Nguyễn Ngọc Ấn – Trần Trung Cấp

Những nhân vật được nêu tên trong truyện đều được đổi tên cho khỏi đụng chạm và đa số hiện vẫn còn sống. Nếu có trùng hợp với bất kỳ ai, xin nhận nơi đây lời thành thật xin lỗi của tôi. (NNA)

Ngày 27/1/73, hiệp định hoà bình (phải gọi là Hiệp định Ngưng bắn Tại chỗ thì đúng hơn) được ký ở Paris. Lúc đó tôi còn nằm trong trại tù binh ở rừng núi Lạng sơn, Bắc Việt. Tôi biết, theo tinh thần hiệp định Paris thì tất cả (chữ “tất cả” phải được nhấn mạnh, tù binh quân và dân sự của hai bên phải được trao trả cho bên kia trong thời hạn chậm nhất là 60 ngày. Tôi ở ngoài Bắc về Nam ngày 21/3/73, chỉ một tuần nữa là hết hạn trao đổi tù binh. Tiếp theo đó là thời gian coi như bị tạm giam bởi Sở 3 An Ninh Quân đội để điều tra về cái tội bị VC bắt mà không trốn thoát hay vượt ngục cho tới khoảng tháng 5 hay tháng 6 gì đó thì tôi xuất trại ANQĐ để trở về đơn vị gốc của tôi là Liên đoàn 5 BĐQ lúc bấy giờ đang hành quân ở An Lộc, Bình Long…

Tôi không hiểu sao nhưng thời gian đóng quân ở An Lộc đã đi vào tâm khảm tôi một cách sâu sắc mà bây giờ, ngồi viết những dòng nầy đã gần 40 năm qua mà tôi tưởng chừng như câu chuyện mới xảy ra ngày hôm qua nên xin mạn phép ghi lại tất cả cảm nghĩ của tôi về thời gian ở trong quân ngũ và đóng quân ở An Lộc trước khi đi vào chuyện…

Thị trấn An Lộc

Tình hình thị xã An Lộc sau trận đánh lớn năm 1972

An Lộc sau trận tổng tấn công năm 72 vẫn không bị rớt vô tay địch quân và các đơn vị tử thủ đều được rút đi hết để thay vào đó là hai liên đoàn BĐQ 3 và 5 dưới quyền điều khiển của đại tá Nguyễn thành Chuẩn, đương kim chỉ huy trưởng BĐQ vùng 3 lên đó làm tư lệnh mặt trận lên đóng để gìn giữ những miếng đất nhỏ còn lại. Phải gọi là miếng đất nhỏ vì thị xã An Lộc năm 73, sau trận đánh vô cùng khốc liệt năm 72 thì hoàn toàn không phải là một thị xã bình thường như bao nhiêu thị xã khác ở miền Nam (hay trên thế giới !) Thị xã không lớn, chỉ có diện tích như Dalat và lại thêm cái vị trí đồi chập chùng nên càng giống thành phố Dalat, chỉ thay vào cây thông là những hàng cao su thẳng tắp của những đồn điền trong ngày xa xưa.

An Lộc – 1972

Điều đáng nói là VC đã coi như sắp lấy được An Lộc năm 72 trước khi bị quân ta đánh bật ra ngoài nên năm 73, chúng ta coi như chỗ nào trong thị xã trước đó đều có VC vào thăm rồi nên hiện thì địch đã có tọa độ của mọi điểm trong thị xã, bất cứ giờ nào, muốn pháo vào đâu là chúng có thể cho chúng ta ăn vài loạt pháo ngay đúng vào chỗ chúng đã muốn. Còn pháo đặt ở đâu thì càng dễ hơn nữa vì nếu An Lộc có cái chu vi thị xã chừng 2 hay 3 cây số thì chỉ có bao nhiêu đó là quân ta đóng chốt để phòng thủ, còn tất cả đất đai, rừng cao su hay rừng già miền Nam chung quanh thị xã đều do địch chiếm ngụ.

Thường dân có mặt ở An Lộc rất ít, chỉ gồm những người bởi một lý do nào đó đã không bỏ đi, nay họ ở lại thì sống 100% bằng nghề buôn bán và khách hàng cũng 100% là lính các đơn vị chung quanh. Họ tập họp theo hai dãy phố lầu dài theo chợ cũ của thị xã cũng như một vài quán tiệm lẻ tẻ đâu đó trong thị xã. Đông nhất là ở ngã tư đường đi Lộc Ninh, hàng quán rất nhiều mà toàn bán café và khách hàng 90% là lính của Liên đoàn 5 vì Bộ Chỉ huy Liên đoàn 5 BĐQ thì gần ngay đó chừng gần 1km. Nhưng tổng số dân sống trong thị xã không lên đến con số vài trăm người và hầu hết là đàn bà. Và vì là cái đảo quốc gia bị Cộng quân bao vây, An Lộc không có giao thông đường bộ trở về bất cứ đâu kể cả về quận lỵ gần nhất (cũng thuộc tỉnh Bình Long) là Chơn Thành.

Nói cho đúng, An Lộc 73 phải nói giống như một cái đảo nhỏ của ta với đường kính vài cây số ở trên mặt biển là VC dầy đặc chung quanh. Nhưng đâu phải chỉ có thị xã An Lộc mà thôi, quận ly Chơn Thành cũng không khác gì vì đó cũng là cái đảo còn nhỏ hơn cả đảo An Lộc. Nói gì về tỉnh kế cận là tỉnh Bình Dương hay xa hơn như thành phố Saigon, tất cả việc giao thông với bên ngoài đảo An Lộc đều phải thực hiện bằng trực thăng, hể tản thương hay quan lớn lên xuống thì là trực thăng cở nhỏ, còn chuyển quân hay lên xuống lương thực tiếp tế cho An Lộc hàng ngày đều trông cậy vào mấy chiếc Chinook của Sư đoàn 3 KQ ở Biên hoà. Mà đã lên xuống bằng trực thăng thì dù trực thăng lớn nhỏ cở nào, VC đều ra sức bắn hạ cho được, việc dùng súng trường là thường, chỉ có một lần cuối năm 74, chính mắt tôi thấy, chúng đã dùng hoả tiển SAM để bắn một chiếc Chinook rớt ngay ngoài hàng rào phòng thủ của quân ta. Dĩ nhiên, VC tràn tới xác chiếc Chinook để tìm chiến lợi phẩm và bên ta, đại đội trinh sát của Liên đoàn 5 BĐQ phải mở đường máu tiến vào xác chiếc máy bay chỉ để khiêng xác 13 người tử nạn trở về. (Phải nói là may mắn thì thường chiếc Chinook chở hơn 30 quân nhưng hôm bị bắn rơi, chiếc Chinook phải câu một bành lương thực thật lớn nên chỉ chở được có 13 hành khách. Có điều không may là nếu nó chở đông thì chở bất kỳ ai, đàng nầy vì bị giới hạn chỉ chở 13 người nên nó chở toàn sĩ quan và đau đớn thay, 13 sĩ quan nầy toàn là sĩ quan BĐQ, trong đó có 10 là của Liên đoàn 5 BĐQ của tôi).

Nếu VC có thể bắn vào thị xã An Lộc bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào thì vấn đề trực thăng mỗi khi đáp xuống là một vấn đề cho quân đội ta vì chỉ trong mấy phút đậu yên trên mặt đất thì chiếc trực thăng đó sẽ là chiếc mồi ngon cho địch bắn… Xin kể bao nhiêu kiểu lên xuống máy bay trực thăng trong suốt thời gian tôi theo đơn vị đóng quân trong thị xã…

Quân ta ở An Lộc

Về quân đội ta trấn đóng ở An Lộc, sau nầy ở lâu tôi biết được là ngoài 2 Liên đoàn BĐQ 3 và 5, chúng tôi còn có mấy đại đội Địa Phương Quân để phụ giúp. Các ban ngành của Tỉnh Bình Long, đa số cũng đóng ở An Lộc như Ty An Ninh Quân đội, một trung đội Quân Cảnh Tư Pháp, một Đài Viễn liên chỉ có chừng một tiếu đội dưới quyền của một thiếu úy trẻ, một Ty Y tế mà chỉ gồm có Bệnh viện Tiểu khu Bình Long v.v…

Nói về BV Tiểu Khu Bình Long thì có nhiều chuyện đáng nhớ. Y sĩ trưởng kiêm Trưởng ty Y tế Bình Long là bác sĩ Tín (hay Tính ? Xin lỗi vong hồn anh tôi không nhớ họ anh mà chỉ biết anh có một nốt ruồi to trên mặt nên từ ngày học Y khoa và biết anh với tư cách Aide d’Anatomie ở Cơ thể Học viện đường Trần Hoàng Quân, tôi nghe ai cũng gọi anh là Tín Nốt ruồi. Sau nầy, tôi nghe anh qua đời vì cái nốt ruồi của anh là Noevo Carcinome. Cám ơn anh Tín rất nhiều ở những cái anh dạy cho tôi) dưới quyền anh Tín chỉ có 2 bác sĩ cùng khóa 19 HD là bác sĩ Chu Phú Chung và Lý Phương Lâm. Vì kế lớp nên biết nhau nhiều, riêng Lý Phương Lâm lại còn học chung trường Võ Trường Toản những ngày ở trung học…)

An Lộc, dấu tích của chiến tranh

Hễ thương binh cần tản thương về chữa trị thì BV Tiểu khu lo cho Địa Phương Quân và các ban ngành khác, còn bệnh xá chúng tôi nhỏ hơn nên chỉ lo cho Biệt động quân. Sau anh Tín đổi đi rồi (năm 74) chức vụ của anh được thay thế bằng bác sĩ Thân Trọng An (sau tôi một lớp, hiện ở Montréal, Canada) và tăng cường thêm 3 bác sĩ rất trẻ cùng khóa 20 HD. Dĩ nhiên, không cần nói, anh em đồng nghiệp ở nơi lửa đạn quen nhau và thương nhau rất nhiều.

Tôi một lần vì bênh vực các đàn em khóa 20 nầy mà đa suýt đánh anh chàng thiếu úy của Đài Viễn liên trong một dịp mời các trưởng đơn vị ăn nhậu ở dinh Tỉnh trưởng (đại tá Phạm văn Phúc, nguyên chỉ huy trưởng Liên đoàn 3 BĐQ thời đi sang Kampuchia năm trước) Ngoài ra, từ ngày VC vây chặc trại Tống Lê Chân thì một số quân nhân của tiểu đoàn 92 BĐQ Biên Phòng (là đơn vị gốc ở Tống Lê Chân) bị kẹt lại không trở về đơn vị được nên họ được tổ chức thành 1 đại đội để lảnh trách nhiệm một tuyến bao quanh An Lộc. Đại đội của 92 nầy được đặt dưới quyền chỉ huy của đại úy Tùng, nguyên tiểu đoàn phó 92, vì đi học gì đó mà bị kẹt lại ở ngoài An Lộc (đ/úy Tùng là anh ruột tôi).

Ngày đầu tiên lên An Lộc

Lần đầu tiên tiếp xúc với pháo của Cộng quân là ngày tôi trở về với đơn vị và lên hành quân. Sân bay trong căn cứ Long Bình được gọi là sân bay cho nó dễ phân biệt với những vị trí khác trong căn cứ chớ thiệt ra, nó chỉ là mảnh đất nho nhỏ được tráng nhựa vừa đủ chỗ cho chiếc Chinook đậu “rước khách” mà thôi. Đường bay Long Bình – An Lộc là đường bay duy nhất của Chinook ở cái sân bay nầy. Chung quanh sân bay là bao nhiêu hàng quán của gia đình binh sĩ, họ ra đó để bán hàng cho quân nhân lên xuống hành quân để kiếm thêm chút đỉnh vào phần thu nhập của gia đình. Vì là bên trong căn cứ nên khi trời nắng thì cái nắng nóng rất khủng khiếp nên các hàng quán nầy đều căng những tấm tarp để che nắng và khách ngồi bu xung quanh nên trông cảnh tượng thật vui giống như mọi hàng quán ở trong nước vậy.

Chiếc trực thăng Chinook to tướng nằm ngay giữa sân bay, người ta đi qua đi lại ồn ào, thông thường là vợ ra đó tiển chồng đi lên hành quân. Các quân nhân có trách nhiệm (trực thuộc đại đội 3 Quân cảnh của Quân đoàn 3) lo việc kiểm soát giấy tờ lên hành quân của các quân nhân hầu hết là BĐQ cũng như lo việc cất hàng lên máy bay để tiếp tế lương thực cho An Lộc. Tới lúc khởi hành thì các quân nhân đi một mình không người đưa tiển ôm cái ba lô hay túi xách lên theo bửng sau mở rộng, lên máy bay càng sớm càng dễ có chỗ ngồi là những sợi dây nylon đan lại với nhau làm ghế cho “hành khách”. Những ai có vợ con đưa tiển thì làm sao tránh được cảnh kẻ ở người đi và nước mắt của mấy bà vợ lính thì đổ ra nhiều vô số kể. Ai cũng biết đây là lần chót thấy mặt chồng, biết đâu sau hôm nay họ sẽ thành goá phụ ? Hay nhẹ ra là ít nhất một năm sau, chồng họ mới được về phép!

Bận bay lên An Lộc có vẽ bình thường vào lúc đầu trừ có mỗi việc trực thăng bay lượn giống như hát xiệc. Những người lính ngồi gần tôi trên trực thăng giải thích là chiếc máy bay càng lạng qua lạng lại nhiều chừng nào là Cộng quân càng bắn lên nhiều chừng nấy và trực thăng lạng là để tránh đạn của địch. Có khi trực thăng còn bắn ra trái sáng để “gạt” hỏa tiển tầm nhiệt của địch … Chừng hơn nửa giờ sau khi bắt đầu bay là mọi người đứng dậy cả, tay ai cũng cầm cái túi hành lý rồi tiến ra phía sau máy bay. Lúc nầy thì chiếc Chinook đã hạ cái bửng sau xuống trống hoác. Tôi thì hoàn toàn không hiểu gì hết, chỉ việc ai làm sao tôi làm vậy, tôi cũng đứng dậy, tay xách cái sac marin hành lý cũng xếp hàng theo anh em. Anh chàng đứng trước mặt tôi quay lại cười với tôi : Bác sĩ mới ra trường hả ? Em hồi đó giờ chưa bao giờ biết mặt bác sĩ … Mình sắp lên tới An Lộc rồi đó … Tôi thì chuyên môn mang huy hiệu hay lon lá bằng chỉ thêu màu đen nên không dễ gì thấy con rắn đen nhỏ xíu trên ngực áo tôi nên tôi hỏi ngược lại :”Sao anh biết tôi là bác sĩ ?””Dạ dễ mà ông. Đâu bao giờ trung úy nào có một đám quân y tá đưa đi như ông hồi nảy đâu.” (Anh chàng nầy đúng là có óc quan sát và suy luận chính xác! Tại anh ta nhìn kỷ lon lá của tôi nên tôi mới nhìn kỷ lại, anh ta mang chữ V cũng thêu đen trên tay áo trái và giờ nầy tôi mới thấy anh là trung sĩ với chữ C A P trên túi áo) Tới lúc nầy, nhờ đứng gần cái bửng sau đã mở rộng, tôi thấy những đường đạn đạo từ dưới đất bắn lên và những tiếng nổ đì đùng của những trái sáng do máy bay thả ra.

Bây giờ thì máy bay đã xuống rất thấp, tôi đã có thể trông thấy mặt đường nhựa loang loáng chạy ngược theo chiều của chiếc máy bay. Những người lính, chắc chắn họ đã lên xuống nhiều lần nên có kinh nghiệm hơn tôi nhiều, bây giờ họ bắt đầu thảy bị quân trang xuống đường và tôi tới phiên cũng phải làm theo tuy chưa hiểu gì cả. Cũng may là cái sac marin của tôi chứa toàn quần áo chớ cở có cái gì bằng sành bằng sứ hay bằng chai thì chắc chắn sẽ bị bể nát ra cả. Anh trung sĩ giải thích : Mình chỉ xuống có một mình chớ xách cái gì thì đâu được … Tôi nghĩ chắc lát nữa khi máy bay đậu lại, anh em sẽ trở lại tìm đồ của mình ai ngờ anh lính đứng đầu tiên kế cái cửa trống phóc đã quay người lại, nhìn vào trong thân máy bay và nhảy ào ra khỏi chiếc máy bay.

Phải tả cho chính xác là tuy chiếc Chinook đã bay thấp sát mặt đường nhưng nó vẫn còn bay và so với xe hơi, phải nói là vận tốc rất nhanh vậy mà trong chớp mắt, những quân nhân có mặt trên máy bay đứng trước tôi về phía cái bửng đã nhảy xuống sạch trơn. Tôi tự hỏi : Không biết nhảy kiểu nầy lại có khách hàng gảy giò gảy cẳng gì cho tôi nữa hay không … Nhưng tôi, sac marin đã thảy xuống từ nảy giờ, đi học khoá Nhảy Dù cũng đã nhiều năm (nhưng cũng còn nhớ chút đỉnh về kỷ thuật nhảy) tới phiên là anh lính đứng sau đã hối thúc. Tôi đành bậm gan, hai tay co trước ngực rồi cũng nhảy với hai chân chụm vào nhau ra khỏi chiếc máy bay vẫn đang ào ào chạy (hay bay?) xà mặt đất. Chưa biết mình vô sự hay không thì Cộng quân đã bắt đầu pháo. Anh trung sĩ đứng phía trước tôi hồi nảy đã kêu lớn : Bác sĩ đừng có đứng dậy coi chừng miểng pháo kích đó ! Và anh đã chạy nhanh xuống chiếc rãnh bên đường.

Thì ra hai bên đường làm như có hai con mương nhỏ dư chỗ cho bao nhiêu người núp xuống và hiện tại, con mương đó đầy những “hành khách” mới xuống máy bay đang nằm tràn lan để tránh những miểng pháo kích đang nhắm vào sân bay. Tôi lập tức làm theo. Khi ở dưới cái mương nhìn theo chiếc máy bay, tôi mới thấy lính ta đã “bay” hết cả xuống đường dọc dài theo con lộ trong khi máy bay đã ra khỏi tầm pháo. Rồi địch tiếp tục bắn … Nhưng ở đầu kia con đường là những anh lính ở hành quân trở về hậu cứ, những anh nầy đã chạy thật nhanh để quăng cái bị hành trang lên máy bay trước khi đu người lên theo. Và ở cuối đường thì chiếc Chinook đã gầm lên dữ dội để bay thẳng lên cao.

Coi như tất cả hành khách, hoặc xuống, hoặc lên máy bay đều đã thanh toán hết. VC còn pháo lẻ tẻ thêm vài trái nữa trước khi tiếng súng im hẳn trả lại cho buổi sáng cái tỉnh mịch của buổi sáng đầu tiên của tôi ở đất An Lộc. Bây giờ thì người ta lần lượt trở lên mặt đường để đi dài dài ngược chiều để tìm hành trang của mình. Anh lính nảy giờ vẫn đi với tôi lại nói :”Mấy thằng chó đẻ nầy sao không bao giờ ngủ yên hết vậy ? Bắn cái gì, có được con mẹ gì đâu mà bắn. Tụi nó lần nào mình lên hành quân cũng cứ bắn hoài, để tụi em đi hành quân ráng sức giết cha nó chết hết để nó khỏi bắn nữa” Rồi sau đó, anh giải thích “Chỗ nầy gọi là phi trường Xa Cam, phi trường của Bình Long đó bác sĩ … Ông lên đây lần đầu mà thấy ông nhảy ngon lành quá há, (rồi chợt thấy bằng Dù tôi đeo trên ngực áo) ơ, ông có bằng Dù mà, hèn chi …” Tôi hỏi :” Ở đây sao gọi là phi trường Xa Cam vậy hả anh ?” “Có gì đâu bác sĩ, ai gọi sao mình gọi vậy, chắc là hồi xưa hổng mất gì con lộ nầy nằm trong cái đồn điền cao su tên Xa Cam chắc”.

Có chiếc xe GMC nảy giờ không biết đậu ở đâu bổng lù lù hiện ra trên đường, sau đó, chiếc xe chạy chầm chậm dọc theo đường để vớt hết những “hành khách” bây giờ đã tràn đầy trên đường, người nào cũng có cái balô, cái bị hoặc sac marin như tôi. Dĩ nhiên, màn lên xe GMC chạy chậm rì nầy quá dễ so với cú nhảy xuống khỏi máy bay vừa rồi. Trên đường từ “phi trường” Xa Cam trở về trại tôi mới biết anh trung sĩ tên là Cấp sau khi anh ta hỏi tên tôi cũng như tôi biết cái dùng để làm phi trường đúng là quốc lộ 13 sắp vào tới thị xã và đã được chọn cho Chinook vì bề ngang trống trải và bề dài dài đủ cho cái kiểu lên xuống máy bay duy nhất trên thế giới nầy. Từ phi trường vô tới trại dành cho Liên đoàn chỉ chừng 2km là cùng nhưng tôi có dịp để quan sát cảnh tượng ở thị xã An Lộc, một thời nổi tiếng là thủ phủ cao su miền Nam cũng như là Dalat của miền Nam.

Bây giờ, cao su thì còn đó, cao su khắp nơi trong và ngoài thị xã nhưng cái giống Dalat không còn nữa, An Lộc bây giờ sao quá quạnh hiu, nhà cửa vô cùng thưa thớt, cái mất thì do lửa đạn pháo kích, cái còn thì nhiều nhất tôi thấy chỉ còn có 2 bức vách với phân nửa cái mái nhà. Cây cỏ trong sân mọc tràn lan, cao thật cao và như những cách rừng nhỏ. Mùa nầy vài loại bông vẫn còn nở điểm thêm màu sắc cho những cánh rừng cá nhân đó. Con đường nhựa trong thị xã chắc là cũng êm ngày xưa, giờ đầy những hang hố làm chiếc xe GMC chạy dằng xóc như ở một con đường hoang dã nào. Tôi cũng như những người bạn chiến đấu của tôi, móc thuốc lá ra hút sau khi mời tr/sĩ Cấp một điếu, riêng tôi để tưởng tượng tới một An Lộc ngày nào thái bình, thịnh trị, đẹp đẽ chớ đâu như ngày nay, cây dại mọc tràn lan ra cả lòng đường nhựa, có cây lên cao bằng tôi đứng trên xe GMC. Tưởng tượng mức pháo tàn phá nhà cửa, đất đai như thế, hỏi con người trong thời đánh nhau năm 72 làm sao sống sót được ? Rồi cổng Bộ Chỉ huy Liên đoàn chợt hiện ra trước mắt với tấm biển Trại Trần Hữu Phương để kỷ niệm tên một sĩ quan ở Tiểu đoàn thuộc Liên đoàn đã tử trận lúc tôi chưa trở về.

Trại Trần Hữu Phương có hai biệt thự tương đối còn nguyên vẹn nằm hai bên cổng, một ngoài vòng rào là của trung tá Liên đoàn trưởng, một ngay bên trong vòng rào là của trung tá Liên đoàn phó. Nếu biệt thự của ông Liên đoàn trưởng chỉ là một căn nhà to đẹp bình thường thì căn ông Liên đoàn phó lại nằm trên cái nền được đổ cao lên cả thước. (Sau nầy tôi mới biết, khi trung tá Liên đoàn trưởng muốn gặp ai, ông ta phải đi bộ qua bên BCH và khi nói chuyện, ông ta đứng ngang như hai người nói chuyện với nhau.

Nhưng ông trung tá Liên đoàn phó thích nói chuyện với bất kỳ ai rất dễ dàng, chỉ bước ra ngoài lan can trước nhà, nếu không có ai nói chuyện với thì cũng quan sát (và kiểm soát) được người ra vào cổng trại Trần Hữu Phương. Mà hể nói chuyện với ai, ông ta cũng chuyên môn nói bằng cái kiểu đứng ở lan can trước nhà ông ta ở đầu cầu thang lên chừng 5, hay 6 bậc cấp. Nhờ thế, ông ta luôn luôn nhìn xuống khi nói chuyện trong khi người đối thoại cứ phải ngẩng mặt lên hoài. Nội vị trí đứng là ta có thể cao ngang bàn chân ông ta và kiểu nầy làm tôi nhớ lúc tôi ở tù ngoài Bắc, mỗi khi “làm việc” với bọn cán bộ, chúng cũng chuyên môn ngồi trên ghế trong khi người tù ngồi đối diện và dưới đất để mình cứ ngõng cổ lên hoài !! Sau lưng biệt thự của tr/tá Liên đoàn trưởng, đối diện với biệt thự của tr/tá Liên đoàn phó là những dãy lô cốt che kín bằng bao cát là nơi cư ngụ của các sĩ quan cũng như các ban ngành thuộc BCH, dĩ nhiên trừ Quân Y có bệnh xá nằm riêng ở cuối con đường chính đi từ cổng vào trại.

Bệnh xá QY Hành quân của Liên đoàn 5 BĐQ

Chiếc xe GMC chầm chậm chạy qua cổng Trần Hữu Phương. Vào tới ngay sau đó là cái sân rộng thênh thang với bao nhiêu quân nhân của Liên đoàn đang đứng lố ngố để đón người mới lên, bên phải là cái biệt thự nền cao (sau tôi mới biết là của tr/tá Liên đoàn phó) bên trái tôi là dãy lô cốt (các lô cốt của sĩ quan BCH LĐ nằm ngay ngắn thành hình vuông để bao quanh cái sân rộng tráng xi măng láng bóng dùng để làm sàn nhảy ngày trước hiệp định Paris. Hàng lô cốt ở sân Liên đoàn nhìn thấy chỉ là một cạnh của cái hình vuông nầy) còn trước mặt tôi là con đường đất đỏ thẳng tắp, rộng rãi, sạch sẽ với vài căn nhà hai bên đường. Tất cả quân nhân trên xe GMC đều nhảy xuống xe, ai với hành trang nấy. Hạ sĩ Long, y tá của tôi từ những ngày xa xưa ở trận Quảng Trị ở trong đám đông chợt tiến đến, dành xách cái sac marin của tôi sau khi chào kính:”Lâu quá mới gặp lại ông thầy. Tui tưởng ông thầy xuất ngoại năm trước trở về chắc giải ngũ mẹ nó rồi ai dè ông thầy còn lên đây với tụi tui …” Anh chàng hạ sĩ y tá nầy, con người rất vạm vở. Đi tới đâu anh ta cũng tìm những vật nặng để dùng làm tạ và việc tập tạ của anh ta không gián đoạn bao giờ. Nhưng anh em QY cũng như các quân nhân khác của BCH LĐ cứ gọi anh ta là Long mập tuy rằng trên người anh ta thiệt không có chút mở nào. Tôi gặp Long mập cũng mừng rở kể gì vì ít ra gặp người quen cũ đã đi chiến đấu với mình (tôi nghĩ giúp cho đời dễ sống hơn toàn người xa lạ).

Ê Long mập, QY mình trên nầy bây giờ còn có ai quen ? Và ai làm y tá trưởng?

Y tá trưởng thì không có sau khi ông chuẩn úy Hải đi Quảng trị về, ổng già quá nên đã đổi đi đơn vị khác, còn trung sĩ nhất Xê, chắc bác sĩ có gặp ổng ở hậu cứ, bây giờ lên thượng sĩ rồi, ổng lo trông coi hậu cứ nên mình trên nầy chỉ có mấy thằng mới đổi về hoặc mấy thằng khùng mới ra trường Quân Y đã ngu chọn BĐQ…

Mầy nói vậy té ra hồi tao ra trường, tao chọn BĐQ cũng là ngu sao?

Long “mập” chưa trả lời thì bấy giờ, đám hành khách đã tan hàng để lo đi về căn cứ của họ. Tr/sĩ Cấp cũng đang xách ba lô đi theo cùng hướng với tôi nên tôi hỏi :

Ủa, trung sĩ đi đâu đây?

-Dạ, em phải trình diện tiền cứ của Tiểu đoàn trước khi vô chốt đã. Bác sĩ gọi em bằng cấp bậc nghe trịnh trọng quá, sao ông không gọi em mầy tao như gọi đệ tử của ông cho thân tình?

-Muốn vậy cũng được, ngã nào chắc mầy cũng nhỏ tuổi hơn tao…

Bây giờ tôi mới thấy, trong khi hạ sĩ Long “mập” và tôi đang đi về hướng bệnh xá Hành quân thì bên phải con lộ chính trong căn cứ là dãy nhà “tiền cứ” của 3 Tiểu đoàn. Cấp chào tôi rồi quẹo vào trong một căn nhà.

Long nói:

Bệnh xá, nhà mình, ở ngay trước mặt đó ông thầy…

Tôi xin độc giả cho tôi vài dòng để tả cái bệnh xá Hành quân của Liên đoàn 5 BĐQ đóng ở thị xã An Lộc năm 1973 vì không hiểu sao, tôi có cái cảm giác rất thân thương với cái bệnh xá nầy tuy nó chứng kiến sự “ra đi” của bao nhiêu bằng hữu, bao nhiêu người lính trẻ và cũng là nơi tôi bỏ bao nhiêu tâm huyết để xây dựng và tồn tại cũng như sống sót ở cái đất dầu sôi lửa bỏng nầy.

Bệnh xá cao khỏi mặt đất chừng 1.5m với những hàng tôn che làm mái và bao nhiêu là bao cát chất đầy phía dưới mái tôn để chống pháo kích. Cái mái tôn hiện ra trước mắt tôi dài chừng 50m nằm thẳng góc với con lộ chính của trại. Bên trái một chút là cái mái nhà nhỏ nhỏ là nơi cửa chính xuống hầm. Tôi lẽo đẽo theo sau Long mập, anh chàng vừa bước trên cầu thang xuống hầm vừa bô bô cái miệng :

“Tụi bây ơi, có bác sĩ Ấn hồi xưa trở lại và lên đây nè!”

Cuối cầu thang chừng 14 bậc, anh em quân y tá đủ mọi kiểu quần áo đã xuất hiện đầy nghẹt, ai cũng chào và mừng rở khi gặp lại tôi làm tôi cảm thấy thật ấm lòng cho sự thương mến của thuộc cấp với mình. Và sẳn mối cảm động trong lòng và sẳn anh em đông đúc, tôi bèn nói mấy câu phát ra từ trong tim tôi:

-Chào mừng các anh em, có gì sướng cho tôi bằng còn sống và có dịp gặp lại anh em. Thời gian tôi ở đơn vị nầy sau khi ra trường chỉ có mấy tháng, tưởng tôi làm gì có được cái vinh dự được anh em thương mến để chào mừng tôi như thế nầy. Tôi xin hứa với lòng và với các anh em, tôi sẽ hết sức làm cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn cũng như Bệnh xá QY của chúng ta không bao giờ là ác mộng của các chiến sĩ trong Liên đoàn 5 BĐQ.

Rồi tôi nói tiếp:

-Ê, cho tôi chút thời gian đi quan sát tình hình bệnh xá cái đã chớ!

Chỗ tôi bước xuống cầu thang và anh em quân y tá đứng đầy ra đó là một căn phòng trống trải, chiều rộng là nửa cái hầm là 2,5m, còn chiều sâu độ chừng 3m. Long mập xách cái sac marin đi vào căn phòng kế bên trong, vừa đi vừa nói:

-Phòng ngủ của bác sĩ nè, em để cái sac marin trong nầy cho ông nhe…

Tôi bước vào nửa bên kia và thấy phòng ngủ (tương lai) của tôi rất nhỏ bề ngang, chỉ vừa đủ hai chiếc giường đóng bằng ván ép với một khoảnh đường đi nhỏ ở giữa. Nhìn thấy hai cái giường, tôi sực nhớ ra Liên đoàn có 2 bác sĩ, ngày xưa trước khi tôi bị bắt làm tù binh thì Y sĩ trưởng là đàn anh trên tôi 1 lớp là anh Huỳnh Kim Trung, còn bây giờ là ai? Tôi có lên hành quân cũng để cho bác sĩ kia, đương kim Y sĩ trưởng trở về để lo chuyện hậu cứ, vậy anh đâu rồi? Như đọc được ý nghĩ của tôi, Long nói:

-Bác sĩ còn nhớ bác sĩ Trung không? Ông mà hồi trước ở Quảng Trị là Y sĩ trưởng LĐ đó, hiện giờ chắc ổng lên trên BCH nên không có ở nhà.

À,anh Trung còn ở đây, thế là tốt lắm vì ít ra, anh với tôi cũng có chút dây dưa cảm tình nên không gì sướng cho bằng, trong quân đội mà có xếp trực tiếp là người biết mình, (quen càng tốt) nay anh Trung mà còn ở đây thì coi bộ tôi sẽ dễ làm việc hơn là một anh lạ nhiều. Thế là tôi ra khỏi phòng để đi tiếp thăm bệnh xá.

Qua cái cửa chỗ phòng khách cạnh phòng tôi ngủ một cái phòng to hơn cả phòng ngủ của tôi và phòng khách vì nó chiếm hết bề ngang căn hầm mà trong đó là bao nhiêu giường ngủ đóng bằng ván ép để nguyên miếng nên chắc chắn không phải dành cho một người nằm. Có người nói với tôi:

-Đám đệ tử ngủ ở đây đó ông thầy.

Trong góc phòng là một cái tủ đứng lớn có khóa. Tôi hỏi:

-Tủ ai mà bự vậy?

Trả lời:

-Tủ đó của anh em xài chung, hể có gì quý giá ai cũng bỏ vô đó cho khỏi mất mát”.”Tủ thuốc ở đâu ?””Tụi em để tùm lum trong phòng ngủ y tá thôi.

Tôi đi ra khỏi phòng ngủ y tá và căn hầm trở nên rộng thênh thang. Với đường đi ở giữa, hai bên là hai dãy giường (cũng bằng ván ép) mà trên đó, tôi liếc sơ cũng chừng 10 người bệnh, kẻ nằm người ngồi nhưng ai cũng nhìn tôi.

Một quân y tá giới thiệu trống không:

-Đây là bác sĩ Ấn, người sẽ thay đổi đi hành quân với bác sĩ Trung đó. Đừng thấy ổng mặt mới mà lại trẻ rồi tưởng ổng mới ra trường nha các anh, ổng ra Liên đoàn mấy năm trước rồi bị VC bắt làm tù binh ở Quảng Trị bây giờ trở về lại với mình đó.

Thương bệnh binh xì xồ gì đó nhưng không ai nói với tôi nên tôi đi thẳng.

Nếu căn phòng chính vá to nhất của bệnh xá là trại bệnh thì cuối hầm lại là cái cầu thang lên xuống cũng giống như cầu thang tôi xuống hầm hồi nảy. Có người nói :”Cầu thang nầy đi ra cửa sau bệnh xá đó ông thầy.” Tôi đi theo cầu thang lên lầu thì thấy nhà bếp của QY. Nhà bếp Hành quân của lính thật là đơn giản, không có gì ngoài chiếc bàn dài làm bàn ăn với 2 cái băng hai bên làm ghế ngồi. Bên cạnh đó là một cái kệ được xây bằng đất nung để làm bếp, một cái tủ làm garde manger. Tôi tới ngồi trên cái băng ghế nhìn quanh quất thì thấy miếng đất ngay bên cạnh cửa sau bệnh xá rộng chừng 15X15m cây cỏ mọc um tùm giống như những cái vườn trong sân dân nhà Bình Long hồi tôi đi qua, vài cái thùng phuy đựng nước dùng trong bếp và cầu tiêu xa xa hơn nữa. Nhưng đáng kể nhất là ngay cạnh giữa bệnh xá và hàng rào phía sau của Trại là một cái nghĩa trang và tôi được cho biết, trong những ngày đánh lớn ngay trong thị xã năm 72, tử sĩ quân ta không được đưa xác về vì trực thăng lên xuống không được, vì thế phải chôn tại chỗ. Trước mặt tôi là Nghĩa trang Tử sĩ Liên đoàn 3 BĐQ, vì ở trong cái đảo An Lộc mà chung quanh là biển VC nên mồ mả có vẽ tiêu điều, cỏ tranh mọc tràn lan và không hương khói gì cả. Tôi chợt buồn …

Sau màm thăm nhà thăm cửa của mình, tôi bèn đi một vòng BCH coi như ma mới dọn nhà về đi chào ma cũ ở hàng xóm. Nhưng trong óc tôi, chưa bao giờ tôi nghĩ ra được An Lộc nói chung và bệnh xá của QY chúng tôi sẽ là nhà của tôi trong một năm rưỡi nữa cho tới cuối năm 74.

Trần Trung Cấp, lần gặp cuối

Buổi sáng kia, một trung sĩ xăm xăm đi tới bệnh xá và hỏi tôi có ở hành quân không ? Sẳn sáng cũng còn sớm nên tôi sắp lên nhà bếp để uống ly café sữa sáng. Trông thấy anh trung sĩ, tôi nhớ mặt quen quen nhưng không nhớ ra là ai, anh chàng cười lớn, chào tôi và nói :

Bác sĩ quên em rồi hả ? Em là thằng Cấp, bửa bác sĩ lên An Lộc lần đầu là ngồi kế em đó …

Ừa, nhớ ra rồi. Em về phép hả? Sướng nhá …

Phép gì mà phép lia liạ vậy bác sĩ. Bửa về phép lần trước rồi trở lên gặp ông chưa được năm mà, dễ gì ai cho đi phép nữa hả ông?

Thì mầy kêu VC cho mầy xin viên đạn đi, hể tản thương về đây thế nào mầy cũng được tản thương về dưới hà…

Y tá của tôi, không biết ai đã nói vậy. Tiếp theo là mấy thương binh cũng nhao nhao chen lời:

-Ờ, ráng bị thương đi mầy, sẳn có ổng ở trên nầy là mầy đi phép coi như chắc chắn đó …

(Cấp:) Tụi bây nói vậy chớ lỡ ăn viên đạn của VC rồi tao “đai men” làm sao ? Còn nói ổng cho mấy thằng bị thương tản về dưới sao tụi bây còn ở đây?

(Một thương binh): Trung sĩ có nhớ bửa trước, VC tấp chốt ban đêm cả chốt tui 3 thằng đều bị thương không ? Vậy mà bửa nay có mình tui ở đây hà tại 2 thằng kia gần lành rồi nên thay vì trả ra đơn vị đánh giặc tiếp, ổng cho về phép tản thương hết rồi… Hể mà gần lành ổng mới cho về chớ nặng, ổng nói, chỉ về cho bà già khóc và báo vợ báo con thì về làm chi?

Tôi cứ ngồi yên, lẩm nhẩm uống cà phê để cho Cấp và mấy thương binh nói chuyện lung tung hết bị thương tại cái gì, tản về bệnh xá rồi ăn ở ra sao, bác sĩ của mình chữa bệnh ngon lắm ra sao, mấy cha ca tôi nhiều quá làm tôi “quê” nên tôi mới xía vô:

-Thôi mấy thằng ông nội, đụ mẹ ca cho tao cũng ca vừa vừa thôi, ca quá người ta cho là xạo đó…

Nhưng Cấp đã hiểu được câu chuyện khá nhiều, QY phải nuôi ăn chùa cho thương binh nên ăn uống giống như kinh nguyệt, trồi sụt bất thường. Anh em cố trông cậy vào tài bi da của thằng Phỉ (mới ra trường QY) và tài đánh domino(công ký) của tôi và trung sĩ nhất Bảo khi có độ đụng với bất cứ ai ngoài QY !! Tôi cũng ráng vừa học bida của Phỉ, vừa học domino của trung sĩ nhất Bảo với hy vọng kiếm thêm chút đỉnh cho QY (Tôi cũng đâu dè Trường QY gởi về tôi một binh nhì đánh bi da hay hiếm thấy cũng như chuyện kéo trung s ĩ nhất Bảo ở Trinh Sát về là thêm tay domino xuất thần nhập hóa cho chúng tôi kiếm thêm tiền đi chợ!)

Nếu lần đó, trung sĩ Cấp chỉ ra Liên đoàn vì có công tác gì đó thì nhiều lần sau, Cấp đem ra cho chúng tôi khi trái bí, khi trái mướp, thậm chí cả thịt rừng mà anh đã bắn được trong chốt (heo rừng nhiều nhất, sau đó là đủ loại con từ nhỏ tới vừa vừa… và đời tôi, sống ở An Lộc l à giai đoạn tôi được ăn thịt rừng nhiều và thích lắm nhưng sau An Lộc, tôi không bao giờ ăn thịt rừng trong tiệm ăn ở Saigon nữa cả -vừa không ngon, vừa tội nghiệp con thú rừng và vừa phá hoại thiên nhiên-)

Thì ra tình trạng ở trong chốt cũng giống như tôi làm vườn, lính mình cũng ráng dành thời giờ chút đỉnh để trồng trọt cho có gì ăn thêm nên ai ở trong chốt lâu chừng nào thì có nhiều cây trái chừng nấy. Không những một mình Cấp mà anh ta nói sao đó nên trong chốt, lần lượt bất cứ Tiểu đoàn hay đại đội nào, thỉnh thoảng đều có quà cho QY cả và từ đó, sự ăn uống của anh em và tôi cũng không đến nỗi nào (còn khá hơn ăn trên nhà bàn Sĩ quan nhiều) Phải nói miếng ăn là miếng tồi tàn nhưng trong những trái bầu trái bí hay đơn giản như một cái đùi heo rừng cho bệnh xá QY, chúng tôi ai cũng cảm nhận được sự cố gắng của mình đã được anh em ghi nhận và riêng tôi, tôi sung sướng là được anh em hạ sĩ quan, binh sĩ mến thương cho dù trái bầu, trái bí tuy rằng đó chỉ là những món vô cùng đơn giản trong gia đình VN.

Từ đó, bệnh xá là giống như quán xá thì đúng hơn, bao nhiêu hạ sĩ quan, binh sĩ ghé chơi ngày nào có chuyến bay (những ngày mưa bão hay đánh nặng quá trong chốt thì máy bay không lên, có lần tôi ôm 3 cái xác chết -tiếng nhà binh gọi là tủ lạnh- mà không có máy bay lấy gì mà chở về, chúng tôi đã phải để 3 cái xác chết nằm ở cái chái trong sân BCH kề bên bệnh xá và khi xác bốc mùi -hể xác có mùi là máy bay sẽ từ chối chở, không biết tại sao nữa- chúng tôi phải mở poncho ra để cởi đồ nạn nhân rồi lau cả người xác chết, sau đó lại bó poncho trở lại gọn ghẻ và đẹp đẻ hơn trước- Tôi nhớ mãi có một lần, cả chục ngày liền không có máy bay cho dù là kêu gào trực thăng tản thương lia lịa và kỳ đó, mỗi xác chết chúng tôi phải làm thủ tục “clean up” và “re-packaging” những mấy lần.

Cấp cũng vậy. Từ cái quen biết có một chuyến bay đi chung tới sự ra Liên đoàn ghé bệnh xá chơi nhiều lần và lòng kính trọng tôi của Cấp dần dần biến Cấp từ một người xa lạ trở thành một nhân vật rất quen biết của QY và anh đối với tôi không phải đơn giản là giữa 2 người lính mà như 2 anh em. Không biết Cấp nghĩ sao về tôi chớ thật ra, tôi coi Cấp như em ruột tôi chẳng bằng. Nếu Cấp mỗi lần ra là xách theo cái gì đó cho QY thì tôi cũng hay kiếm cái gì trong bệnh xá để cho Cấp đem về chốt để có ăn.

Một lần sau, cả năm sau khi tôi lên An Lộc chớ ít gì, Cấp ra tới Liên đoàn, miệng cười hớn hở nói với tôi:

Sao lạ quá, lần nầy bộ nhờ lên lon sao mà chưa tới năm đã được đi phép…

Bây giờ tôi mới nhận ra Cấp đã lên trung sĩ nhất. Những cuộc nói chuyện trao đổi thường lệ diễn ra cho tới khi tiếng ơi ới của mấy người được đi về Long Bình văng vẳng vọng xuống bệnh xá thì Cấp chào tôi và mấy quân y tá rồi xách ba lô đi. Đúng 3 ngày sau, tôi được nghe trung sĩ nhất Bảo nói với tôi:

-Thằng Cấp sao đi có 3 ngày mà đã lên rồi.

Tôi đáp :

Chắc gia đinh nó bị quan hôn tang tế gì nên nó đi phép ít ngày chớ gì. Kệ mẹ nó, lát nó ghé thì mình hỏi để chia buồn với nó…(tôi nghĩ cha mẹ Cấp chắc có chuyện tang lễ gì đó…)

Đâu được ông thầy. Nó lên và đi thẳng vô trong chốt luôn rồi.

(À, cái đó mới lạ dử, tôi có ý giận sao Cấp lên không ghé tôi mà đi thẳng vô chốt …)

Tối hôm đó, tôi nghe thật xa có tiếng nổ lớn và chỉ một tiếng mà thôi. Anh em QY bàn với nhau : không biết là nổ cái gì mà tiếng nghe như lựu đạn nhưng lạ ở chỗ, cho dù ta hay VC tấp chốt nhau thì phải có nhiều tiếng nổ mới đúng chớ, đàng nầy chỉ có một tiếng rồi ngưng.

Có người bàn:

Chắc thằng gác thấy cái gì nên toong ra một trái lựu đạn…

Nhưng chỉ giây phút sau là QY có điện thoại để đi vào TĐ30 chở cái tủ lạnh. Ai tấp chốt ai mà Tiểu đoàn 30 lảnh một con như vậy? Cũng thời là mấy tiểu đoàn BĐQ của Liên đoàn nhưng vì ở lâu nên VC biết hết tình hình quân ta nên thường thường, VC né gần như không bap giờ muốn “chơi” với Tiểu đoàn 30 cả vì tiểu đoàn nầy đánh giặc rất ngon lành và nổi tiếng từ Kampuchia (căn cứ Alpha) cho tới nay, sao lại Tiểu đoàn 30 ? Nhưng thắc mắc gì thì thắc mắc mà nhiệm vụ của chúng tôi vẫn cứ thi hành như thường lệ. Tủ lạnh thì thường hể ban đêm chúng tôi để ở cái nhà sập nghiêng cạnh bên QY để sáng rồi sẽ rửa ráy sau trước khi đưa lên trực thăng để chở về hậu cứ nhưng vì chưa biết có thương binh hay không nên thầy trò chúng tôi sẳn thức thì thức luôn để chuẩn bị.

Một lát sau, khi tiếng xe jeep của Sáu Gà (lúc đó jeep của Sáu Gà chưa bị bắn nên tối còn dùng đi tản thương được) đỗ xịch ngoài cửa sau bệnh xá chỗ nhà bếp, anh em chúng tôi ùa lên để phụ khiêng cái tủ lạnh xuống và đón thương binh nhưng không có thương binh nào cả mà chỉ có một cái tủ lạnh. Làm như linh tính bảo tôi sao đó mà tôi muốn cởi cái poncho do Tiểu đoàn bó xác ra để lau rửa nạn nhân thay vì chờ trời sáng như thường khi và quý vị có biết, cái xác nằm trong poncho khúc mình đã nát bét, chỉ có khúc hai chân và may mà cái mặt còn y nguyên và cái mặt đó là cái mặt của Trần Trung Cấp, người lính trẻ vừa lên trung sĩ nhất có mấy hôm. Anh chàng quân y tá của tôi đã tháp tùng Sáu Gà đi tản thương cho biết, Cấp đã đuổi tất cả anh em tiểu đội ra ngoài lô cốt để nằm trên võng và ôm trái lựu đạn vào bụng một mình để tự tử.

Việc Cấp tự tử hoàn toàn đi ngược với suy nghĩ của tôi, nếu nói VC bắn sẻ anh hay anh tấp chốt rồi tử trận thì còn có chỗ vô lý vì đã sống lâu ở An Lộc nên Cấp sống rất sành nghề trong chốt, không dễ gì VC bắn sẻ anh được. Chỉ có tấp chốt thì có lý vì Cấp vẫn nỗi tiếng là gan dạ (bởi vậy lên lon lẹ so với cấp bậc hạ sĩ quan) nhưng tự tử? Cấp trẻ trung, yêu đời, vui vẻ, lễ phép, có thể nói tôi hoàn toàn không tin được mà cũng bao giờ đoán được người như Cấp lại đi tự tử !! Thầy trò xúm nhau tắm rửa, thay đồ cho Cấp lần cuối cùng của anh nhưng tôi, đã dạn dầy quá nhiều ở mặt trận, sao nước mắt cứ chảy xuống nhoè cả mắt?

Tôi nói :

-Tụi mầy lo cho nó đi, tao không muốn dòm thấy nó như vầy đâu.

Mấy ngày sau, tôi được gặp trung úy đại đội trưởng của Cấp trong một dịp anh chàng ra BCH Liên đoàn để họp. Anh ta đưa cho tôi một lá thơ, nói của Cấp nhờ trao lại cho tôi. Tôi chỉ liếc qua là xong vì bức thơ chỉ có một dòng chữ và không dừng được, tôi chỉ có thể nói “ĐM!” Nguyên văn lá thơ như sau:

Xin lỗi anh nếu làm anh buồn nhưng là bác sĩ, anh có thấy trường hợp ai không ngủ với chồng cả năm mà có con 3 tháng không?-Cấp-

Xin quý vị đọc giả tự hiểu dùm cho tôi vì chính tôi, tới giờ nầy vẫn thấy thương Cấp và thù ghét người đàn bà lỡ làm vợ Cấp. Tại sao bao nhiêu người chờ chồng được mà cô ta thì không để quân đội mất đi một chiến sĩ can trường và chúng tôi mất đi một người em dễ mến?

Cũng may, không lâu sau thì tới phiên tôi rời An Lộc vĩnh viễn bởi lý do giải ngũ nhưng tới ngày hôm nay, gần 40 năm sau, tôi vẫn nhớ hoài An Lộc của thời 73 và Trần Trung Cấp. Tôi, cả chục năm trước có dịp về VN, tôi đã mướn xe lên An Lộc chỉ với ý niệm tìm lại cái gì của ngày xưa nhưng tôi đã bị lạc, An Lộc bây giờ là của chế độ mới với bao nhiêu nhà tư bản đỏ đã biến An Lộc của Trần Trung Cấp và tôi khác đi quá mất rồi..

Nguyễn Ngọc Ấn

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s