Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt và Tiểu đoàn 42/BĐQ Cọp 3 Đầu Rằn (KBC 4533)

Cố Trung tá Lưu Trọng Kiệt giã từ quân đội, giã từ binh chủng quá mau, quá đột ngột và quá trẻ. Chỉ từ năm 1960 cho tới năm 1967, ông đã từ một chuẩn úy, toàn đặc cách tại mặt trận tới cấp bực thiếu tá, và rồi cố trung tá, ở tuổi 30.
Cố Trung tá Lưu Trọng Kiệt xuất thân khóa 7 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau khi tốt nghiệp cuối năm 1959, ông được đưa về phục vụ tại Đại đội 21 Trinh sát của Sư đoàn 21/BB.
Tới năm 1966, ông nhận chức tiểu đoàn trưởng Tỉểu đoàn 42/BĐQ.
Chỉ trong vòng 14 tháng, 3 lần ông được đặc cách thăng cấp tại mặt trận:
–       Từ thiếu úy thăng trung úy: 3 tháng
–       Từ trung úy thăng đại úy: 5 tháng
–       Từ đại úy thăng thiếu tá: 6 tháng
Ông tử trận ngày 8 tháng 12 năm 1967 tại Vị Thanh khi tham dự cuộc hành quân Dân Chí của Sư đoàn 21/BB. Khi nói tới cố Trung tá Lưu Trọng Kiệt, chúng ta phải nói tới cá nhân của ông, nói tới Sư đoàn 21/BB và đặc biệt là nói tới Tiểu đoàn 42/BĐQ.
***
Lưu Trọng Kiệt quê quán ở Cần Thơ. Cha ông mở tiệm hớt tóc lấy tên là Nghệ Sĩ để sinh sống. Ông Kiệt có dáng người thư sinh trắng trẻo nhưng lại ham mê võ thuật từ thủa nhỏ. Thời còn học tại trường trung học Phan Thanh Giản, ông đã là Nhu đạo đệ tam đẳng huyền đai và mở trường dạy về môn võ Judo đầu tiên ở Cần Thơ.
Năm 1959, miền Nam Việt Nam vẫn còn thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp. Thời gian này, người trai trẻ họ Lưu vẫn có thể ung dung học xong trung học, lên đại học… Nhưng Lưu Trọng Kiệt đã chọn cho mình con đường binh nghiệp. Học xong trung học, ông tình nguyện gia nhập quân đội, thụ huấn khóa 7 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Sư đoàn 21/BB

Sau khi tốt nghiệp, ông được đưa về phục vụ tại Đại đội 21 Trinh sát của Sư đoàn 21, một trong những sư đoàn Bộ binh nổi tiếng của Vùng IV Chiến thuật. Để lấy tin tức tình báo và thi hành những cuộc hành quân lục soát, dọ thám và đột kích, sư đoàn có một đơn vị rất ưu tú, đó là Đại đội 21 Trinh sát với những sĩ quan chỉ huy và binh sĩ nhiều kinh nghiệm chiến trường.
Đụng những trận đầu tiên, Chuẩn úy Kiệt đã chứng tỏ khả năng của mình. Trong một cuộc hành quân ở Trà Vinh, ông được vinh thăng thiếu úy, nhưng cũng bị thương ở chân, phài đưa về bệnh viện điều trị và dưỡng thương. Tư lệnh Sư đoàn 21 lúc đó là tướng Trần Thiện Khiêm, đã biết tới khả năng muốn đưa ông về làm tùy viên, nhưng ông xin được ở lại với Thám báo.
Sau khi rời bệnh viện, ông được đưa vào toán huấn luyện của sư đoàn, đi huấn luyện cho cho Địa phương quân của Biệt khu Hải Yến, Cà Mau. Biệt khu này do Đại tá tuyên úy Công giáo Phan Lạc Hóa (tên Trung Hoa đổi qua tên Việt Nam) của tướng Tưởng Giới Thạch. Sau trận chiến với Mao Trạch Đông năm 1949, quân của Tưởng Giới Thạch bị thua, di tản đi khắp nơi, ông tuyên úy đem quân lính và dân tới Cà Mau và được chính quyền Việt Nam cho sinh sống tại đây và trao cho họ nhiệm vụ bảo vệ dân và tiêu diệt bọn Việt Cộng nằm vùng.
Lành vết thương, Thiếu úy Kiệt trở lại với Đại đội Thám báo của Sư đoàn 21.
Với khả năng thiên phú về quân sự, nhạy bén, lanh lẹ và can đảm, chỉ trong vòng 3 tháng, ông Kiệt đã từ thiếu úy vinh thăng lên trung úy. 5 tháng sau, ông lại được đặc cách đại úy.
Vào ngày 1 tháng 7 năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký nghị định thành lập binh chủng Biệt động quân. Đó là những đại đội biệt lập, chuyên môn dùng chiến thuật phản du kích để chống lại chiến thuật du kích của Việt Cộng.
Trong giai đoạn mới thành lập này, một số lớn những quân nhân xuất sắc nhất ở các đơn vị Bộ binh được chuyển về phục vụ trong binh chủng Biệt động quân.
Đầu năm 1964, do nhu cầu chiến trường, các đại đội Biệt động quân biệt lập đã được tổ chức thành tiểu đoàn.
Tới năm 1967, các tiểu đoàn Biệt động quân được hợp lại để thành lập các liên đoàn tại các vùng chiến thuật. Tiểu đoàn 42/BĐQ trở thành đơn vị cơ hữu của Liên đoàn 4/BĐQ.

Tiểu đoàn 42/BĐQ

Được chính thức thành lập vào năm 1964 và được đặt thuộc quyền điều động của Bộ tư lệnh Sư đoàn 21/BB. Đại úy Nguyễn văn Biết được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng đầu tiên. Một thời gian sau, Thiếu tá Biết được chỉ định nhận nhiệm vụ mới, trao lại tiểu đoàn cho Đại úy Nguyễn Tấn Giai. Cuối cùng Đại úy Lưu Trọng Kiệt trở thành vị tiểu đoàn trưởng thứ 3 của Tiểu đoàn 42/BĐQ.
Tiểu đoàn 42/BĐQ trong thời gian đầu được tăng phái cho Sư đoàn 21/BB, đã tham dự hầu hết các cuộc hành quân Dân Chí do sư đoàn tổ chức, tại các địa danh thuộc Khu 42 Chiến thuật như:
–       Kinh Thác Lác, Phụng Hiệp, Bún Tàu v.v… (thuộc tỉnh Cần Thơ)
–       Đầm Dơi, Thới Bình, Khai Quang, Biện Nhị, Năm Căn, Bờ Đập (thuộc tỉnh Cà Mau)
–       Rạch Sỏi, Đầm Răng, Đầm Rầy, Cán Gáo v.v… (thuộc tỉnh Rạch Giá)
–       Hỏa Lựu, Hưng Long, Long Mỹ, Ngọc Hòa v.v… (thuộc tỉnh Chương Thiện)
Khi đi hành quân thì như vũ bão, nhưng mỗi khi trở về hậu cứ, Thiếu tá Kiệt hiền khô như một bạch diện thư sinh. Ông ít khi uống rượu, thương lính, lo săn sóc cho những người lính bị thương, lo cho đời sống vợ con lính trong trại gia binh. Chưa bao giờ thấy ông nổi giận với lính, nhất là không bao giờ gọi lính của mình là thằng.
Một lần hành quân về, ông và một người bạn lái xe ra bến Ninh Kiều uống… sinh tố. Bất chợt có một quân nhân mặc quân phục Biệt động quân bước vào quán, cử chỉ kiêu căng, hống hách, nói chuyện ba hoa, tự khoe mình là lính Tiểu đoàn 42/BĐQ. Thiếu tá Kiệt nhìn mãi không ra người lính này thuộc đại đội nào, trung đội nào. Ông cho người trung sĩ tài xế ra hỏi người quân nhân đó, xem anh ta thuộc đơn vị nào. Té ra anh ta là lính Địa phương quân, thấy mọi người nể trọng lính Cọp Ba Đầu Rằn nên mới giả dạng mặc đồ bông hù bà con. Thay vì đưa người lính này về Quân cảnh, Thiếu tá Kiệt chỉ cảnh cáo anh ta và bắt cởi áo ra mà thôi.
Giống như vị tiểu đoàn trưởng của mình, những người lính Tiểu đoàn 42/BĐQ được dân chúng thương mến là vì họ không phá làng phá xóm mỗi khi hành quân trở về.
Khi đi hành quân, tiểu đoàn thuờng chia làm hai cánh: một cánh do tỉểu đoàn phó Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy, cánh kia do chính tiểu đoàn trưởng Lưu Trọng Kiệt chỉ huy. Hai cánh quân thường đổ bộ cùng một lúc ở hai địa điểm khác nhau, rồi cùng lặng lẽ tiến tới mục tiêu. Khi tấn công, cả hai cánh quân đồng loạt xung phong hoặc là một cánh xung phong, cánh kia phục kích ở nơi bọn Việt Cộng tan hàng chạy ra để “thu dọn”
Tiểu đoàn 42/BĐQ đã trở thành hung thần của Việt Cộng. Tiểu đoàn 42/BĐQ đội nón sắt có vẽ hình con cọp đen trên nền ngôi sao trắng, chung quanh vẽ rằn ri mầu nâu, đen, xanh lá mạ, nên bọn Việt Cộng đã kiêng nể mà đặt tên cho tiểu đoàn này là Cọp Ba Đầu Rằn.
Hễ đụng trận, hễ thấy bên lính Cộng hòa thấp thoáng có nón sắt Cọp Ba Đầu Rằn là bọn Việt Cộng cuống cuồng bỏ chạy, làm cho lính 42/BĐQ không có địch mà đánh. Do đó, vào khoảng đầu năm 1967, Chuẩn tướng Đặng văn Quang, tư lệnh Quân đoàn IV đã ra lệnh Tiểu đoàn 42/BĐQ phải sơn lại nón sắt trở lại bình thường như các đơn vị Bộ binh khác.

Trận chiến cuối cùng của cố Trung tá Kiệt

Tiểu đoàn 42/BĐQ tham dự chiến dịch Dân Chí 179 do Sư đoàn 21/BB điều động, với nhiệm vụ hành quân càn quét, tiêu diệt địch. Tiểu đoàn đã đụng độ với Trung đoàn D2 với Tiểu đoàn chủ lực cơ động Tây Đô của Việt Cộng trên bờ kinh Thác Lác thuộc tỉnh Chương Thiện.
Theo lời kể của Thiếu tá Đoàn Anh Cường, tỉểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/31, trận chiến xẩy ra như sau:
Cả Sư đoàn 21/BB và 2 Tiểu đoàn 42, 44/BĐQ cùng tham dự trận đánh này. Thiếu tá Lê văn Hưng, quyền trung đoàn trưởng 31 ra lệnh:
–       Tỉểu đoàn 42 và 44/BĐQ đổ quân tấn công phía bắc của kinh Thác Lác,
–       Tiểu đoàn 3/31 và 2/31 đổ quân tấn công phía nam kinh Thác Lác,
–       Tiểu đoàn 1/31 tiếp ứng tại phi trường Chương Thiện cùng với 10 trực thăng.
Mới đầu, tin tình báo là chỉ có Trung đoàn D2 Việt Cộng mà thôi, nhưng khi đụng trận, phòng không của bọn Việt Cộng bắn ra rất dữ dội, Thiếu tá Kiệt cho toán thám sát đi dò tin tức, mới biết là không phải chỉ có D2 mà còn có thêm cả Trung đoàn D1 và 1 tiểu đoàn phòng không của địch nữa. Toán thám sát bị vây cứng, không sao rút lui được. Thiếu tá Kiệt cho toàn bộ tiểu đoàn đánh cứu bồ. Tiểu đoàn 44/BĐQ do Đại úy Lượng chỉ huy cũng tấn công cùng một lúc, nhưng không làm sao đẩy lui bọn Việt Cộng được. Cánh quân phía nam tiến đánh, cũng bị khựng lại.
Chuẩn tướng Nguyễn văn Minh, tư lệnh Sư đoản 21/BB, muốn xin B-52 yểm trợ, nhưng Thiếu tá Hưng không đồng ý, vì quân ta và quân địch quá gần nhau.
Thiếu tá Hưng đang bay trên trực thăng, nóng lòng vì thế trận không thuận lợi, đã yêu cầu phi công đáp ngay xuống mặt trận để ông nhẩy xuống chỉ huy cánh quân phía nam. Trực thăng bay trở về phi trường Chương Thiện đón tướng Minh lên thị sát mặt trận.
Cánh quân phía nam ào lên tấn công như vũ bão, đẩy dồn bọn Việt Cộng về phía bắc. Cộng quân bị dồn vào chân tường, tuyệt vọng đánh trả.
Trận chiến chưa ngã ngũ thì nghe trên máy báo cáo là Thiếu tá Kiệt bị thương ở đầu, cần phải tải thương gấp. Chiến trường đang sôi động, làm sao vị chỉ huy có thể rời bỏ đơn vị cho được? Nhưng máu đã ra quá nhiều, không thể trì hoãn được nữa. Trung úy tiểu đoàn phó Hồ Ngọc Cẩn khẩn khoản yêu cầu trực thăng tải thương ngay, nhưng Thiếu tá Kiệt nhất quyết tấn công xong mới chịu tải thương. Khoảng nửa tiếng sau, Trung úy Cẩn nghẹn ngào báo tin Thiếu tá Kiệt tử trận.
Trung úy Cẩn lên nắm quyền tiểu đoàn trưởng, ra lệnh tiếp tục tấn công.
Phòng tuyến phía bắc của Cộng quân bị tan vỡ, bọn Việt Cộng kéo nhau bỏ chạy tứ tán.
Sau trận đại thắng, quân nhân các cấp đều được thăng cấp. Trung úy Hồ Ngọc Cẩn lên đại úy (trở về Sư đoàn 21), Đại úy Lượng lên thiếu tá. Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt được truy thăng cố trung tá.
Ông được các phóng viên chiến trường vinh danh là 1 trong 5 Ngũ hổ U Minh Thượng:
1)     Thiếu tá Lê văn Hưng, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/31, Sư đoàn 21.
2)     Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42/BĐQ,
3)     Thiếu tá Nguyễn văn Huy, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44/BĐQ
4)     Ðại úy Vương văn Trổ, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/33, Sư đoàn 21
5)     Ðại úy Hồ Ngọc Cẩn, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33, Sư đoàn 21.
***
Được tuyển chọn kỹ lưỡng, được huấn luyện đầy đủ, với kỹ thuật chợt ẩn chợt hiện, đánh nhanh đánh gọn, binh chủng Biệt động quân, từ khi mới được thành lập vào ngày 1 tháng 7, 1960 đã lập được rất nhiều chiến tích, làm kinh sợ kẻ thù.
Trong những tiểu đoàn nổi tiếng của nhất của Biệt động quân, chúng ta phải nói tới:
– Tiểu đoàn 42 Cọp 3 Đầu Rằn với vị tiểu đoàn trưởng lừng danh: Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt.
– Tiểu đoàn 44 Cọp Đen với Thiếu tá Nguyễn văn Dần và huyền thoại “nữ hổ tướng Hồ thị Quế”
– Tiểu đoàn 52 Sấm Sét Miền Đông do Thiếu tá Nguyễn Hiệp làm tiểu đoàn trưởng.
Với tinh thần dũng mãnh, cộng thêm với bộ quân phục mầu áo hoa rừng, chiếc nón sắt sơn rằn ri với đầu con beo đen thui, cặp mắt đỏ rực sáng quắc trên nền ngôi sao trắng toát, đã làm cho người chiến binh Biệt động có một dáng vẻ đáng nể và đáng sợ.
Cũng từ những oai hùng đó, danh xưng “Cọp 3 Đầu Rằn” đã trở thành một cái gì đó huyền thoại!
Bất cứ ai, dù lính hay dân sự, cũng ít ra có một lần nhắc tới hoặc được nghe kể về “Cọp 3 Đầu Rằn”
Thậm chí, mỗi khi nói tới Biệt động quân, đã có nhiều người tưởng rằng, danh xưng “Cọp 3 Đầu Rằn” là dùng chung cho tất cả những chàng trai Biệt động.
“Cọp 3 Đầu Rằn” là cái gì? Ai đặt ra cái danh xưng này? Đặt ra hồi nào? Ở đâu?
“Cọp 3 Đầu Rằn” hay là “Cọp 3 Chân Đầu Rằn” cũng giống nhau, cũng là danh xưng của Tiểu đoàn 42/BĐQ.
***
Binh chủng Biệt động quân được thành lập năm 1960 theo nhu cầu chiến trường lúc bấy giờ. Việt Cộng trong khoảng thời gian này, đã dùng những tên nằm vùng tổ chức những đám du kích để khuấy phá các vùng nông thôn hẻo lánh trên khắp lãnh thổ VNCH. Theo chính sách “dĩ độc trị độc”, Tổng thống Ngô Đình Diệm – dựa theo lời khuyến cáo của các tướng lãnh và những chuyên gia quân sự – đã quyết định thành lập những đơn vị phản du kích được gọi là Biệt động quân.
Hầu hết các vị chỉ huy, các binh sĩ của Biệt động quân đều là những chiến sĩ xuất sắc được tuyển chọn từ những đơn vị thiện chiến. Sau một khóa huấn luyện đặc biệt về du kích chiến ở Trung tâm huấn luyện Biệt động quân, đã được đưa ra phục vụ tại 50 đại đội Biệt động quân biệt lập ở khắp 4 vùng chiến thuật.
Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1964, các đại đội biệt lập này đã hoạt động thật hữu hiệu. Họ đã áp dụng chiến thuật phản du kích để tiêu diệt phần lớn lực lượng du kích của địch, làm cho chúng không còn hoạt động được nữa.
Để chống lại chiến thuật “Biệt động” thần diệu này, vào khoảng đầu năm 1965, Việt Cộng đành phải sát nhập các đơn vị du kích còn lại vào lực lượng địa phương của chúng, tạo thành những đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn, để mong dùng số đông giành lại phần nào những mất mát trước đây.
Biết được âm mưu này, Bộ Tổng tham mưu cũng đã nghiên cứu và quyết định gom những đại đội Biệt động quân biệt lập lại để tổ chức thành các tiểu đoàn, liên đoàn Biệt động quân để đáp ứng lại với nhu cầu gia tăng của chiến trường.
Vào khoảng tháng 2 năm 1966, 4 đại đội Biệt động quân biệt lập sau đây đã được gom lại để thành lập Tiểu đoàn 42/BĐQ (KBC 4533):
– Đại đội 362 Biệt lập được đổi tên thành Đại đội 1/42, do Thiếu úy Vương văn Trổ (khóa 10 Thủ Đức) làm đại đội trưởng.
– Đại đội 315 Biệt lập được đổi tên là Đại đội 2/42, do Thiếu úy Nguyễn Tấn Giai (khóa 2 Nha Trang) làm đại đội trưởng.
– Đại đội 368 Biệt lập được đổi tên là Đại đội 3/42, do Thiếu úy Hồ Viết Lượng (khóa 10 Thủ Đức) làm đại đội trưởng.
– Đại đội 370 Biệt lập được đổi tên là Đại đội 4/42, do Thiếu úy Nguyễn văn Út (khóa 18 Đà Lạt), sau là Thiếu úy Nguyễn văn Huy (khóa 16 Đà Lạt) làm đại đội trưởng.
Khi đã thành lập xong, bắt đầu đi hành quân chung, thì Đại úy Nguyễn văn Biết (Biết “ống vố”) được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng.
Trên giấy tờ, thì Tiểu đoàn 42 có 4 đại đội, nhưng trên thực tế, tiểu đoàn chỉ gom lại được có 3 đại đội mà thôi, còn Đại đội 370 Biệt động quân Biệt lập (tức Đại đội 4/42) vẫn còn… biệt lập. Đại đội 4/42 do Thiếu úy Nguyễn văn Huy (Huy Lé khóa 16 Đà Lạt) vẫn còn đang hành quân bảo vệ an ninh và là chủ lực của quận Thới Bình thuộc tỉnh Cà Mau. Đại đội đang đóng đồn và khai quang, công tác còn dở dang nên chưa có thể về hành quân cùng tiểu đoàn được.
Trang bị ban đầu của các tiểu đoàn Biệt động quân cũng như các tiểu đoàn bộ binh khác, chỉ có thêm một loại súng shotgun bắn đạn chài. Còn quân phục thì Biệt động quân cũng vẫn mặc quân phục bộ binh màu xanh olive, chỉ khác bên vai trái có mang phù hiệu cọp đen và đội mũ nâu mà thôi.
Tiểu đoàn 42/BĐQ trong thời gian đầu, được tăng phái cho Sư đoàn 21 Bộ binh, đã tham dự hầu hết các cuộc hành quân Dân Chí của sư đoàn này tổ chức, tại các đia danh thuộc Khu 42 Chiến thuật như sau:
– Kinh Thác Lác, Phụng Hiệp, Bún Tàu v.v… (thuộc tỉnh Cần Thơ)
– Đầm Dơi, Thới Bình, Khai Quang, Biện Nhị, Năm Căn, Bờ Đập v.v… (thuộc tỉnh Cà Mau)
– Rạch Sỏi, Đầm Răng, Đầm Rầy, Cán Gáo v.v… (thuộc tỉnh Rạch Giá)
– Hỏa Lựu, Hưng Long, Long Mỹ, Ngọc Hòa v.v… (thuộc tỉnh Chương Thiện)
Qua các cuộc hành quân này, Tiểu đoàn 42/BĐQ đã chạm địch liên miên, giáng cho chúng những đòn chí tử, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị địa phương cũng như chủ lực của Việt Cộng. Bọn nón cối bị đòn đau, sợ quá, bèn tìm hiểu điều tra cặn kẽ, xem ai đã đánh chúng những đòn tơi bời hoa lá như vậy? Sau khi biết rõ kẻ địch là Tiểu đoàn 42/BĐQ, với quân số chỉ có 3 đại đội, mang huy hiệu Cọp Đen trên vai áo, bọn Việt Cộng đã kính nể, đã kinh sợ mà đặt tên cho Tiểu đoàn 42 là “Cọp 3 Đầu”
Sau một thời gian hành quân lùng và diệt địch, Tiểu đoàn 42/BĐQ được nghỉ dưỡng quân. Vì mới thành lập, chưa có hậu cứ, nên tiểu đoàn phải dưỡng quân bằng cách… đóng quân dọc theo quốc lộ, tỉnh lộ, hoặc trong nhà của dân.
Trong thời gian đơn vị dưỡng quân tại xã Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu, một buổi sáng, Đại úy Nguyễn văn Biết, tiểu đoàn trưởng, đi ngang qua vị trí đóng quân của Đại đội 2/42, do Thiếu úy Nguyễn Tấn Giai làm đại đội trưởng, ông thấy một số binh sĩ của đại đội này đang tụ họp để trang trí những cái nón sắt của họ bằng cách vẽ hình đầu cọp đen của binh chủng ở đằng trước và sơn rằn ri trên phần còn lại nón sắt bằng các màu đỏ, trắng, vàng, xanh v.v… trông rất “ngầu”. Đại úy Biết thấy cũng… hay hay, nên đã ra lệnh cho tất cả tiểu đoàn đều sơn và vẽ trên nón sắt giống như Đại đội 2 vậy.
Kể từ đó, mỗi khi tiểu đoàn đi hành quân, nhất là về ban đêm, cái nón sắt mầu trắng, đen, nâu, đỏ của Tiểu đoàn 42/BĐQ hiện ra chập chờn như những bóng ma về đòi mạng bọn Việt Cộng, làm cho bọn chúng mất hết cả tinh thần. Vì thế, các đơn vị địa phương và chủ lực như Trung đoàn 18B của Việt Cộng đã bị những thiệt hại nặng nề khi giao tranh với những “Thần Chết” ở Tiểu đoàn 42/BĐQ trong những vùng chiến trận chung quanh Cần Thơ, Sóc Trăng v.v…
Rồi tới các cuộc hành quân Dân Chí, Tiểu đoàn 42/BĐQ ít khi đụng độ với các đơn vị của Việt Cộng mặc dù tin tình báo đã xác nhận sự có mặt của bọn chúng. Sau này chúng tôi mới vỡ lẽ, khi dân chúng trong vùng hành quân cho biết, bọn cán bộ Việt Cộng cao cấp đã chỉ thị cho các cấp chỉ huy địa phương: “Khi gặp Tiểu đoàn Cọp 3 Chân Đầu Rằn là phải né, vì kỹ thuật tác chiến của tiểu đoàn này rất giỏi, tinh thần binh sĩ rất cao, gan dạ, không sợ chết. Chỉ khi nào không tránh né được mới phải đương đầu mà thôi! Nhưng dù có đương đầu, cũng tìm cách rút dù để bảo toàn đơn vị”
Kể từ đó Tiểu đoàn 42/BĐQ mới có danh hiệu là “Cọp 3 Đầu Rằn” hay “Cọp 3 Chân Đầu Rằn”. Tiểu đoàn 42/BĐQ… thành danh là từ sự sợ hãi của bọn VC như vậy đó!
Cũng vì sự sợ hãi của bọn Việt Cộng, trong suốt khoảng thời gian từ 1966 đến 1967, tiểu đoàn đi hành quân rất ít khi đụng địch. Đi hành quân cùng nhau, trong khi các đơn bạn đụng địch đánh nhau bể đầu sứt trán, thì Tiểu đoàn 42 từ sáng đến chiều phè cánh nhạn, tìm mãi cũng chẳng có con nhạn Việt Cộng lạc đàn nào mà đánh đấm. Binh lính 42 chỉ mong các lực lượng bạn gọi mình tiếp ứng, để nhẩy vào đánh “ăn ké”
Mỗi khi trực thăng chở quân tới chiến trường, đổ xuống toàn là Cọp 3 Đầu Rằn, Việt Cộng tốc hầm cá nhân bỏ chạy tứ tán, trở thành mục tiêu ngon lành cho các phi công trực thăng võ trang nhả đạn.
Đầu năm 1967, Tiểu đoàn 42/BĐQ được lệnh của vị tư lệnh quân đoàn lúc đó là Chuẩn tướng Đặng văn Quang: “Tiểu đoàn 42/BĐQ phải sơn lại nón sắt bình thường như các đơn vị Bộ binh khác”
Thời gian này tiểu đoàn đã có đủ 4 đại đội, Đại đội trưởng Đại đội 4 bây giờ là Đại úy Nguyễn văn Út (hi sinh khi lên làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 41/BĐQ)
Khi Tiểu đoàn 42/BĐQ được lệnh tham dự chiến dịch Dân Chí 42 trong nhiệm vụ hành quân càn quét, tiêu diệt địch như các đơn vị bộ binh khác, tiểu đoàn đã đụng độ với Tiểu đoàn chủ lực cơ động Tây Đô của địch trên bờ kinh Thác Lác, thuộc tỉnh Cần Thơ. Trong trận đụng độ này, Tiểu đoàn 42/BĐQ đã tiêu diệt gần 2/3 quân số địch và bắt sống một số tù binh của đơn vị này.
Khi thẩm vấn, các tù binh cho biết cấp chỉ huy của họ, sau khi nhìn qua ống nhòm, thấy đơn vị trước mặt là bộ binh, nên đã ra lệnh cho bộ đội chuẩn bị giao chiến, không ngờ khi chạm trán mới biết là đã đụng với Tiểu đoàn 42/BĐQ, vì thấy bên vai trái có dấu hiệu Cọp Đen.
Tiểu đoàn 42/BĐQ là đơn vị đầu tiên của QLVNCH được huy chương của Tổng thống Hoa Kỳ President Unit Citation và được nhận tới 2 lần. Tiểu đoàn có dây biểu chương màu tam hợp (Bảo quốc). Trên cờ tiểu đoàn, có 6 lần được tuyên dương công trạng trước quân đội. Những sĩ quan sau đây đã giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 42/BĐQ Cọp 3 Đầu Rằn:
– Đại úy Nguyễn văn Biết
– Đại úy Nguyễn Tấn Giai
– Đại úy Lưu Trọng Kiệt (hi sinh trong trận kinh Thác Lác)
– Đại úy Chung Thanh Tòng
– Đại úy Lê Thành Long
Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s