêm với lính, mới hiểu là điềm triệu này đúng. Tại sao lại đem một đại đội trinh sát đi nằm tiền đồn. Để làm gì. Minh không thể hiểu. Trong bóng đêm đen đặc, Minh đang chờ. Như chờ suốt bao lâu từ khi về đơn vị, từ chức toán trưởng, trung đội phó và giờ là trung đội trưởng. Chờ trong khi hết đồng đội này đến đồng đội khác, cứ tiếp tục tiến lên, bước sâu vào, nhảy ào xuống, cái cõi mà ai ai cũng phải hãi hùng. Từ một đơn vị trực thuộc trung đoàn, bây giờ đơn vị lại trở thành con ghẻ của mọi bà dì vô tâm. Hết sư đoàn xin, đến quân khu rồi tiểu khu xin. Xin để nhảy lấy tin. Nhưng khi tin đã cho rồi, thì chẳng cần ai đếm xỉa. Họ đâu có biết gì về nỗi bơ vơ của đám con ở chiến trường này đâu. Họ làm ngơ trước những lời báo cáo. Đến bây giờ Minh mới hiểu tại sao đơn vị địa phương quân lại bỏ căn cứ. Và tại sao đơn vị Minh lại được lệnh về đây để đóng đồn. Không ai có thể sống mãi trong tình trạng cực kỳ căng thẳng và tuyệt vọng như thế này mãi. Dù quá mệt, mắt muốn chụp xuống, nhưng Minh vẫn không thể nào ngủ được. Tiếng động càng lúc càng rõ, càng dội về. Giả dụ đêm nay địch tấn công căn cứ thì sao. Dĩ nhiên là phải xin bắn trái sáng, phi pháo nổ chụp. Còn khuya. Thằng bạn thuộc tiểu đoàn pháo binh cho biết tiêu chuẩn mỗi ngày từ 8 quả nay xuống 6 quả. Minh nhìn lên bầu trời đầy sao. Minh mong đêm cho mau hết. Có tiếng gọi đổi phiên gác. Bóng người lính gác lờ mờ in trên giao thông hào. Một vì sao rụng, bay xẹt ngang bầu trời. Một ngày trôi qua yên tĩnh. Ngày thứ hai, Minh được tin từ trên cho biết đám lính Thượng sẽ làm phản, nội ứng. Các sĩ quan họp lại. Không ai đều tin chuyện này xảy ra. Riêng Minh biết rõ họ trong những năm anh chỉ huy từ chức toán trưởng đến chức trung đội trưởng. Họ là những người lính rất thuần hậu và đầy tinh thần trách nhiệm. Họ không bao giờ tìm cách trốn tránh hành quân hay kích gác cẩu thả. Họ cũng không hề ba gai anh chị như một ít người lính Kinh. Khi đụng trận xong, họ hay chạy đầu, lật xác tìm chiến lợi phẩm. Tuy vậy, phòng ngừa vẫn là cách tốt nhất. Thẩm quyền bí mật phân tán họ ra khắp các trung đội, cố chia cách họ được chừng nào hay chừng nấy, nhất là trong đêm nằm tiền đồn.

Ngày đóng đồn cũng nhàn nhã. Chỉ cực nhất là ban đêm. Còn ban ngày, mấy thằng lính chùi súng ống hay xuống dòng sông Ban Đông liệng cá hay xuống chợ ngồi trong túp quán bên đường nhìn con gái đàn bà Thượng. Trong nỗi hiu quạnh của tiền đồn heo hút, những người lính thỉnh thoảng tụm năm tụm ba dạo đàn hát hò. Trong đơn vị, có Thành, Tánh, Minh là những tay nghệ sĩ còn chuyên nghiệp hơn cả những tay nghệ sĩ phòng Tâm Lý Chiến. Tiếng hát làm cả bọn phải nín thở, đưa họ về những vùng trời cũ – mà họ đã bỏ lại đằng sau, hay chưa bao giờ bắt gặp – giúp họ quên đi hiện tại đang rình rập đe doạ xung quanh. Ngày sương mù che phủ cả núi rừng, làm đôi lần mắt Minh phải mờ đi, lòng chao lạnh. Ai đưa ta đến chốn này. Cứ núi cứ rừng cứ buông cứ bản. Nơi xa, em thì vàng võ đợi chờ. Cha mẹ thì ngày đêm đốt nhang cầu nguyện. Đã bao lần vào sinh ra tử. Cái chết chạm đến nhàm rốt cùng lòng Minh cũng dửng dưng. Chỉ sợ, là những người còn lại. Phải chi con người sống như cây cỏ cầm thú, thì đỡ khổ cho hắn biết mấy.

Ngày 9 tháng 3 1975.

Lệnh đơn vị phải rút về Ban Mê Thuột. Đức Lập đang bị áp lực nặng. Con đường 14 đã bị cắt. Quảng Đức đang nguy ngập. Bây giờ, đơn vị lại bỏ trống Ban Đông. Dù sao đi nữa, cả bọn cũng vui mừng. Không ai cần thắc mắc về những tin tức bi quan xảy ra xung quanh họ. Chuyện ấy là chuyện của Dinh Độc Lập, Quân Đoàn. Bởi nhiều người lính trong đơn vị đều có thân nhân ở Ban Mê Thuột. Riêng Minh thì nhớ đến Liên. Đi đâu, thành phố này vẫn là mái nhà cuối cùng. Ở đó, mỗi lần Minh trở về, Liên dọn cho Minh những bữa cơm còn nghi ngút khói, cho Minh những lần làm tình cuồng bạo, và sau đó, là Minh lại ra đi, tiếp tục lao vào cõi sống chết. Đi đâu cũng nhớ đến những con đường đầy bùn đỏ, những vách tường màu đỏ kịt, quán cà phê và tiếng nhạc và đầy ngập khói thuốc.

Đi đâu cũng nhớ lại một đêm lành lạnh bình an trong thành phố mà sao hình như càng thấp hơn, càng long lanh hơn, mà ngày như nắng đầy bụi, và mưa như làm đất trở nên nhảo nhẹt bám cứng đế giày. Ban Mê Thuột. Minh đã đi nhiều, nhưng chỉ có Ban Mê thuột bắt Minh phải nhớ. Như những cánh rừng cao su và cà phê, đến nỗi vào mùa hoa cà phê nở, cả một thị trấn như ngào ngạt hương hoa. Trong thành phố, những hàng cây muồng hoa vàng rực bên cạnh giáng hương, trâm, bông li ti trắng, cùng những vườn bông sứ hoang dại như làm thành phố chìm vào trong nỗi man dại ngây ngất…

Dù được lệnh rút về Ban Mê Thuột nhưng phương tiện chờ hoài vẫn không thấy. Trong khi các đơn vị địa phương quân đã được các đoàn xe GMC tới bốc từ lâu. Thẩm quyền Minh năn nỉ đến ráo nước bọt mới được quân khu cho một chiếc chinook già nua cũ mèm vào lúc bốn giờ chiều.

Đại đội phải chia làm hai nhóm để được chở đi vì chỉ có mỗi một chiếc duy nhất. Minh theo đoàn sau. Con tàu oằn mình như mang gánh quá sức nặng, đến nỗi một nửa thân tàu phải nghiêng hẳn xuống như mất cả thăng bằng mặc dù hai cánh quạt đang cố quay tít. Cả bọn ngồi trên sàn. Kính từ những khung cửa đã bị bể hoàn toàn, khiến gió thốc vào no nê. Cơn nắng oi nồng vẫn còn chói chan trong thinh không. Phương Tây vẫn yên tĩnh. Giã từ mười ngày tại Ban Đông vô sự. Giã từ những đêm căng thẳng và những ngày nhìn xuống phía rừng già, để dự cảm về một điềm gỡ sắp xảy đến. Giã từ một tuần lể xuống chợ nhìn con gái Thượng ngực trần và ngồi quán cóc trong chợ. Giã từ để tiếp tục bước vào một chuyến đi tăng phái khác. Nghề của trinh sát là phải vậy. Cứ chỗ nào khó, cần là bốc trinh sát, là bắt trinh sát dẫn đầu. Như hôm nay. Về Ban Mê Thuột để hướng dẫn một tiểu đoàn trừ (-) của trung đoàn 53 lên giải tỏa Đức Lập. Tần số bắt đầu đổi sang hàng ngang. Trung đoàn. Sư đoàn. Quân khu. Rồi chiếc Chinook đáp xuống phi trường ở cây số 3. Đoàn xe đã đậu sẵn. Tin lại cho biết Đức Lập đã mất. Miễn đi. Đại đội được lệnh về hậu cứ của trung đoàn 53. Quân trú phòng trong hậu cứ quá đông, Trung đoàn trưởng cho ra nằm ở phi trường Phụng Dực, cách hậu cứ khoảng 3, 4 trăm mét. Lúc ấy gần tối. Không ai biết một mảy may gì về tình hình. Lính tráng bỏ đơn vị đón xe về thăm thân nhân. Đám sĩ quan ngồi chung xe zeep chạy về thành phố lúc màn đêm buông xuống. Thị xã vẫn yên tĩnh. Nhạc từ rạp hát vẫn vọng trong thinh không. Những ngọn điện đường vẫn mờ nhạt. Đây là ngã Năm. Bên kia là rạp chiếu bóng. Phía góc đường dẫn về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB là câu lạc bộ sĩ quan. Đối diện là ngôi nhà thờ đá. Và con đường mờ tối như dẫn vào một cõi bình an, một bến tàu chờ đợi những con người vừa trải qua những thềm địa ngục. Có người con gái chờ đợi Minh trong căn nhà trọ giữa vườn hoa sứ. Có quán cà phê, ngồi cùng bạn hữu đốt những sợi khói tình si. Có những chai bia, chai rượu nồng nàn, hay những con mèo đêm mắt hồ ly luân lạc từ đâu lại. Không ai biết đến những gì sẽ xảy đến. Bởi tất cả thị xã vẫn yên tĩnh lạ lùng. Minh kêu xe dừng lại ở trước nhà Liên. Đêm nay nếu đơn vị không cấm trại, Minh sẽ xin phép thẩm quyền ở lại cùng nàng. Mà thẩm quyền thông cảm. Anh ta nói: “Thôi mày ở lại đi. Có gì tao cho tài xế tới bốc”. Minh nói là anh muốn đi uống cà phê, lâu lắm không nếm mùi cà phê Ban Mê Thuột. Trong nhà Liên ríu ra ríu rít. Mà nàng ngạc nhiên thật. Đôi mắt nàng mở lớn. Minh muốn ôm nàng, ôm siết và hôn lên đôi môi mọng đỏ. Cả thân thể nhỏ bé thon mềm kia là của Minh, nhưng Minh cứ muốn khám phá thêm, tìm tòi thêm. Bên trong da thịt kia là con tim vô cùng rực lửa, tha thiết, dâng hiến trọn vẹn nhất, đầy đủ nhất, dữ dội nhất.

Minh đã không ngờ lại gặp Liên tại thị xã này. Định mệnh hay chăng. Khi mà trên tấm poncho ở bên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, hai người cùng ôm nhau quằn quại dưới cơn mưa như thác, khi mà cả quần áo của nàng ướt dầm dề, lồ lộ da thịt đỏ hồng, khi mà miệng này ngoạm vào miệng kia, tiếng thở hổn hển trong ngày cuối cùng, để Minh coi đó như là dư vị kỷ niệm để nhớ lại một lần. Rõ ràng ngày ấy người con gái Sài Gòn đã không đòi hỏi gì ở Minh. Nàng cho anh dù biết rằng ngày mai, anh sẽ quên nàng. Vâng, Minh biết mình quá tàn nhẫn. Chiến tranh quá cuồng bạo, kinh hoàng, không còn cảnh anh qua đồi sim viết thư về em gái hậu phương. Chiến tranh đẩy anh đến no nê cùng máu, nước mắt, làm quen với xác người, mất đầu, mất hạ bộ, dòi bọ lúc nhúc. Chiến tranh làm một người thầy giáo như anh đi vào trong những động giang hồ, chửi thề hơn ai hết, uống rượu đập ly, mắt đỏ ngầu, răng nghiến kèn kẹt trước những thi thể của bạn bè… Chiến tranh làm anh trở nên lì lợm, lạnh lùng. Chiến tranh đẩy anh đi tìm cái sống trong cái chết và cái giá trị ghê gớm của cái sống. Chiến tranh làm anh chẳng cần hối hận khi bỏ Liên, hay những người con gái khác. Nhưng Liên thì không. Liên không vô tâm như anh. Liên không quên mối tình đầu quá sức nồng nhiệt. Nàng sẽ theo anh. Theo hoài. Chẳng thắc mắc, tính toán, so đo. Nàng sẽ đến góc bể chân trời để gặp một người đã phá nổ cõi xuân thì của nàng, để lại những vết sướt đầu đời.

Vì thế khi tốt nghiệp lớp cán sự xã hội, nàng đã chọn Ban Mê Thuột. Nàng lại gặp người tình cũ. Và căn phòng thuê của nàng như một mái ấm cho mỗi lần Minh về phép hay dưỡng quân. Lần này cũng vậy. Đã hơn một tuần xa cách, quá lâu. Liên nghĩ đến đêm nay, lòng lại dâng lên niềm rạo rực. Má nàng au hồng. Nàng nói với Minh, anh nhớ về sớm nhé. Ở nhà em nấu cơm. Anh kêu các bạn anh nói về cùng ăn cơm chung nhé.

Chín giờ đêm, xe quân cảnh chạy khắp nơi trong thị xã, lục lạo đám lính đang ngồi trong các quán hay trong động giang hồ bắt phải về đơn vị khẩn cấp. Họ gặp đám sĩ quan của đại đội trong quán cà phê. Họ chào tay và cho biết lệnh báo động đỏ đã ban khắp thị xã. Địch chỉ cách Ban Mê Thuột không bao xa, có thể tấn công thành phố bất cứ lúc nào. Đám sĩ quan lên xe phóng về sân bay Phụng Dực. Những chiếc xe dân sự, hay nhà binh cũng gấp rút hối hả không kém. Đám lính súng ống đội nón sắt ngồi trên xe. Xuất chiếu bóng đã mãn, thành phố ngạt thở. Minh không còn đủ tâm trí để nghĩ về buổi cơm tối mà người yêu đã chờ đợi anh. Tin tức lại cho hay địch chỉ cách thị xã hai cây số. Điều mà Minh dự cảm đã đến. Đức Lập đã mất hồi trưa hôm qua. Bây giờ, là thành phố này đang báo động đỏ. Trong bóng tối, thẩm quyền bật đèn pin lên bản đồ, chấm tọa độ, và chia trách nhiệm cho từng trung đội. Những ngọn đèn từ hậu cứ trung đoàn mờ nhạt phía sau. Có tin ta đã bắt được một sĩ quan pháo của địch khi hắn ta tìm cách xâm nhập vào thị xã để điều nghiên các cứ điểm. Như vậy rõ ràng là phe Bắc quân đang mở trận đánh lớn vào thị xã. Sĩ quan không dám cho lính biết, sợ hàng ngũ hoang mang giao động. Truyền tin được lệnh chuyển tần số hàng ngang, có thể liên lạc với máy bay từ duới Nha Trang bao vùng. Minh đốt từ điếu thuốc này sang điếu thuốc khác. Những người sĩ quan trong đại đội cũng vậy. Mấy tháng trời anh đã báo cáo, bạn bè anh đã báo cáo, có người đã chết, có người đã bị tàn phế, cũng vì những bản tin này, nhưng rốt cùng, mọi sự đến phải đến. Đến một cách thật dửng dưng. Không ai có thể ngờ cả một binh đoàn đông như vậy lại cách thị xã hai cây số. Quân không còn nữa để mà giữ. Đồn thì bỏ chạy trước tiên. Trung đoàn 44, 45 thì tản rộng khắp nơi. Liên đoàn Biệt Động quân thì không thấy đâu. Khắp nơi nằm yên, bó tay, thụ động. Ngay cả ở thị xã này, chỉ có những khẩu 105 ly so với những khẩu trọng pháo 130 ly của địch. Và địch cứ thế mà vào, càng ngày càng sát thị xã. Chẳng những người mà còn cả hàng đoàn xe tăng. Trách nhiệm này là trách nhiệm của ai. Hay là đã đến một thời mà nơi này ngập biển máu như lời người đạo sĩ dạo nào xuất hiện giữa thành phố đã rao truyền. Minh đã viết một bài đăng trên báo Sài Gòn kể về người đạo sĩ cuồng điên múa kiếm giữa đám dân thị xã hiếu kỳ cách đây đã lâu. Ông ta khóc ròng: “Thương thay, thương thay chúng sinh tội nghiệp. Đây là nơi mà máu là biển, máu ngập tràn. Thương thay !!!” để cuối cùng ông ta bị thầy cảnh sát xua đi vì lưu thông công cộng. Có phải cái ngày này đã đến rồi chăng.

Trong bóng đêm ngạt thở, những bóng người ẩn hiện trên sân phi đạo. Mọi sự vẫn bình thường. miền Nam này không thể bỏ mất Ban mê Thuột được. Phải giữ nó. Tiếng nói nào quá vô hình nhưng quá vũ bão thúc giục anh, và có lẽ thúc dục tất cả những người lính trong đơn vị. Sớm hay muộn, quân tiếp viện sẽ đến. Biệt Động Quân sẽ vào. Nhảy Dù từ dưới duyên hải sẽ lên. Bằng mọi giá phải cố mà giữ. Ban Mê Thuột không thể nào mất được.

Minh được lệnh cho con mình phòng thủ phía Tây Nam cuối phi đạo nhìn ra một buôn Thượng. Trong bóng tối, cả bọn móc đất từ những ụ đất kiên cố, một thời dùng để che chở máy bay. Hai bàn tay móc đến chảy máu, đến muốn tróc móng, để đào những hố ẩn thân từ bên trong ụ. Bề cao ụ quá ba thước, trống trải, không mái che, nhưng chắc chắn có thể che chở được tầm đạn trực xạ, ngay cả tầm đạn chiến xa. Phi trường Phụng Dực là ải đầu tiên để che chở bộ chỉ huy trung đoàn 53 BB, và hậu cứ, cùng trại gia binh trung đoàn. May mắn ở xung quanh phi trường, là bãi đất trống trước khi dẫn đến bìa rừng cao su. Đêm đen tối quá chừng. Rừng cao su ngoài phi trường ngày xưa đối với Minh là cả một khu rừng cổ tích, với những hàng cây song song, lá cành đan nhau như mái vương cung thánh đường, và Liên bỏ dép, chạy chân trần trên rừng lá khô vàng, và tóc nàng bay lướt thướt, rối cả mặt nàng. Và khi Liên quay tròn người như một điệu luân vũ, thì Minh không sao cầm nổi cơn xúc động, anh ôm choàng lấy Liên, đẩy Liên vào thân cây, rồi hôn từ mắt xuống phần thân thể phía dưới…Vâng, Liên, anh đang chuẩn bị đây. Bên anh là dây đạn, lựu đạn, M72, là M60, anh sẽ chiến đấu cho mà xem. Đơn vị anh sẽ cản đầu xe tăng, sẽ đánh cận chiến, sẽ đâm lưỡi lê, sẽ quần thảo tay đôi.. Không thể dễ dàng chơi với bọn trinh sát này được. Quốc Thánh không về phù trợ có nghĩa là Quốc Thánh muốn để những đứa con này ở lại giữ Ban Mê Thuột.

oOo

Vào hai giờ sáng, địch bắt đầu pháo vào thị xã loạn cuồng. Hàng ngàn quả cũng nên. Đạn rớt khắp nơi, không dứt. Nhưng hình như địch quên cứ điểm phi trường. (Minh đoán là tình báo địch chưa phát hiện đơn vị anh, vì giờ chót, đơn vị anh đến nhận phòng tuyến khi trời quá tối). Trong đêm dày, Minh thấy cả một bầu trời đầy những chớp lửa và gào rú tiếng đạn pháo. Hình như bốn bề tám hướng địch đều nhất loạt chĩa bao nhiêu họng pháo về thị xã và Bộ chỉ huy trung đoàn. Thỉnh thoảng một vài đám cháy bốc ngọn rực sáng trong đêm. Minh nhớ đến Liên. Nhớ và cầu nguyện cho nàng. Mới cách đây vài tiếng đồng hồ là sự bình an, là giấc mơ, là nũng nịu, là vòng tay ân tình, là cà phê ở quán đường Hai Bà Trưng, là tiếng nhạc, thì bây giờ tất cả chìm đắm trong biển lửa. Minh không tưởng tượng là mọi sự lại xảy ra đến độ sửng sờ như thế. Cường độ pháo dường như tăng chớ không giảm. Chắc là một cuộc tấn công vào thị xã. Trong máy truyền tin, hỗn loạn muôn ngàn âm thanh, của ta, của địch, của lời cầu cứu hay của men say chiến thắng, của tiếng pháo, cả tiếng nổ dòn dã của tiểu, đại liên… Rồi Minh thấy từ phía trong hậu cứ trung đoàn muôn ngàn tia đạn bắn ra đan kết với muôn ngàn tia đạn lửa từ ngoài bắn vào, như cả một buổi hoa đăng cuồng loạn của sa tăng quỉ sứ. Minh biết là địch đã bắt đầu tấn công. Có điều địch vẫn chưa biết có một đại đội trinh sát đang nằm cách hậu cứ một khu rừng cao su nhỏ này. Địch đã từ hướng Đông Nam, Đông Bắc chọc thẳng vào phòng tuyến trung đoàn vào lúc 5 giờ sáng. 7 giờ sáng đơn vị địch bị những quả đạn pháo rót xuống đầu, cũng như sức phản ứng quá mạnh của quân phòng thủ nên rút dạt về hướng phi trường. Cả một đại đội chờ sẵn, và bắn, bắn, bắn. Lần đầu tiên Minh mới thấy trước mắt anh hàng hàng lớp lớp địch quân nằm chết la liệt trên bãi đất trống. Tay anh bóp cò điên cuồng. Anh say máu. Những tên địch ngơ ngác dường như không biết phải ẩn ở chỗ nào, sau đó té nhào, văng khẩu súng. Anh không còn bình tĩnh nữa. Họ chết nhiều quá. Có lẽ tại họ khinh địch. Trong khi lửa vẫn cháy ở trong thị xã. Và đạn vẫn ầm ầm vang dậy bốn bề. Trong máy, tin cho biết, địch đã chiếm một số cứ điểm trong thị xã. Nhưng ở nơi này, là xác địch nằm la liệt, trong bộ quân phục mới cắt chỉ. Đơn vị Minh tịch thu đến 5 khẩu SA7, và cả rừng súng, và bắt sống 3 tù binh. Riêng Minh cũng lấy được một cuốn nhật ký và một cây viết máy hiệu Hồng Hà từ một C trưởng (đại đội trưởng) thuộc K5 SĐ 316. Lật trang đầu, anh muốn khóc. Có ảnh của một người vợ và đứa con dán ở trang đầu.

Chiến thắng đầu tiên đã làm nức lòng những đứa con trinh sát hơn bao giờ hết. Số súng và tù binh được lệnh mang về Bộ Chỉ Huy trung đoàn 53BB.

oOo

Như vậy, ngày N, khởi đầu cho một thành phố bị hiếp đồng loạt và man rợ. Xe tăng ào vào từ khắp nơi. Địch quân, sư đoàn này đến sư đoàn khác tiến vào thị xã như vào chỗ không người. Thành phố trống trơn bỏ ngõ như người đàn bà trần truồng bị vồ dập từ tứ phía. Từ phi trường, bọn anh đã nghe, thấy, và hiểu từng giờ, từng phút cơn hấp hối của một con bệnh. Đêm cũng như ngày, những đứa con bộ binh, ngầy ngật cùng những đêm trắng mắt, những nỗi căng thẳng tột cùng giữa các ụ máy bay. Đêm cũng như ngày, đơn vị đã chịu đựng hết những quả cối, hay đạn 130 ly, hay 57 ly từ xe tăng, đến từng đợt tấn công từ các đơn vị đặc công hay tùng thiết, để giữ vững phòng tuyến trách nhiệm…Đêm cũng như ngày, Đêm cũng như ngày, không còn gì để mà suy nghĩ nữa. Mắt ráo hoảnh. Không còn sức để chịu đựng nhưng vẫn phải chịu đựng. Đêm chớp lửa. Đêm bạo cuồng. Đêm lóe sáng khắp thị xã. Và ngày, địch lại đưa đơn vị này tấn công, rồi thảm bại, rồi đưa đơn vị khác tiếp tục. Đặc công của 316 lui đến 320 rồi đến tăng. May mà có những hàng cây cao su để bọn anh còn nhào ra cận chiến, lách bên này, núp bên kia, chụp, vật, lấy súng, lấy đạn, lấy lương khô. May mà có hai khẩu M60 đặt từ trên cao điểm, và trung sĩ nhất Sữu bóp cò và ba người lao công chiến trường phục hồi lại cấp bậc ngay tại chỗ để trở thành ba cây súng mới. May mà cả bọn có ụ cản như những pháo đài kiên cố để cản lại trăm ngàn quả đạn. May mà máy vẫn còn liên lạc được với bộ chỉ huy trung đoàn, quân khu và cả máy bay từ dưới Nha Trang lên để bọn anh còn hy vọng là quân tiếp viện sẽ đến giải cứu kịp thời. Lữ đoàn Dù từ dưới Khánh Dương sắp được bốc. Biệt động quân sẽ được đổ xuống. Và trung đoàn 44, 45 sẽ có mặt…

Tăng địch vẫn tiếp tục theo hướng Đông Bắc, từ rừng cao su tấn công thẳng vào bộ chỉ huy trung đoàn. Và bọn anh ở ngoài có nhiệm vụ giúp điều chỉnh pháo binh rót những quả 105 ly vào ngay đội ngũ địch. Và đã bảy ngày, từng giây từng phút. Không thể tưởng tượng là đại đội đã chiến đấu trong những điều kiện cô đơn đến độ ghê gớm như thế. Phi đạo vẫn còn đó. Bể nước cao vời vợi vẫn còn đó. Bộ chỉ huy của trung đoàn vẫn còn đó. Còn đó, như cái xác của trung sĩ nhất Sữu bị banh ra tơi tả cùng với khẩu đại liên M.60 khi quả đạn 57 ly từ tăng bắn trực xạ vào anh ta. Nửa xác của anh bị bắn lên không, nhìn từ xa thấy rõ những mảnh thịt tung tóe như xác pháo. Còn đó, để hai mẹ con người đàn bà vào trưa ngày 14 Tây tháng ba – 4 ngày sau trận đánh mở màn – bỗng nhiên xuất hiện trên bãi đất trống. Trời ơi, đừng tới nữa chị. Nơi này đâu phải là cái bến để mẹ con chị tìm đến mà nương nhờ. Nơi này là cõi địa ngục mà. Hãy tìm chỗ khác. Bọn anh đã xô đuổi hai mẹ con họ giữa lúc họ rất cần bọn anh. Không. Đôi mắt chị sợ hãi và tuyệt vọng. Và chị lại dẫn đứa con chị rời khỏi phi trường, trở lại phía con đường nhựa. Rồi trái pháo chụp xuống. Không còn thấy bóng họ nữa.

Còn đó, bởi vì vào trinh sát là không thể để địch túm cổ được. Một vài người bạn sa cơ của họ trước đây đã bị móc mắt, xẻo mũi. Vâng, mắt để nhìn, mũi để ngữi, để đánh hơi bọn ông, bây giờ bọn ông sẽ dạy cho con bài học. Mọi giá phải chơi lại. Không còn cách nào hơn. Minh đã chuẩn bị một trái lựu đạn cuối cùng. Và những người lính kia cũng vậy. Có mệnh hệ gì thì mở chốt đồng loạt và chết đồng loạt. Trinh sát là phải vậy. Chính cái điều lựa chọn dứt khoát này đã là sức mạnh ghê gớm để cả đại đội còn có mặt trong cơn đại hồng thủy. Lửa và chất nổ như cháy cả buồng tim, để những người lính không còn hãi sợ, để Minh, dù là thiếu úy, phải phạt người thiếu úy trung đội phó cầm lựu đạn mà chạy đầu khi toán của hắn không chịu dàn hàng ngang xung phong vào bìa rừng, mà ở đằng sau bắn tới vào ngày 12 tháng 3. Vì anh có thâm niên quân vụ hơn. Lúc này, ông thần chính là kỷ luật. Lúc này, thằng nào yếu mềm là phạt mang lựu đạn ra nằm ngoài bìa rừng. Lúc này, kêu chạy phải chạy, xung phong là xung phong, mang mìn gài chiến xa cách phòng tuyến cả trăm thước, phải tuân lệnh. Lúc này, nằm tận trong bìa rừng làm tiền đồn phải nằm. Không nghe, bắn. Lúc này chỉ biết càng bắn, càng đâm, càng tung lựu đạn, càng hả hê cuồng sát, càng hả hê khi thấy những người lính đối phương thét la vang dội, Bác ơi, bố mẹ ơi. Như tiếng thét kinh hoàng của người lính trẻ Bắc quân trước khi hắn chết. Hắn không quen đánh trong rừng cao su. Hắn như con nai, thay vì chạy về phía sau cùng hàng ngũ, hắn chạy về phía trước. Và phụp. Máu vọt thành vòi, bắn lên gương mặt của hạ sĩ nhất Đặng. Lúc này không còn thắc mắc, bận tâm, lương tâm, nhân bản. Lúc này không còn cảnh bắt tù binh mang về bản doanh trung đoàn như trong lần thử chiến đầu tiên cùng K5 thuộc 316 nữa. Mà không thể mang được. Trong khi xung quanh thiên binh vạn mã trùng điệp vây quanh tìm cách giết đám con chiu chắt….

Trần Hoài Thư

Click to expand image to full size (171.11 Kb)
Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s