Biệt Hải T.22 – Chuyến Công Tác Đảo Cồn Cỏ, Đồng Hới .

 

Biệt Hải – T.22
Kính dâng, hương hồn Anh Linh Cố T/ Úy Lê Ánh, Th/s Miễn, Hùng, Nhỏ, Lai, Sắc, Kích, Vượng cùng Vong Linh các Toán LL/Biệt Hải Vị Quốc Vong Thân.
Hằng ngày cứ sau 4 giờ chiều, nếu toán không thuộc phiên trực, hoặc phải ở lại tập đêm để chuẩn bị cho chuyến công tác sắp tới, ngoại trừ lệnh cấm trại 100/100, thì các toán còn lạïi được tự do xuất trại. Tất cả những nhân viên công tác như chúng tôi đều được Bộ Chỉ Huy Sở PVZH cấp cho mỗi người một tấm thẻ màu xanh lá cây ép bằng plastic (không thấm nước có cả giây đeo), được viết bằng hai thứ tiếng Việt & Mỹ, trong đó ghi rõ tên họ đơn vị hiện đang phục vu,ï đồng thời phía dưới có những hàng chữ “cấp cho đương sự được phép mặc thường phục, quân phục và đi trong giờ giới nghiêm, xin các cơ quan thẩm quền nên dành mọi ưu tiên dễ dàng cho đương sự trong khi thi hành nhiệm vu…” (đại ý như vậy)
Về vấn đề phương tiện, có lẽ chúng tôi không lấy làm lo lắng cho lắm, vì mọi người ai cũng làm chủ một chiếc xe loại Honda, hoặc Suzuki 50/ cc (phân khối), nên hễ cứ vào mỗi buổi chiều sắp sửa tới giờ xuất trại, mọi người đều nghe tiếng động cơ của các loại xe gầm thét lên inh ỏi tưởng chừng như một xưỡng máy đang trong giờ làm việc, rồi cứ thế tất cả xếp hàng đậu chờ sẵn phía trong cổng, đúng 4giờ người lính gác vừa mở cửa, các bác tài đồng loạt nhanh nhẹn rú ga phóng chạy như bay rời khỏi doanh trại một cách vội vã, phút chốc sau đó thì biến mất. Hầu như đa số chúng tôi đều luôn muốn xuất trại sớm hơn giờ được ấn định, nên đôi lúc đã thôi thúc người lính gác mở cổng (Dân sự chiến đấu phòng thủ, canh gác căn cứ), lắm lúc làm cho anh ta không mấy hài lòng, ngược lại cũng không hề tỏ ra chống đối, có lẽ vì sợ cấp trên khiển trách nếu mở cổng sớm cho nhân viên toán ra ngoài, phần còn lại cũng hơi ngán mấy chú trời con nầy…


https://i1.wp.com/www.ptfnasty.com/images/jpg/grayPix/MVC-008S.JPG
Huy hiệu Sở Phòng vệ duyên hải.
Lực lượng hải Tuần.

Doanh trại Biệt Hải được thiết lập dưới chân núi Sơn Trà (Monkey mountain) thường được gọi Trại 9. Trại có hai cổng ra và vào, một ở phía trước đối diện với bờ biển, và một ở đằng sau nằm sát gần chân núi. Cổng hướng nầy đa số anh em nhân viên công tác chúng tôi đều chê, lý do rất buồn vì ít người qua lại, hơn nữa có quá nhiều cát bụi do ảnh hưởng của hãng MK hằng ngày đang khai thác các loại đá quanh vùng, ngược lại cổng trước lúc nào cũng mát mẻ, vì gió biển thường xuyên thổi vào, hơn nữa có lắm người qua lại, điều đặc biệt đôi khi còn được rửa mắt sau một ngày huấn luyện đầy mệt mỏi khi ngắm các cô nàng ở lứa tuổi mơ mộng đang buôn bán kiếm sống dọc theo bờ biển, xuất phát từ các làng kế cận như: Mân quang, Nam thọ, Xóm chùa. v.v …

Vào buổi chiều thứ sáu của ngày cuối tuần và cũng sắp gần đến giờ nhân viên xuất trại, toán trưởng Võ Quang H bất ngờ tập họp tất cả nhân viên trong toán Mercury, đồng thời thông báo cho biết sáng ngày mai mọi người đều có tên đi nhảy dù bồi dưỡng, tất cả phải có mặt trước cửa nhà Dù đúng 6 giờ sáng để lập thủ tục lãnh Dù cùng các dụng cụ cần thiết, và sẽ có xe GMC của Sở chở ra phi trường Đà Nẵng. Anh em được nhảy bằng loại máy bay C 123 (đa số các toán Biệt Hải thường nhảy dù, bằng 2 loại máy bay C 123 và C 130 ra cửa sau đuôi), và địa điểm nhảy dù thuộc bờ biển Nam Ô sát làng Liên Chiểu phía Bắc thị xã Đà Nẵng hướng Nam dưới chân đèo Hải Vân. Và ông còn nói thêm:

-Tối nay chúng bây (danh từ thân thương được dùng trong toán) ráng giữ gìn sức khỏe, nếu có vui chơi thì cũng một vừa hai phải, vì còn nhiều việc phải làm trong những ngày sắp tới…! Tất cả chúng tôi đều nghe nhưng chẳng một ai quan tâm, vì tự nghĩ rằng một khi Thiên Tào chiếu cố gọi tên chắc ắt khó tránh. Cho dù bản tính gàn bướng như vậy đó, nhưng mỗi chuyến ra đi đều nhận thấy hình bóng tử thần không quá gang tấc cũng hơi lạnh cẳng. Riêng nhóm con dì phước chúng tôi, hằng ngày sau những chiều xuất trại, cứ thường hay rủ rê 5, 3 đứa lui tới Camp Fay ăn uống, đồng thời ngồi thưởng thức nhạc ngoại quốc, dù rằng lúc đó tiếng Anh tiếng u dốt đặc, nhưng có lẽ vì ở đó giá sinh hoạt tương đối rất rẽ và đặc biệt chỉ dành riêng cho những nhân viên công tác thuộc SPVZH mà thôi (mỗi ticket chỉ độ $300 hoặc $500 Việt Nam thời đó, tính giá một lon beer $25 hoặc đĩa cơm chiên $75 v.v.. vì lâu quá nên không nhớ chính xác). Thỉnh thoảng cũng trông thấy các bạn ở ngoài đơn vị ghé vào Camp Fay chơi, do một số nhân viên công tác bảo lãnh.

Ngoài ra còn một nơi mà chúng tôi cũng thường hay lui tới, đó là quán Cafee Thanh Hải hoặc Thùy Liên thuộc ngả năm thông tin (cũ) Đà Nẵng, nơi đây chúng tôi đặt tên là trạm thông tin liên lạc của dân kaki đủ mọi quân binh chủng ghé tới dừng chân sau những chuyến hành quân, hoặc các Toán Biệt Hải mỗi khi có chuyện khẩn muốn tìm nhau, nhưng chiếm đa số vẫn là anh em Liên Đoàn I Biệt Động Quân, vì nghe nói đơn vị đóng gần ở ngoại ô Đà Nẵng. Thỉnh thoảng còn thấy một số anh em các toán Lôi Hổ ở Non Nước cũng có mặt sau những chuyến công tác ở Biên giới về. Điều đặc biệt là dân KaKi thường lui tới ở đây vui chơi rất hài hòa trong tình “huynh đệ chi binh”, hầu như chưa thấy có chuyện đáng tiếc nào xẩy ra, bởi vậy mấy ông Quân Cảnh cũng hơi yên tâm nên thấy ít lai vãng.

Đối với nhóm độc thân chúng tôi, lắm lúc cũng tỏ ra bạt mạng, gặp bạn bè đúng chung từng số: 5, 7 két beer 33 con cọp (loại chai cao, dân lưu linh thường gọi cối 81 ly) cũng không dám từ chối. Nhưng dù muốn dù không, sau cuộc vui tàn, chân cao chân thấp cũng cố gắng tìm đủ mọi cách dìu nhau tìm về Trại cho bằng được, bởi vậy hầu như đêm nào đám con cô nhi chúng tôi cũng đều có mặt đầy đủ tại phòng.


http://www.oocities.org/rogerdodgerlee@sbcglobal.net/Images3/CampTienSha.jpg
Trại Tiên Sa.
 

Sáng ngày hôm sau, tất cả mọi người đã có mặt đầy đủ trước cửa nhà Dù đúng như giờ giấc Toán trưởng đã thông báo, cả thảy 24 nhân viên toán Mercury, cộng thêm 8 anh em của toán Vega tất cả 32 người được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 8 người, trong nhóm của tôi đứng đầu gồm có Hoàng Phi Hùng, kế đến Nguyễn Văn Lai (Lai lé) Nguyễn Văn Thế Giới và tôi, còn lại 4 người đứng ở sau lưng vì quá lâu ngày nên không nhớ tên (nhưng không đầy 8 tháng sau đó thì cả 3 anh Lai, Hùng và Giới đều tử thương trong các chuyến công tác Bắc & Nam). Thiết tưởng cũng xin được nói sơ một vài kỷ niệm trong thời gian theo học khóa Dù. Sau khi hoàn tất chương trình thực tập xử dụng lặn bình hơi xong, chúng tôi được tiếp tục chuyển qua thụ huấn khóa dù. Tôi nhớ vào buổi sáng hôm ấy tổng cộng 36 khóa sinh trong đó có 5 nhân viên và Sĩ quan của Nha Kỹ Thuật gửi ra, số còn lại đều thuộc nhân viên công tác Biệt Hải. Người đại diện trưởng toán khóa sinh Dù là anh Nguyễn Văn Kha (sau về làm Trưởng toán Đoàn 75), tất cả đứng sắp hàng trước kho tiếp liệu chờ Trung Sĩ I Nguyễn Văn Lượng gọi tới tên để lãnh một số quân trang quân dụng cần thiết cho khóa học, gồm có: hai bộ đồ xanh lục quân một đôi giày “bốt đờ sô” kèm theo mấy đôi bít tất, 1 nịt lưng, áo quần lót, nón sắt an toàn (công tác của Biệt Hải, không bao giờ dùng đến nón sắt), 1 hộp xi ra màu đen đánh giày, dầu chùi bóng nón sắt và1 hộp thuốc dùng để lau búp nịt. Cũng vì mấy hộp dầu nầy mà anh em chúng tôi đã khổ sở và bị phạt hít đất nhảy xổm triền miên trong suốt thời gian 4 tuần thụ huấn.Sáng hôm sau đúng 8 giờ tất cả khóa sinh tập họp đầy đủ tại địa điểm để sẵn sàng trình diện nhập khóa, thành phần Huấn Luyện Viên gồm hai UDT Seal Team Hải Quân Hoa Kỳ, và hai thông dịch viên luân phiên. Chương trình huấn luyện có thể nói nặng về tác phong kỹ luật hơn là thể chất, ngoài những giờ ngồi nghe lý thuyết tại phòng, hằng ngày các khóa sinh được huấn luyện các động tác như khi dù sắp sửa chấm đất lấy thế nhào lộn theo chiều gió hoặc tập dù lôi những ngày thời tiết lặng gió.

Huấn luyện viên lấy giây cột từng người vào sau đuôi chiếc xe dogd kéo chạy thật chậm, khóa sinh chúng tôi lấy thế nhào lộn thật nhanh đồng thời đứng dậy chạy theo hướng xe, cũng có lúc tất cả khóa sinh được chở xuống tận Non Nước vào trại của anh em Lôi Hổ tập lấy thế đứng ra cửa của chiếc máy bay đã phế thải. Toàn thân người lấm đầy cát bụi trông rất dơ bẩn sau các giờ học, nhưng một điều đã làm cho anh em chúng tôi hết sức khó chịu, là hễ cứ vào mỗi buổi sáng tất cả khóa sinh đều bắt buộc phải xếp hàng trình diện, áo quần ủi tươm tất giày “bốt đờ sô” đánh xi thật bóng loáng, kể cả nón sắt, đặc biệt là cái búp nịt bằng kim loại màu vàng nầy, phải lau chùi thế nào mỗi lần Huấn Luyện Viên đến khám khi cúi xuống phải trông thấy được từng cộng râu, thì mới đúng tiêu chuẩn để khỏi bị phạt. Tất cả đều phải thi hành đúng luật như đã ấn định, nếu chẳng may anh em nào vi phạm đều bị phạt từ 50 lần hít đất hoặc nhảy xỗm trở lên, nhưng đối với nhân viên Biệt Hải chúng tôi lúc bấy giờ con số đó cũng rất bình thường chẳng có gì đáng quan ngại, bởi vì quanh năm, cứ mỗi buổi sáng tất cả các toán đều bắt buộc phải có 2 giờ thể dục gồm đủ các món ăn chơi, như hít đất, uốn bụng, các động tác về tay chân, chạy, bơi lội v.v… bất kể thời tiết thế nào, trừ những ngày có bão tố, cốt làm cho thể chất của nhân viên tăng trưởng dẽo dai hầu đáp ứng được với mọi thời tiết của biển cả, phòng hờ lắm lúc trời đất bất ngờ thay đổi đang khi xâm nhập thi hành công tác.

Lắm khi trời cũng làm cho anh em có phần chùn bước, vì vào những tháng mùa đông ở miền Trung Đà Nẵng, hễ mỗi lần mưa gió đổ xuống thì kéo dầm dề lê thê ít nhất cũng từ ba ngày cho đến hết tuần lễ đó là chuyện thường, còn kèm theo những cơn gió đông bắc thổi tới lạnh buốt thấu da. Vào thời tiết đó, hầu như tất cả mọi nhà đều cửa đóng then gài ngồi quanh tìm hơi ấm qua nồi than nóng hoặc tìm những lớp áo quần thật dày mặc cho thời tiết mùa đông. Trong khi các toán Biệt Hải sáng sớm được các ông cố vấn Seal Mỹ dùng xe GMC chở xuống bờ biển Mỹ Khê (China beach) huấn luyện, trên người độc nhất vận cái quần đùi, mang theo phao cá nhân cặp chân nhái, có cả thuyền cao su và các dụng cụ dùng để huấn luyện, khi thì tập lội vượt sóng cá nhân bằng chân nhái hay tập chèo thuyền cao su bằng dầm từ trong bờ ra ngoài. Tất cả nhân viên trên xuồng lúc ấy bằng mọi cách phải ngồi giữ thế an toàn, sẵn sàng đề phòng mỗi khi có những đợt sóng đua nhau vỗ tới, và làm thế nào chiếc xuồng cao su không bị lật ngược. Trên mỗi chiếc xuồng gồm có 7 người, lắm lúc nhiều đợt sóng dâng cao hơn 3, 4 thước cứ liên tục nối đuôi nhau cuốn ngược vào bờ, tạo thành một bức tường chắn ngang trước mũi trông thật hãi hùng. Ngay lúc đó anh em ngồi bám chặt cứng vào thành xuồng, mắt đều đổ dồn theo dõi phía trước trong tư thế sẵn sàng chờ đợi, cứ sau mỗi đợt sóng lớn tàn lụi thì hằng ngàn bọt sóng nhỏ tung tóe trên mặt nước, tạo thành một vùng biển âm u trắng xóa. Đôi khi chẳng may xuồng cao su bị sóng đánh lật ngược hất tung anh em văêng xa mỗi người một hướng, rủi mà huấn luyện viên đứng trên bờ quan sát bằng ống nhòm bắt gặp anh em thổi phao cá nhân hoặc chiếc dầm vuột ra khỏi tay, thì chắc chắn thế nào cũng bị khiển trách hoặc phạt cảnh cáo đến hai hoặc ba ngày liên tiếp, hễ đi đâu trong tay cũng phải cầm theo cái dầm, riêng phao được thổi lên mang vào cần cổ suốt ngày, thậm chí cả trong giấc ngủ, ngoại trừ những giờ xuất trại.

(Lối phạt của người Mỹ rất kỳ lạ, mỗi lần nhân viên phạm lỗi có khi họ bắt thi hành từ 100 hít đất, nhảy xỗm trở lên, nếu thi hành không đủ thì ghi vào sổ cho thiếu, sáng hôm sau bắt gặp Ông ở bất cư đâu cũng phải tiếp tục thi hành cho đủ sớ…)

Cho dù vậy cũng chẳng thấm thía vào đâu so với tuần Địa Ngục. Anh em khóa sinh bắt buộc tập dượt liên tục hằng giờ, dưới nước, ngày cũng như đêm, kể cả giấc ngủ, trong thời gian 4 tuần lễ đầu để được chọn gia nhập khóa sinh Biệt Hải. Vào những ngày thời tiết quá lạnh, thỉnh thoảng toán cũng được cấp phát những thùng rượu có nồng độ cực mạnh, trong mỗi thùng có 12 chai loại nhỏ, hễ uống vào khỏi cỗ đã thấy toàn cơ thể nóng lên tựa như đang ngồi trước nồi than nóng, nhưng chỉ được dùng cho những khi huấn luyện hoặc bơi lội mà thôi.

Thấm thoát bốn tuần lễ huấn luyện qua mau, chúng tôi mãn khóa dù, tất cả anh em trởõ lại Toán sinh hoạt như thường ngày, ngoài nhiệm vụ thi hành những chuyến công tác Loke ở vùng biển Bắc Vĩ tuyến, phối hợp với Lực Lượng Hải Tuần.
https://i0.wp.com/www.ptfnasty.com/images/jpg/PTF%207%20DANANG.jpg
Khinh tốc đỉnh PTF và PCF tại căn cứ Hải Quân Tiên Sa Đà Nẳng.

Vào giữa tháng 8 năm 1968, toán Mercury được lệnh cắm trại và ở lại huấn luyện liên tiếp 3 ngày đêm, học chiến thuật xâm nhập bờ biển với các mục tiêu giả định, ban đêm thì toán được chở ra vũng Bấc (bãi sau) nằm sát mũi Nghê, tất cả từ ngoài PTF lội vào thám sát dọc chân núi và tập di chuyển tới mục tiêu, ban ngày được các Cố Vấn hướng dẫn giải thích kỹ lưỡng các loại chất nỗ TNT (loại C 4 từng thỏi màu trắng dài hơn cục xà bông hoặc C 3 bột đặc màu nâu sẫm được bọc kỹ trong lớp nilon dày có túi vải đeo), chỉ cách thức xử dụng ngòi phát nổ và gắn ngòi nổ, đồng thời đốt giây cháy chậm, để đo lường khoảng cách thời gian bao lâu có thể phát nỗ hầu giúp toán an toàn rời khỏi điểm công tác, loại dây chuyền sóng nỗ màu trắng phá chân cầu, đồng hồ ấn định giờ.v.v…

Sau giờ huấn luyện, đưa xuống Swift (PCF) chở cả toán ra mũi Nghê (dưới ngọn Hải đăng) thực hành chất nổ. Ngoài những giờ còn lại anh em lau chùi vũ khí cá nhân như: Ak. 47, trung liên Trung Cộng, tiểu liên Suzuke.v.v.. Sau 3 ngày huấn luyện, mọi người ai nấy đều đã khá thuần thục nhiệm vụ của từng cá nhân được giao phó, chỉ chờ ngày ra đi khi có lệnh cấp trên với thời tiết thuận tiện. Tất cả mọi người đều biết chuyến công tác nầy sẽ xâm nhập vào đất liền ở miền Bắc, nhưng chẳng một ai hay biết địa điểm hoặc ở tỉnh nào, ngoại trừ một mình Toán Trưởng, ngược lại trong số anh em chúng tôi cũng chẳng ai dám bàn sâu vào vấn đề vì ngại an ninh, vì đó là một trong những điều cấm kỵ và bảo mật tuyệt đối của Sở. Nhân viên công tác chỉ biết khoảng 30 hoặc 40 phút trong giờ thuyết trình.

Chuyến đó gồm có16 anh em vào bờ, 2 nhân viên ở lại ngoài biển điều khiển và canh giữ thuyền, tổng cộng tất cả 18 người. Vũ khí được trang bị đa số Ak. 47, còn lại 2 khẩu trung liên Trung Cộng, và một khẩu tiểu liên Suzuke ( Tiệp Khắc) có gắn nòng hãm thanh ưu tiên trang bị cho người tiền sát đi đầu, một số vật dụng cần thiết khác như lựu đạn mini, giây thắt cổ lính gác, còng số 8, súng hỏa châu loại nhỏ, ngoại trừ chân nhái, áo phao .v.v.. Phần tôi phụ trách chất nổ có nhiệm vụ phá tan vọng gác sau khi toán bắt tù binh đã hoàn tất. Tôi trong mình bấy giờ mang một túi thuốc nỗ loại C 3-TNT, hai cuộn dây cháy chậm gắn sẵn ngòi nỗ, kể cả ngòi giật phát nỗ được để riêng bọc lại kỹ càng trong 2 lớp bao plastic không cho thấm nước, ngoài ra một khẩu AK 47 và 4 băng đạn được lắp đầy, anh Nguyễn Công Phước (Phước Gù) phụ mang thêm một túi C 3-TNT và đi sau lưng tôi theo chỉ định của Toán Trưởng.

Đội hình khi lội vào cũng như lúc lên bờ di chuyển đã được sắp xếp cẩn thận, nhiệm vụ 2 tiền sát lội vào trước tìm bãi an toàn cho toán đổ bộ là 2 anh Lê Ánh, Hoàng A Báu (người thiểu số), tiếp đến Toán Trưởng H và người mang máy liên lạc, còn Phó Toán Phạm Văn Miễn thuộc nhóm làm an ninh kiêm bắt tù binh, tới tôi thuộc nhóm chất nỗ và sau hết là hai hậu vệ giữ an toàn cho toán đi quan sát phía sau lúc vào cũng như khi rút ra.

Hôm sau vào buổi trưa, khi tất cả chúng tôi vừa dùng xong cơm trưa ở nhà ăn đi về phòng ngủ của Toán, đã thấy hai chiếc xe GMC đậu sẵn trước cửa, 2 viên tài xế vẫn ngồi chờ trên xe. Toán Trưởng H và Phó Toán Miễn, cả 2 đang đứng đợi ở phòng thuyết trình, trên tường có treo một tấm bản đồ và được khoanh ô tròn bằng loại mực đỏ quanh 1 chấm đen nằm ngoài khơi Đồng Hới thuộc Quảng Bình. Như vậy mục tiêu chỉ định cho Toán công tác tối nay là đảo Cồn Cỏ, được viết nguệch ngoạc bằng loại phấn trắng trên bảng đen. Thấy vậy chúng tôi cũng hơi an tâm, vì đã có câu trả lời cho cả tuần nay cứ ấm ức, hơn nữa mục tiêu nầy cũng chẳng mấy xa lạ, vì các Toán đã từng chia nhau xâm nhập rất nhiều lần tuy nhiệm vụ khác nhau.

Sau khi anh em chúng tôi hiện diện đầy đủ, kẻ đứng người ngồi, Toán Trưởng H tiến lại gần bảng lấy cây thước chỉ vào mục tiêu, thuyết trình về tình hình tổng quát, quân số của Bắc quân trú đóng trên đảo có khoảng hai tiểu đoàn phòng không dựa theo tin tức do không ảnh Hạm Đội chụp được, nhiệm vụ của Toán tối nay bằng mọi cách phải cố len lỏi đột nhập vào phòng tuyến địch bắt sống lính gác, và luôn cả người phụ trách kiểm soát trạm gác, nếu cả hai cùng nằm trong một thời điểm, sau đó sẽ gài lại chất nỗ trước khi toán rời khỏi vị trí, đồng thời ông cũng nhắc nhở anh em cố giữ đội hình khi đang lội cũng như lúc lên bờ di chuyển và dặn dò tất cả phải hết sức cẫn thận, vì sợ sóng gió hoặc gặp dòng nước chảy mạnh sẽ làm mọi người trôi xa dễ bị lạc nhau, nhất là về đêm tầm kiễm soát rất giới hạn.

Quan trọng nhất là đối với hai tiền sát, lúc nầy sinh mạng của mọi người đang nằm trong tay hai anh, nếu thiếu cẩn thận thì thật nguy hiễm cho toán và những tai hại xẩy ra khó có thể lường được. Nói tới đây, Toán Trưởng ngừng lại. Tất cả chúng tôi có mặt tại đó cũng đều dư hiểu nghĩa đen của nó. Hầu như lúc nầy tâm trạng mọi người cảm thấy hơi căng thẳng, căn phòng trở nên yên tĩnh lạ thường, trừ những tiếng thở đều đặn nghe được từ mọi người. Tiếp theo, ông cho hai tiền sát biết ám hiệu bấm đèn để hướng dẫn cho toán lội vào khi đã nắm được tình hình an toàn trên bờ.

(Dùng đèn hồng ngoại tuyến đặc biệt loại nhỏ, xử dụng theo lối truyền tin Tíc- Tè bấm khoảng cách liên tiếp bao lần, ngoài thuyền Toán Trưởng dùng Hồng Ngoại Tuyến để theo dõi, khi đã xác định đúng mới ra lệnh cho anh em lội vào bơ.ø )

Sau 40 phút thuyết trình, tất cả được lệnh ra xe, súng ống đạn dược và các dụng cụ mang theo đầy đủ, tất cả những đồ đạc trang bị riêng cho cá nhân thì chúng tôi đã chuẩn bị cả mấy ngày trước đó được để sẵn sàng phía cạnh giường ngủ hoặc trong tủ đứng cá nhân, anh em phụ giúp đưa hai chiếc thuyền cao su đặt lên chiếc GMC đầy đủ xăng nhớt và 2 máy được gắn ống hãm thanh tránh gây tiếng động, 18 nhân viên được chia đều ngồi vào thành ghế ở hai bên. Hai chiếc xe GMC chở toán từ từ lăn bánh rời khỏi trại, người tài xế trực chỉ lái về hướng bến tàu PTF hầu như đã quá quen và thông thuộc đường sá qua nhiều lần chở các toán. Tại cầu tàu, anh em Hải Tuần tất cả cũng đã sẳn sàng một vài khinh tốc đĩnh PTF. Các nhân viên còn đang bơm dầu dỡ dang, 2 chiếc xe GMC chở Toán vừa tới nơi, viên tài xế dừng lại tắt máy, chúng tôi tự động nhảy xuống phụ giúp đưa tất cả dụng cụ xuống một chiếc PTF đã được Bộ Chỉ Huy chỉ định chở Toán. Công chuyện thực hiện lớp lang, răm tắp…

Kể từ giờ phút anh em ngồi nghe ở phòng thuyết trình ra cho đến khi ngồi trên xe chở xuống cầu tàu, khuôn mặt mọi người ai nấy đều tỏ vẻ đăm chiêu ít nói, hoặc có cũng rất nhỏ nhẹ khác những lúc bình thườngï, nỗi ưu tư lo lắng bộc lộ rõ nét trên từng gương mặt anh em. Có lẽ lúc nầy tất cả đều chìm ngập chung trong những suy tư, nghĩ đến những mong manh của cuộc đời trong những ngày mai hiểm nguy sắp tới, liệu còn có hy vọng thấy lại được những cảnh vật thân thương và bạn bè quen thuộc như chiều hôm nay không? Chưa nói đến một số anh có gia đình vợ con và những mối giây kỷ niệm, hạnh phúc, hình ảnh vợ con còn đong đầy mang theo trong nỗi nhớ, trong từng bước chân đi, hoặc giả, những mối tình vừa chớm nở ở lứa tuổi đang yêu nồng nàn vị ngọt cuộc đời…, số còn lại không thuộc vào hai diện trên thì tỏ ra vô tư và bình thản. Bất chợt không ai bảo ai, mọi người đều hướng mắt nhìn lại hình ảnh doanh trại và cảnh vật quen thuộc lần cuối.

Khi nghe tiếng động cơ của các khinh tốc đĩnh nổ dòn, điểm báo đoàn tàu sắp sửa rời bến trong giây lát, trên cầu mấy ông mũi lọ đang đứng sẵn sàng vào vị thế chờ đợi các Hạm Trưởng ra lệnh mở giây, với những cử chỉ quen thuộc vẫy tay tạm biệt của người đi kẻ ở, 5 chiếc PTF lần lượt rời bến vào buổi trưa (không nhớ rõ ngày giờ) với tốc độ thật chậm, có lẽ vì sợ làm kinh động số tàu còn lại đang đậu ở bến hoặc các loại ghe nhỏ của những ngư dân đang hành nghề quanh quẩn đó chăng? Chứ với tốc độ của khinh tốc đĩnh PTF lúc Hạm Trưởng điều khiển chạy ở vùng biển tự do, thì xé nước vượt sóng nhanh thật kinh khủng so sánh với các tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thời đó. Phải công nhận chưa có loại nào là đối thủ của PTF mà Lực Lượng Hải Tuần Sở PVDH đang xử dụng.

Khi 5 chiếc PTF chạy qua khỏi Bộ Tư Lệnh Hải Quân, tất cả anh em chúng tôi tự động mang súng đạn và hành lý cá nhân xuống căên hầm dành riêng cho nhân viên Toán, căn phòng nầy không được mấy rộng rãi, chỉ vừa đủ chỗ cho số anh em ngồi sát vào nhau, vì vậy không khí rất ư ngột ngạt, phần hơi dầu máy của hầm kế cạnh bốc ra, chưa nói đến vận tốc chạy quá nhanh của khinh tốc đĩnh PTF khiến các đợt sóng dồn dập đánh mạnh vào ở phía dưới lườn và hai bên mạn tàu, thỉnh thoảng có lúc đã làm cho tất cả đồ đạc kể cả người đều bắn tung ra khỏi chỗ. Một số anh em không chịu nỗi mùi dầu cặn nên đã ói mữa liền sau đó, trước mắt hiện ra cảnh tượng thật tội nghiệp. Vài anh vì ói mữa nhiều lần nên không còn thứ gì trong bụng, sau đó lần lượt tới những bụm nước màu vàng đặc quánh dính vương vãi khắp quần áo. Hầu như lúc nầy mọi người thấm mệt nên chẳng còn ai muốn lau chùi rồi cứ thế để mặc. Riêng phần tôi không hiểu sao, cứ mỗi lần sắp sửa chóng mặt hoặc cảm thấy hơi nhức đầu báo hiệu của triệu chứng ói mữa, tôi vội lấy đồ hộp (Cration) mở ra ăn, tự nhiên thấy tĩnh lại, âu đó cũng là một điều hiếm hoi, chứ khi đã say sóng thì làm sao ăn nỗi.
https://i2.wp.com/www.ptfnasty.com/images/jpg/PTF%207%2040mm.jpg
Các nhân viên trọng pháo đang thực tập tác xạ đại bác Bofor 40 ly trên Khinh tốc đỉnh PTF.

Chúng tôi ngồi dưới khoang tàu không biết thời gian bao lâu, bỗng thấy ngọn đèn đỏ tự động bật lên tỏa ra một thứ ánh sáng lờ mờ không giống cảnh trí liêu trai như ở phòng trà, ngược lại ánh sáng đỏ lờ mờ càng tăng phần hồi hộp lo lắng thêm cho mọi người, vì đó là dấu hiệu chuẩn bị giờ khởi hành. Cùng lúc nghe tiếng của Trưởng Toán đứng trên boong tàu hét vọng xuống thúc giục anh em mau rời khỏi phòng, mọi người không ai bảo ai ngồi dậy một cách tĩnh táo, mang theo dụng cụ kể cả súng đạn nhanh chóng đi lên phía sau boong tàu, bao nhiêu mệt nhọc say sóng ói mữa trước đó bỗng chốc tan biến đi đâu mất.

Khi tất cả nhân viên đã đứng cạnh Toán Trưởng, thì cùng lúc Hạm Trưởng trên phòng lái ra lệnh thả Toán. Một số nhân viên Hải Tuần nhanh nhẹn phụ giúp đưa hai xuồng cao su xuống biển an toàn, số anh em chúng tôi tiếp tục dùng dây thang leo xuống và ngồi theo thứ tự được sắp sẵn, hành động như những người máy robo. Nhân viên tài công đề máy nỗ, hai chiếc thuyền nhỏ chở Toán tuần tự nối đuôi nhau rời khỏi Chiến đĩnh PTF theo lệnh của Trưởng Toán H, phút chốc các Toán đã rời xa dần tàu mẹ, trông tựa như những chấm đen đang lạc lõng giữa đêm khuya trên mặt đại dương bao la huyền bí…

Lúc nầy ngồi trên vành thuyền cao su nhìn xuống mặt nước, tôi thấy cả một vùng biển mịt mờ thăm thẳm, thỉnh thoảng vài cơn sóng nhỏ đập vào 2 bên mạn thuyền tạo ra những tia nước sáng ngời giống như những chất linh tinh trông rất đẹp mắt. Bầu trời đêm nay thật trong, trên cao những ánh sao lưa thưa lấp lánh không đủ soi sáng cho cả một vùng đại dương mênh mông nên càng khiến cho đại dương trở thành hoang lạnh. Lâu lâu một vài cơn gió đằng xa thổi tới hòa lẫn với bọt biển bắn lên làm mọi người cay mắt.

Đang khi tất cả mọi người chăm chú dán tầm mắt nhìn về hướng trước mục tiêu, nơi mà chốc nữa đây, Toán sắp sửa thi hành nhiệm vụ. Tính từ lúc 2 chiếc thuyền cao su rời khỏi tàu mẹ PTF đến giờ đã được gần một tiếng đồng hồ, bỗng một số anh em ngồi đằng trước đã nhanh chóng phát hiện một chấm đen càng lúc trông càng to dần theo vận tốc chạy tới của 2 thuyền cao su, hình như bóng đen của Hải Đảo đã phủ kín một góc, tưởng chừng như có con khủng long to tướng trồi lên giữa lòng biển cả đang chực muốn nuốt chửg hai chiếc thuyền cao su mong manh bé nhỏ của chúng tôi. Trưởng Toán H ra lệnh cho hai tài công giảm bớt tốc độ, một lúc sau dừng hẳn lại nhưng tiếng động cơ của máy thuyền vẫn cho nỗ đều đặn. Ước tính bây giờ khoảng cách giữa Đảo Cồn Cỏ và điểm đứng của 2 thuyền cao su còn trên dưới 1000 thước theo đài Rada của PTF đậu ngoài khơi theo dõi cho biết. Toán Trưởng ra lệnh hai tiền sát viên rời thuyền bơi vào làm nhiệm vụ thám sát bờ biển và tìm bãi đáp an toàn cho toán. Tôi nhìn đồng hồ dạ quang lúc nầy đã đúng 9 giờ đêm.

Kể từ lúc hai người tiền sát rời thuyền cao su, mọi người còn lại bắt đầu để ý theo dõi và cố nghe ngóng tất cả động tĩnh chung quanh. Cảnh vật về đêm thật mà khó xác định vị trí, kể cả tầm nhìn cũng được thâu ngắn, trừ những tiếng động thật lớn. Lúc nầy nhiều cặp mắt được mở to chăm chú nhìn vào hướng bờ như thể thôi miên, có lẽ vì hồi hộp, phần tinh thần căng thẳng nên đã phát xuất động tác như vậy chăng? Gần 10 giờ đêm, Toán Trưởng cho biết đã thấy dấu hiệu bấm đèn của tiền sát trong bờ, ông liền ra lệnh cho anh em chuẫn bị sẳn sàng khởi hành. Chúng tôi vội xỏ chân nhái vào 2 chân, kiểm soát lại phao cá nhân, bình “xiôđơ” lần cuối, đồng thời súng đạn các dụng cụ sắp lại cho gọn gàng để khỏi vướng mắc khi lội, rồi cùng đồng loạt kẻ trước người sau, nhẹ nhàng chuồi mình xuống nước. Mọi người giữ theo đội hình hàng ngang lội vào. Một vài cơn gió thổi qua tạo cho khí hậu của biển ban đêm trở nên khá lạnh, nhất là trong khi bộ áo bà ba đen (bộ đồ công tác ngụy trang) và toàn thân còn đang khô ráo, nay phút chốc tất cả đã thấm ướt tưởng như đang bị luồng điện vô hình giật mạnh vào thân. Quanh thân người giờ đây là hằng vạn tia nước nhỏ li ti giống chất lân tinh hiện rõ nét và bám theo nhịp điệu của đôi chân nhái sau mỗi lần cử động, một vài loại cá lớn nhỏ như đang lạc bầy bơi lội qua lại ở phía dưới bụng, nhưng hầu như giờ phút nầy chẳng ai còn tâm trí để suy nghĩ đến chuyện vẫn vơ, duy một điều chỉ trông làm sao lội được vào tới bờ an toàn.

Phút chốc thì hai chân đã thấy chạm đất. Tôi vội cúi xuống gỡ chân nhái ra khỏi 2 chân, móc vào cạnh hông đồng thời mở khóa an toàn khẩu Ak 47, xóc nước cẩn thận trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Tất cả đều nằm dưới bờ biển, độ 10 phút sau đó thì cả toán bắt đầu di chuyển theo sự hướng dẫn của anh tiền sát phụ Hoàng A Báu tiến lên gặp tiền sát chính Lê Ánh đang ngồi chờ trong một bụi cây phía trên (trách nhiệm của 2 tiền sát kiễm soát chu vi bờ biển trên dưới 100 thước, khi thấy an toàn mới bấm đèn hiệu cho toán lội vào). 16 người lần mò di chuyển và bám sát vào nhau theo thứ tự dưới sự hướng dẫn của 2 tiền sát viên đi trước. Băng qua khỏi bãi cát dài độ khoảng 300 thước thì tới sát chân núi. Lộ trình di chuyển đêm nay tương đối hơi dễ, vì ở đây không có dân cư như trong đất liền, hơn nữa, bờ biễn trống trải, ít thấy chướng ngại ngoài những bụi cây hoang dã nằm rãi rác đó đây xen lẫn với đá san hô chiều cao không quá đầu người. Một điều làm anh em lo ngại sợ bộ đội của chúng đi tuần tiểu dọc bờ biển ban đêm lỡ phát giác được thì thật nguy hiễm.

Cả toán lần lượt men theo chân núi đi tới mục tiêu, thỉnh thoảng có những tảng đá to tướng nằm chồng lên nhau bít cả lối đi, lắm phen làm cho hai tiền sát thật vất vả toát mồ hôi hột vì phải dò dẫm từng bước, một phần vì trời tối đen, vã lại vách núi cao cập chùng dễ gì biết được chổ nào là vị trí đóng quân hay trạm gác của địch, hay có thể trong những vách đá ở đâu đây trên đầu anh em, mà bọn chúng hiện đang để mắt theo dõi cũng không biết chừng, nên cứ phập phòng lo sợ lọt vào họng súng của tụi nó đang chờ sẵn.

Nhớ lại chuyến công tác ở Mật Khu Lê Hồng Phong, Bình Thuận, chúng tôi từng bắn hạ gần hai tiểu đội chính quy BắcViệt khi chúng lọt vào ổ phục kích ban đêm của Toán khoảng cách không đầy 4 thước, những xác người bất thần chồm ngược hẳn lên phía trước và rớt ngã xuống gần vị trí của chúng tôi sau khi đã lãnh trọn những tràng AK.47 và Suzuké. Tiếp đến tại cầu Nam Ô, khi 2 Trung đội của chúng quân trang súng đạn bó chặt vượt lội qua sông, không ngờ đúng ngay vào điễm phục kích bên nầy bờ của toán Romulus, sau nhiều loạt đạn khai hỏa chúng nó lớp chìm lớp bỏ lại súng đạn lội tán loạn giữa dòng sông giống như đàn vịt. Giờ nghĩ đến bối cảnh hiện tại cho hoàn cảnh mình trên đất địch mà bất giác rùng mình.

Càng về đêm cảnh núi rừng càng tịch mịch, cộng với muôn điệu âm thanh rả rích của các loài côn trùng hòa lẫn cùng tiếng sóng biển vỗ từ vách đá vọng lại, nó tạo nên cảm giác hết sức rùng rợn. Có sống những giây phút nầy mới thấy thấm thía cái hiểm nguy, gian truân đoạn trường trong những công tác âm thầm bí mật của người Biệt Kích và Biệt Hải trên đất Bắc. Khi còn đang di chuyển thì được lệnh cho toán dừng lại và ai nấy tìm chổ ẩn núp, cùng lúc anh em ra dấu cho nhau cố gắng quan sát vị trí chung quanh và sẵn sàng hành động, vì tiền sát đã phát giác ra mục tiêu phía trước.
https://i0.wp.com/www.ptfnasty.com/images/jpg/ptfjsnyder2.jpg
Khinh tốc đĩnh PTF.

Lúc đó đúng 12 giờ đêm, tất cả chúng tôi yên chí ngồi chờ tại chỗ, vì biết rằng muốn bắt hoặc hạ thủ lính gác thì cần phải kiên nhẫn chờ đợi, luôn để mắt theo dõi những sơ hở của đối phương, bằng không sẽ dễ dàng bại lộ. Anh em thuộc nằm lòng kinh nghiệm những lần trước đó cũng như được anh em các Toán kể lại. Ngồi chưa đầy một tiếng đồng hồ, thoạt nhiên mọi người đều nghe được tiếng động cơ của các máy bay phản lực từ hướng Hạm Đội bay vào, trong khoảnh khắc, tiếng gầm thét mỗi lúc nghe một lớn dần, và âm thanh của phản lực cơ phá tan sự im lặng tịch mịch của đêm đen. Lúc nầy không biết tổng cộng có bao nhiêu chiếc phản lực tham dự nhưng nó đã tạo ra những tiếng hú vang động không gian thật kinh hồn, cùng lúc ở trên đỉnh núi đã thấy có nhiều đám cháy bốc lên rực sáng, kết quả của các đợt dội bom, đồng thời còn nghe được hằng ngàn tiếng nổ lớn nhỏ, cùng lúc phòng không của địch đặt từ các khe núi đã bắn lên tới tấp, những lằn đạn lửa chằng chịt nối đuôi đan kín vào nhau tựa như một tấm lưới phủ kín chung quanh khu vực Hải Đảo.

Tôi ngước nhìn lên trời, nhiều vệt sáng xẹt nỗ tung tóe trên bầu trời tựa như những chùm pháo bông trông thật đẹp mắt, ngược lại các phi công Mỹ cũng không dễ dàng bỏ qua, một khi thấy các chú nón cối ở dưới đất bắn lên chọc giận, lập tức vòng lại nhiều lần, và trút xuống không biết bao nhiêu bom, tạo ra những tiếng nỗ đinh tai. Nhưng mấy ông phi công mũi lọ đâu ngờ rằng giờ phút nầy dưới đất có những toán Biệt Hải đồng minh của họ đang hoang mang chờ đối mặt thần chết vì các đợt bom tạo ra. (Măc dầu hiện đang nằm trong tầm hiểm nguy nhưng lòng vẫn ao ước, giá đất nước thanh bình mà thưỏng thức được hoạt cảnh như trong giây phút vừa rồi thì thật ngoạn mục.)

Ngược lại, đây mới chính là cơn ác mộng của anh em chúng tôi, đúng là “họa vô đơn chí” . Những chiếc phản lực như đã vô tình giúp đánh thức địch quân đề phòng cẩn mật hơn sau những trận mưa bom kinh khiếp trên máy bay liên tục trút xuống, cộng với từng loạt đạn lớn nhỏ đủ loại ở dưới đất bắn lên, còn thêm hằng chục trái hỏa châu rực sáng do các phản lực bắn ra treo lơ lửng trên nền trời nhằm cản đường hỏa tiễn tầm nhiệt của địch đang tìm hơi nóng bay tới. Toán Trưởng vẫn ra lệnh anh em ngồi tại chỗ, vì biết lúc nầy ở các địa đạo của địch trên các khe núi đều đã có người của chúng đề phòng, hơn nữa ánh hỏa châu như đã vô tình soi sáng khắp vùng giúp chúng quan sát dễ dàng cảnh vật chung quanh, chỉ cần một sơ hở nhỏ cũng có thể xẩy ra muôn điều nguy hiễm. Đúng là “tấn thối, lưỡng nan”. Lúc nầy hầu như tâm trạng mọi người đều căng thẳng, đều chung cùng một suy nghĩ như nhau: “không hiểu chuyện gì sẽ xẩy tới”, vừa lo nghĩ đồng thời lại giận mấy ông nội phi công Mỹ, “mẹ kiếp, hết chỗ thả boom rồi hay sao mà lại bay tới chỗ nầy!”

Khoảng 3 giờ 40 sáng, cả Toán được lệnh tìm đường rút lui ra lại bờ biển, vì lúc nầy các phản lực đã cao bay xa chạy mất hút sau gần 2 tiếng đánh bom. Tôi nhìn đồng hồ, sắp đã tới giờ hẹn gặp lại hai chiếc thuyền cao su đang chạy lòng vòng chờ đón toán ngoài bờ biển đúng 5 giờ, hơn nữa trời cũng sắp sửa sáng. Trên đường trở ra, chúng tôi cảm thấy càng nhiều nguy hiểm và mất khá thời gian, nhưng cuối cùng anh em cũng đã có mặt được ở điễm hẹn đúng như giờ ấn định. Lội ra lên được xuồng cao su, và kiểm soát nhân viên đầy đủ, 2 thuyền nhỏ trực chỉ chạy ra PTF. Chúng tôi nhìn vào hướng đất liền, Đồng Hới cũng chẳng khá hơn đảo Hòn Cỏ bao nhiêu, những đám cháy rực sáng lấp lóe khắp nơi sau các phi vụ oanh tạc. Phút chốc, tất cả anh em đã có mặt trên boong tàu, cả 5 chiếc khinh tốc đĩnh PTF đồng quay mũi trực chỉ chạy về hướng Nam Đà Nẵng.

Sau một đêm dài đầy căng thẳng và ám ảnh của chuyến công tác vừa rồi mà hình ảnh còn đang in rõ nét trong trí, dù mọi người quá mệt mõi, nhưng không ai chợp mắt được. Nghĩ lại suốt nguyên một tuần lễ vừa qua, anh em dồn hết nỗ lực tập tành huấn luyện cho chuyến xâm nhập đêm nay nhưng công tác hoàn toàn không thực hiện được, tất cả mong đợi và hy vọng của cấp trên vào anh em chúng tôi cũng đều tan biến.

Nói tóm lại kể từ khi chiếc Khu Trục Hạm Maddox bị Hải Quân Bắc Việt khiêu chiến vào năm 1964 cho đến năm 1968, thì trên phần đất chủ nghĩa của “Bác Hồ”, hầu như chẳng còn sót một chỗ nào mà các phi vụ Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ không tới thăm viếng tặng bom. Đối với công tác của các toán Biệt Hải xâm nhập, thành công hay không đều tùy thuộc vào yếu tố bất ngờ. Xét về quân số và vũ khí của các Toán thi hành công tác trên phần đất địch, về mặt tương quan lực lượng, phải công nhận đều hoàn toàn sai biệt về mọi mặt, ngoại trừ mặt kỷ thuật được huấn luyện công phu, cộng với tinh thần dẽo dai bền bĩ của người Biệt Kích trên vùng đất được giao phó khi thi hành nhiệm vụ, một nơi chốn quá xa xôi hầu như không được tiếp tế yễm trợ. Đó cũng là điều làm cho anh em lắm lúc tỏ ra quan ngại và suy nghĩ.

Về tất cả làng xã ở miền Bắc vào thời điễm đó, chính phủ miền Nam không hề có những hậu cần hoặc thành phần cán bộ gửi hoạt động nằm vùng sẳn phía Bắc, tương tự như trong miền Nam mà cán binh Cộng Sản thường có. Bởi vậy nên mỗi lần các Toán sa cơ hoặc công tác bị phát giác, đã không có chỗ để tạm ẩn lánh cấp thời hay được sự tiếp tay che chở của dân chúng địa phương, đó là lý do hầu hết anh em bắt buộc phải chấp nhận hậu quả của những hy sinh vô bờ bến trong chiến đấu, đồng thời trả giá rất đắt cho tương lai và sinh mạng của họ.

Quận Cam, Lễ Giỗ Biệt Hải Kỳ III Ngày 16 Tháng 6 Năm 2002
Mercury Team

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s