Phạm Gia Đại – Những Người Tù Cuối Cùng (3)

Phần IX: Thân Mẫu Tại Đường – Như Lai Tại Thế

 Trong thời gian được ở chung trong cùng một trại giam ở miền Bắc với quí thầy Nha Tuyên Úy Phật Giáo, tôi có cơ duyên học hỏi nhiều điều hay cả về đời và về đạo. Một lời chỉ dậy mà tôi ghi nhớ nhất trong lòng là hình ảnh diệu kỳ của người Mẹ trong câu:
“Thân mẫu tại đường -Như Lai tại thế”.
Câu châm ngôn này nói lên vai trò và công lao to lớn nuôi nấng con cái của người Mẹ khi còn sống trong gia đình cũng ví như Đức Phật đang còn tại trần gian để cứu vớt chúng sanh ra khỏi sự trầm luân của bến mê khổ ải.
Điều này cũng nói lên sự may mắn cho những gia đình nào còn có  Mẹ thì sẽ vững vàng và được che chở giống như trên Thế gian còn Đức Phật đang đi hoằng dương Phật Pháp vậy.
Quả thật Mẹ tôi đã đóng một vai trò rường cột suốt bao nhiêu năm trong thời bình hay trong thời loạn lạc giặc giã triền miên hơn bốn chục năm trên đất nước Việt Nam từ Bắc vào Nam.
Mẹ tôi là con gái lớn trong gia đình và quê bên ngoại tôi trong tận Thanh Hóa. Vì là chị lớn trong nhà nên Mẹ tôi đã sớm phải rời sân trường mà ra đời buôn bán để đỡ đần ngoại và nuôi các em, và trở thành trụ cột của gia đình .
Tôi ít khi nghe Mẹ kể về ông Ngoại và chỉ biết là ông mất sớm và bà ngoại thì rất là hiền lành và chân chất của người phụ nữ miền quê.
Chuyện tình của Ba Mẹ tôi thì thật giản dị nhưng không kém phần lãng mạn.
Trong những chuyến đi buôn bằng xe lửa từ Thanh Hóa ra Bắc, Mẹ tôi đã gập Ba tôi lúc đó là “xếp” trên đoàn xe và y như trong tiểu thuyết, Ba tôi đã bị một “cú sét”  khi nhìn thấy Mẹ tôi trong những chuyến tầu ngược ra Bắc để bỏ hàng.
Mẹ tôi tuy ở miền thôn dã ngoại ô của  thị xã Thanh Hóa nhưng lại có một vẻ đẹp rất là tỉnh thành và tuy mới mười tám tuổi nhưng đã rất là chững chạc và đảm đang và rất nhiều trai tráng trong làng quê đã theo đuổi nhưng Mẹ tôi chẳng chịu ai cả.
Khi gập Ba tôi, một con người học thức, điển trai và “ga lăng” luôn giúp đỡ Mẹ tôi trong từng chuyến hàng thì Mẹ tôi cũng không khỏi cảm động trước tình cảm ấy.
Lúc đó chắc Mẹ tôi cũng không thể ngờ rằng cuộc đời mình sẽ phải trải qua ba giai đoạn thử thách ghê gớm theo vận nước thăng trầm mà nhiều người đã không vượt qua nổi.

Mỗi khi nghe Mẹ kể lại về cuộc đời mình, tôi đều nghĩ rằng chính cái Tâm của Mẹ tôi thật tốt, trung hậu và hay giúp đỡ người cho nên Trời Phật đã độ trì cho qua được bao nhiêu là gian nan thử thách và hiểm nghèo trong một quê hương đã quá lầm than vì giặc giã, chiến tranh và đói khổ.
Giai đoạn đầu tiên là khi Ba Mẹ tôi lấy nhau được hơn một năm thì chiến tranh Thế Giới lần Thứ Hai bùng nổ, Mẹ tôi không kịp về được Thanh Hóa để đón Ngoại và các em mà phải theo chồng ngược lên Yên Bái để đứng ra khai phá một đồn điền cao su với người em rể là chồng của cô em út Ba tôi.
Công việc tuy vất vả nhưng tiến triển rất tốt cho đến khi chiến tranh lan dần đến Yên Bái và các đồn điền trở thành vùng mất an ninh và hoang dã vì Việt Minh bắt đầu phá hoại các ruộng vườn và trang trại để chống lại Pháp trong chiến dịch “Vườn Không Nhà Trống”, nên Ba Mẹ tôi lại tản cư về Nam Định để giúp ông chú rể là chồng bà cô ruột của Ba tôi gây dựng nên xưởng làm sà phòng.
Ông chú này chỉ biết công thức sản xuất nhưng lại không biết phương pháp làm sao để chế tạo ra được sà phòng nên mới mời Ba tôi cộng tác.
Nghĩ tình bà cô ruột của mình nên Ba tôi nhận lời. Chỉ một thời gian ngắn sau với sự tìm tòi và nghiên cứu ngày đêm của Ba tôi, xưởng sà phòng mới mang tên “Sao Mai” này đã thành công ngoài mức dự tính vì phẩm chất của nó còn tốt và rẻ hơn cả xà bông “Cây Đờn” của ông Trương Văn Bền, lúc đó hầu như là nổi tiếng nhất và chiếm lĩnh hầu hết thị trường từ Nam ra Bắc.
Nhưng thực tế thật là phũ phàng vì sau khi thành công và nắm được cách sản xuất và pha chế trong tay thì ông chú rể đã nhẫn tâm hất Ba tôi ra để hưởng lợi một mình.
Ba tôi quá tức giận và qua nhà ông chú này tính chuyện sẽ hỏi thăm sức khỏe cái ông chú rể vô lương tâm này nhưng mà bà cô ruột thì chắp hai tay lại mà xá Ba tôi xin tha cho ông chú rể và Mẹ tôi lại khuyên nên bỏ qua và tìm công việc khác vì Ba tôi là người có tài vì nếu có chuyện gì không hay thì Ba tôi sẽ vào tù, còn người nào ăn ở không phải thì Trời Đất sẽ trừng phạt họ.
Quả nhiên chỉ vài tháng sau thì nghe tin ông chú rể đó mắc bệnh nan y và đã qua đời, cũng chẳng mang theo được đồng xu nào.
Rất may là Ba tôi đã nghe theo lời Mẹ tôi khuyên nên bỏ qua, hơn nữa lúc đó bom đạn lại bắt đầu tàn phá thành phố Nam Định và các xưởng thợ nên Ba Mẹ tôi lúc đó được bốn con trai mà tôi là thứ tư vừa sanh được mấy tháng thì lại tản cư và gia đình rời Nam Định ra làm ăn ở Hải Phòng.
Trong suốt các thời gian gây dựng lên cơ nghiệp từ làm đồn điền đến nhà máy dệt, xưởng sà phòng, bao giờ Mẹ tôi cũng là người theo sát bên Ba tôi như hình với bóng để yểm trợ và cố vấn những lúc khó khăn.
Điều mà tôi phục Mẹ tôi nhất là dù không được theo học hết bậc tiểu học nhưng đầu óc tính toán đâu vào đấy và làm gì cũng đều hợp tình hợp lý, và những lúc còn hàn vi hay khi đã giầu có thì Ba Mẹ tôi  vẫn coi trọng tình cảm và họ hàng trên đồng tiền.
Đằng sau sự thành công của Ba tôi với ba lần thành triệu phú trong khoảng hơn mười năm loạn ly ấy chính là công lao cần cù nhẫn nại và hy sinh của Mẹ tôi.
Khoảng năm một chín năm mươi thì Ba Mẹ tôi về đến Hải Phòng, còn gia đình cô ruột em út của Ba tôi là cô Hanh thì về Hà Nội và phát triển ngành buôn nước mắm vì có mấy người bạn thân của Ba tôi là bác Tăng và chú Huê trong Nam đang làm ăn phát đạt tại Phú Quốc và Phan Thiết.
Rồi không ngờ nước mắm Việt Hương của Ba Mẹ tôi lại được ưa chuộng và thế là phất lên thành triệu phú một lần nữa tại Hải Phòng và cô tôi thì triệu phú tại Hà Nội. Đó chính là công sức vô cùng kiên nhẫn và khổ cực của Mẹ tôi đã phải đi chào những mẫu hàng nước mắm ngon từ Hải Phòng qua Hải Dương lên gần đến Hà Nội mấy năm trời đến gầy rộc đi vì lao lực.
Ba tôi là người rất thương vợ con cho nên đã mua đủ thứ sâm, nhung, yến để tẩm bổ cho Mẹ tôi và ông Nội tôi cũng hốt thêm nhiều thang thuốc bổ nữa cho con dâu và pha chế các sâm nhung đó với các vị thuốc bắc và nhờ đó mà Mẹ tôi mau lại sức.
Ba tôi khi về Hải Phòng đã mua tặng cho Mẹ tôi đủ thứ nữ trang, kim cương, và vòng vàng ngọc thạch để đầy cả một hộp, nhưng trong những quà tặng của Ba tôi dành cho Mẹ thứ mà tôi thấy quí nhất là cái áo choàng bằng lông thú mầu trắng tinh mà khi mặc vào thì Mẹ tôi trông thật là đẹp và sang trọng.
Cái áo đó tôi nghe Mẹ nói là giá tới mười ngàn đồng, theo thời giá bấy giờ thì lương của công chức chỉ khoảng một ngàn một tháng.
Tôi còn nhớ khi còn rất nhỏ ở trong căn nhà rộng lớn như một dinh thự hơn một mẫu đất tại đường Cầu Đất, Hải Phòng, mỗi buổi tối tiền bán được trong ngày đổ ra đầy cả hai cái chiếu và bốn anh em chúng tôi ngồi xuống chung quanh chiếu để đếm và sắp xếp lại ngay ngắn từng chồng tiền một, từ loại một đồng, năm đồng cho đến mười đồng cho Mẹ. Mỗi ngày Mẹ lại cho anh em chúng tôi mỗi người một đồng bỏ vào ống để dành để dậy cho các con tính tiết kiệm.
Lúc đó chúng tôi chưa biết đến giá trị của đồng tiền nhưng quả là sống trên nhung lụa, nhưng tiếc rằng Ba Mẹ quá giầu có khi mà mình thì lại còn bé nên chẳng hưởng được bao nhiêu thì Hiệp Định Giơ Neo 20-7-1954 chia đôi Nam Bắc và khi chúng tôi trưởng thành trong miền Nam thì gia đình lại suy vi.
Suốt trong những năm tháng chiến tranh liên miên giữa Nhật và Pháp rồi Pháp và Việt Minh, bao lần gây dựng nên cơ nghiệp rồi lại đổ vỡ, bao lần tản cư đi tránh đạn pháo thì Mẹ tôi chính là người đã đem lại sự yên ổn và an toàn cho gia đình và nhiều họ hàng nữa cho đến ngày di cư vào miền Nam.
Giai đoạn thử thách thứ nhì là khi di cư vào miền Nam được năm năm thì Ba tôi bị bạo bệnh và qua đời khi Mẹ tôi mới vừa bốn mươi.
Bây giờ nghĩ lại thì lứa tuổi bốn mươi thật ra còn quá trẻ mà Mẹ tôi đã nhất quyết ở vậy để nuôi con chứ không bước đi bước nữa.
Thời gian đó tôi thương Mẹ tôi rất nhiều vì thấy có lúc Mẹ đau khổ quá vì chồng thì không còn nữa mà nợ nần tứ tung. Khi ấy tôi đang học Đệ Tứ trường Trần Lục ở Tân Định và mỗi buổi tối phải nhận lại tư gia kèm thêm cho các em thi tiểu học để kiếm thêm ít tiền giúp cho Mẹ trong khi các anh lớn đã vào quân đội và các em gái thì tập may vá thêm.
Nhưng Mẹ tôi đã can đảm đứng lên làm lại từ đầu và chuyển qua nghề may sản xuất quần áo trẻ em và nhờ đó mà gia đình đứng vững trở lại và từ từ đã trả hết nợ nần khi Ba tôi mang bệnh.
Một lần nữa Mẹ tôi lại cứu gia đình thoát khỏi cơn nguy biến và gia đình bắt đầu hưng vượng trở lại khi tôi học xong Tú Tài II, vừa vào đại học vừa đi làm giúp cho Mẹ, và khi mà hàng quần áo trẻ em cũng đang trên đà phát đạt với cửa hiệu ngay ngoài mặt đường Trương Minh Giảng, Quận Ba, Sàigòn.
Giai đoạn thử thách thứ ba khi mất miền Nam vào tay Cộng Sản năm 1975 mới chính là khoảng thời gian mà hình ảnh người Mẹ hiền lại hiện lên rõ nét nhất để giữ vững cho đại gia đình anh em chúng tôi không bị tan vỡ trước những âm mưu thâm độc của kẻ thù nhằm phá hoại các gia đình có thân nhân theo chế độ cũ VNCH.
Trong lúc mà ba anh em chúng tôi đang bị giam giữ tại các trại tập trung thì ở nhà Mẹ tôi có tên trong sanh sách những gia đình trong thành phố Sàigòn bị trục xuất đi kinh tế mới để bọn cán bộ phường khóm tịch thu nhà cửa và tài sản theo chính sách ăn cướp của Đảng và Nhà Nước của chúng trên toàn miền Nam.
Bao nhiêu lần chúng kêu Mẹ tôi ra Phường, ra Khóm để họp hành nhưng mục đích là để ký tên vào tờ đơn giao nhà cửa cho chúng nhưng Mẹ tôi đã cương quyết không ký không giao nhà và cũng không đi vùng kinh tế mới luôn.
   Bọn chúng tìm cách chụp mũ Mẹ tôi là chống lại chính sách của Nhà Nước nhưng Mẹ tôi nói rằng Mẹ tôi chỉ hoãn thi hành chứ không phải chống lại lệnh của Nhà Nước. Lý do chưa thể giao nhà cho địa phương quản lý và chưa đi vùng kinh tế mới được vì ba con trai đang đi tù “cải tạo”, nếu giao nhà thì khi ba người con được thả về biết tìm mẹ tôi ở đâu.
Suốt một năm trời chúng hạch xách mẹ tôi đủ thứ nhưng Mẹ tôi vẫn cương quyết theo lý luận của mình và không ký nhận bất cứ đơn từ nào.
May mắn là sau đó chúng đã để cho Mẹ tôi được yên thân trong một thời gian vì bọn cán bộ địa phương đã tịch thu được không biết bao nhiêu là căn nhà và tài sản trong thành phố Sàigòn để chia chác cho nhau và cho cả bọn cán bộ từ ngoài Bắc vào nữa.
Thế nhưng Họa vô đơn chí vì mới tạm yên vụ đi kinh tế mới thì chúng quay sang đánh tư sản để một lần nữa lại trấn lột một cách trắng trợn người dân miền Nam.
Các bài bản trước kia áp dụng tại miền Bắc sau năm 1954 bây giờ bọn chúng đem ra thi hành tại miền Nam để ăn cướp công khai và vơ vét thêm một lần nữa tài sản dân chúng.
Mẹ tôi chỉ có một cửa hàng bán quần áo trẻ em coi như một tiểu thương tại Quận Ba mà cũng không thoát khỏi cặp mắt cú vọ của chúng. Rất may cho gia đình là một anh trước kia giúp việc cho Mẹ tôi đã thông báo cho biết tin này nên Mẹ tôi đã di tản được hầu hết vải vóc, quần áo và những thứ quí giá ra khỏi nhà kịp thời.
Phường khóm đã cho một tiểu đội thanh niên nam nữ vào nhà Mẹ tôi và trú đóng ngay trong nhà 10 ngày đêm để đào bới, cậy vách, đào sân, xâm xoi mọi nơi chủ yếu tìm tiền và vòng vàng để tịch thu.
Mỗi khi các em gái tôi đi chợ thì chúng cũng cho người đi theo suốt từ nhà ra chợ và từ chợ về nhà, sợ tẩu tán tài sản.
Cuối cùng chán nản chúng cũng bỏ cuộc và rút quân bởi bọn chúng không lấy được gì vì còn mấy lạng vàng thì Mẹ tôi để ngay trước mắt bọn chúng trong phần giẻ lót của cái giỏ nan bọc cái ấm tích nụ vối mà Mẹ tôi vẫn uống hàng ngày mà bọn chúng không biết.
Ngoài việc phải căng thẳng đầu óc đối phó với bọn phường khóm ngày đêm rình rập để hãm hai, Mẹ tôi còn thường xuyên liên lạc với gia đình vợ con anh em chúng tôi để giúp đỡ, nhờ đó mà gia đình tôi trong những năm tháng tôi trong tù, cũng không đến nỗi cơ cực như nhiều gia đình khác.
Mỗi khi các cháu thiếu thốn gì thì lại chạy ra bà Nội ở Trương Minh Giảng, cho nên tuy các cháu sống cạnh bên Ngoại trong Phú Lâm nhưng lại gắn bó nhiều với bên Nội và các cô chú trong những năm tháng đầy khó khăn đó.
Đến khi mà gia đình được phép vào thăm nuôi anh em chúng tôi trong trại giam ở miền Bắc thì Mẹ tôi là người tổng chi huy việc mua bán, sắp xếp các thùng quà hay giỏ hàng, xin giấy phép tại địa phương, mua vé xe lửa ra Hà Nội, v.v. và giao cho các em tôi mỗi đứa một việc.
Trong khi chuẩn bị các thứ gửi cho hai anh em tôi thì ở nhà Mẹ và các em tôi lại luôn dành dụm tiết kiệm mọi thứ để ưu tiên cho hai anh em tôi trong tù
Chuyến đầu tiên ra Bắc thì Mẹ và cô em gái tôi là người đi thăm hai anh em tôi trước tiên để dò xét tình hình ra sao rồi những chuyến sau thì Mẹ tôi mới chuẩn bị đầy đủ cho hai nàng dâu ra thăm chồng.
Sự chu đáo của Mẹ và các em tôi trong suốt mười bốn năm trời ròng rã gửi quà và đi thăm nuôi từ Bắc rồi vào Nam, cộng với sự trợ giúp từ Mỹ gửi hàng về của vợ chồng anh Ba và vợ chồng cô Bẩy em gái tôi, đã giúp cho hai anh em tôi phục hồi được sức khỏe và thêm sức chịu đựng những năm sau này trong trại giam.
Anh cả tôi khi đang bị giam trên Hoàng Liên Sơn năm một chín bẩy chín đang trong tình trạng kiệt sức, đã nói rằng nếu mà không nhận được mười gói bưu kiện một ký lô gồm thuốc men, quần áo ấm và thực phẩm khô mà Mẹ tôi gửi ra ngay sau khi nhận được thư của anh gửi về, thì anh đã không còn trên cõi đời này rồi.
Lúc đó họ chỉ cho nhận mỗi người một bưu phẩm một ký lô mà thôi nhưng Mẹ tôi đã tìm ra đượcmột người quen làm trong Bưu Điện Sàigòn và nhờ đó mà em gái tôi đã gửi đi trót lọt mười gói mỗi gói đúng một ký nhưng trong mười ngày khác nhau.
Đó quả là một sáng kiến độc đáo mà tôi phục Mẹ tôi sát đất vì nếu gửi một gói 10 kí lô hay gửi 10 gói mỗi gói 1 kí cùng một lúc thì không những anh tôi không nhận được gói nào cả vì gói quà vi phạm quy định của trại giam mà còn có thể bị làm kiểm điểm.
Thế nhưng gửi làm nhiều lần khác nhau thì ở trại họ không để ý và anh tôi từ từ nhận được đủ cả mười gói bưu phẩm trước con mắt thán phục của các bạn tù.
Nhiều lúc nghĩ lại tôi nhận ra một điều là hình như có bàn tay an bài trước của Trời Phật cho người nào ra đi, cho người nào ở lại, người nào vào trong tù, khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, để bốn năm sau khi gia đình đã liên lạc được với thân nhân ở hải ngoại thì cũng là lúc mà trại giam cho phép gia đình gửi quà vào cho tù nhân.
Nhờ thế mà nguồn tiếp tế không những từ gia đình ở miền Nam mà còn từ nhiều nước trên thế giới gửi về Sàigòn nữa và nguồn hàng ấy và cả những thư từ cũng được chuyển vào trại giam đến những người tù.
Tôi nhớ lần đầu tiên nằm trong buồng giam, cầm trong tay lá thư của anh Ba tôi gửi từ bên Mỹ nằm trong thùng quà gửi vào, tôi không khỏi xao xuyến và ngậm ngùi trong lòng.
Bức thư có đoạn viết mà lúc đó tôi chưa lý giải được như sau:  “Tôi không hiểu tại sao và không thể giải thích được tại sao tôi và chú lúc nhỏ mình rất gần gũi và chơi thân với nhau và cùng một cha một mẹ, cùng đi học một trường, mà lớn lên bây giờ hai hoàn cảnh thật khác xa nhau”.
“Tôi bên này thì đầy đủ trong một cuộc sống tạm gọi là sung túc và hạnh phúc có vợ con đoàn tụ trong khi chú thì gia đình ly tán và đang trong hoàn cảnh thật gian nan và đầy thử thách?”.
Sau này khi tôi gập được Thầy Tâm và được đọc cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” thì tôi từ từ hiểu rằng đó là do Nghiệp lực.
Năm 1989, sau mười một năm bảo lãnh thì Mẹ và hai em út tôi được anh Ba tôi bảo lãnh sang Hoa Kỳ và định cư tại miền Nam tiểu bang California từ đó đến nay.
Năm 1991 thì vợ chồng cô em gái kế tôi cũng được ông anh này bảo lãnh qua và một năm sau thì gia đình cô em kế nữa cũng rời Sàigòn để qua Mỹ trong chương trình ODP do anh tôi bảo lãnh.
Thấm thoát nhìn lại thì đã hơn hai chục năm kể từ ngày Mẹ tôi đặt chân lên vùng đất Tự Do ra khỏi vòng kìm kẹp và kiểm soát của chế độ Cộng Sản.
Mẹ và các em tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc lại những ngày gian truân còn ở trong nước bị địa phương làm khó dễ vì thế mà Mẹ tôi mới mắc phải bệnh cao huyết áp và bàn chân với vết sẹo vẫn còn đau khi trở trời vì vấp trên toa xe lửa trong chuyến ra thăm tôi ngoài Bắc lần đầu tiên, và nhắc cả những khó khăn vất vả chuẩn bị quà cáp thuốc men quần áo đi thăm nuôi hai anh em tôi trong tù những ngày ấy.
Bây giờ Mẹ tôi đã già, sức đã suy yếu nhưng Mẹ tôi vẫn luôn luôn hãnh diện là cả cuộc đời mình đã hy sinh hết cho chồng, cho các con và không bao giờ đầu hàng và chấp nhận bọn Cộng Sản tại địa phương dù là chúng hăm dọa và áp bức gia đình dưới mọi hình thức trong những năm đầu khi chúng chiếm được miền Nam.
Mẹ tôi đôi khi nhìn con cháu và nói :
” Mẹ sẽ không bao giờ về VN khi mà bọn Cộng Sản còn ngự trị dù là Mẹ rất nhớ quê hương mình, nhớ miền quê Thanh Hóa của bên ngoại, nhớ căn nhà to như một dinh thự ở Hải Phòng, nhớ con đường Trương Minh Giảng đầy kỷ niệm và miền Nam hiền hòa, nhưng Mẹ nhất định không về.”
“Chẳng hiểu sao bọn Cộng Sản chúng nó ác độc như vậy mà Ông Trời cho chúng nó sống lâu và quá sung sướng như thế?”
“Trên đời này có những người đã hãm hại Ba Mẹ để lấy tiền nhưng Mẹ đã tha thứ cho họ, chỉ riêng bọn Cộng Sản là Mẹ không bao giờ tha thứ cho các tội ác tầy trời của bọn chúng”.
Phần X: Sức Người Trong Vòng Xoay Định Mệnh

(Phần X của thiên hồi ký này là một chương đặc biệt mà tác giả ghi lại để kính dâng lên hương linh của tất cả các quân dân cán chính của VNCH đã vị quốc vong thân và dâng lên hương linh của tất cả các đồng bào tử nạn trong cuộc chiến tranh trước năm 1975 và sau khi Sàigòn sụp đổ.)
Khi xâm chiếm xong miền Nam và nhuộm đỏ toàn bộ đất nước, và cái ngày mà Sàigòn sụp đổ thì nhà cầm quyền Bắc Việt đã hoạch định sẵn một kế hoạch khổng lồ và âm mưu thâm hiểm nhằm diệt trừ hết những mầm mống của chế độ cũ VNCH trên con đường đưa miền Nam vào hẳn trong quỹ đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Một mặt họ tập trung “cải tạo” hàng triệu viên chức sĩ quan chế độ cũ theo chế độ “học tập 10 ngày” hay “học tập 1 tháng” trong khi hàng triệu người khác phải theo học một khóa ngắn hạn ba ngày tại địa phương.
Mặt khác họ “cải tạo” lại xã hội bằng cách xua đuổi nhân dân trong các thành phố, nhất là tại Sàigòn ra khỏi nơi đang cư trú để đi vùng “kinh tế mới” mà thực tế là những vùng hoang dã chưa khai phá hay nơi rừng thiêng nước độc vắng bóng người, để chiếm đoạt nhà cửa và tài sản của người dân trong mục tiêu củng cố thế lực và triệt tiêu các lực lượng “thù địch”.
Mấy năm sau thì họ đổi tiền và mỗi gia đình chỉ được đổi tối đa lúc ban đầu là khoảng 200 đồng mà thôi, nếu có nhiều tiền hơn thì nó sẽ trở thành tờ giấy trắng vô giá trị. Mục đích của đổi tiền là nhằm “bần cùng hóa” nhân dân để cho dân chúng trong miền Nam vốn giầu có hơn miền Bắc sẽ phải trắng tay và nghèo đói như nhân dân ngoài Bắc để có thể dễ bề cai trị hơn.
Một Định Mệnh cay nghiệt vừa phủ xuống miền Nam từ thành phố về đến ruộng vườn nông thôn sau tháng Tư năm một chín bẩy lăm. Cả miền Nam bị đắm chìm trong đau thương sau những chính sách và biện pháp trục xuất dân đi kinh tế mới, rồi đổi tiền và đánh tư sản của cái chế độ mới tự xưng là chính quyền của nhân dân.
Mọi người dân lành chất phác của một miền Nam hiền hòa phút chốc rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi thương, thẩy đều ngơ ngác bởi từ ngàn xưa đến nay chưa từng xẩy ra trên đất nước và quê hương này bao giờ – chính người Việt đang tiêu diệt người Việt vì ý thức hệ Tư Bản đã bị thay thế bằng thể chế Cộng Sản.
Những con người của chủ nghĩa Vô Sản đang giáng những đòn chí tử vào chính nhân dân họ và reo rắc những nỗi kinh hoàng khắp nơi để làm tê liệt ý chí đối kháng nếu có còn rải rác trong xã hội.
Trong khi đó thì trại giam mọc lên khắp ba miền đất nước để giam giữ, trả thù và đầy đọa những người trước kia đã từng chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của miền Bắc vào miền Nam, và cũng để cô lập các viên chức sĩ quan chế độ cũ khỏi gia đình và ra khỏi xã hội.
Cái chế độ “khoan hồng nhân đạo” và “học tập cải tạo” thực chất chỉ là một nhà tù tập trung vô nhân đạo nhất trên thế giới nhằm giết dần mòn những tù nhân chính trị này từng ngày, từng tháng và từng năm với một cuộc sống tù tội, xúc phạm nhân phẩm con người, lao động khổ sai hàng ngày ngoài nắng mưa của mùa Hè hay sương gió giá lạnh của mùa Đông mà đói khát, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men, và phải sinh sống trong những điều kiện vệ sinh hết sức tồi tệ của các trại giam.
Rồi trong các mùa viêm nhiệt tại miền Bắc thì các tù nhân phải hứng chịu các dịch bệnh tiêu chảy và kiết lỵ do vấn đề thời khí quá oi bức, buồng giam chật ních tù nhân, cộng với việc nấu ăn trong nhà bếp không vệ sinh và bảo quản không tốt.
Những dịch bệnh nhất là kiết lỵ tại nhiều trại đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng của tù nhân chính trị với lý do đơn giản là không có thuốc điều trị. Kiết lỵ là một bệnh rất đễ chữa trị nếu có thuốc trụ sinh vì là bệnh nhiễm trùng đường ruột vậy mà nhiều người đã chết vì nó một cách dễ dàng và oan uổng. Thực tế mà nói thì chính ngoài dân chúng cũng còn không có thuốc men thì làm sao mà trong tù có thể có được.
Bởi vậy nếu làm tù nhân trong các nước tiên tiến thì còn có thể giữ gìn được sức khỏe và còn có cơ hội sống sót mà trở về chứ sống trong một xã hội như miền Nam sau ngày Sàigòn sụp đổ thì cũng đã khó mà tồn tại rồi, đừng nói gì là trong bốn bức tường tập trung của trại giam XHCN.
Những đợt dịch bệnh ấy như những làm mây đen bao phủ các trại giam và quật ngã không biết bao nhiêu tù nhân. Nhưng trong những trường hợp bị căn bệnh quái ác này có một trường hợp thật lạ lùng và đối với tôi lúc đó mang tính cách huyền bí là anh Luân, Đại Tá chỉ huy trưởng đơn vị 101.
Khi đó anh Luân đang bị biệt giam tại trại Hà Tây, tỉnh Hà Sơn bình, thì anh bị kiết lỵ, trại cũng chỉ cấp cho Xuyên Tâm Liên và  anh dần dần kiệt sức chỉ còn nằm chờ chết vì không ăn uống được gì dù là cháo loảng.
Thế nhưng, có một cái gì thôi thúc anh cố gắng ngồi dậy và dựa vào bức tường trong phòng biệt giam rồi anh chuyên tâm niệm danh hiệu Đức Phật Bà Quán Thế Âm Cứu Khổ Cứu Nạn. Khi nào quá mệt thì anh nằm xuống nghỉ một chút rồi lại gượng ngồi dậy để chuyên chú niệm danh hiệu Đức Phật Bà trong mấy ngày đêm liên tục.
Trong thâm tâm anh cũng chỉ cầu mong Đức Phật Bà nghe được thì sẽ được Ngài thương xót mà đem anh đi khi anh nằm xuống mà thôi, nhưng như là một phép lạ, anh cảm thấy trong người từ từ bớt đau nhói trong bụng, kiết lỵ cầm dần dần, anh từ từ húp được ít cháo và sức khỏe dần dà hồi phục lại.
Anh đã khỏi bệnh truyền nhiễm này mà không có một viên thuốc trụ sinh nào trước con mắt cực kỳ kinh ngạc của bọn cai tù vì chúng đã bảo bên tù hình sự chuẩn bị làm sẵn một cái quan tài bằng gỗ mộc rẻ tiền để chờ khiêng anh lên ngọn đồi nghĩa trang của trại.
Sau này khi ra khỏi khu biệt giam, anh thực hành quán Thiền với thầy Tông và các anh Trãi, đại tá không quân và anh Đồng Tuy, một người thầy về khoa Tử Vi, và dù có gia đình thăm nuôi sau đó nhưng anh vẫn giữ ăn chay trường. Nhìn anh tóc bạc phơ nhưng lúc nào nói chuyện với tôi, anh cũng nở nụ cười hiền hậu như một tiên ông, tôi cũng học thêm được một nhân cách đáng quí của một con người mà tôi kính phục.
Trước kia khi còn là chỉ huy trưởng của cả một đơn vị quân báo oai hùng, anh vẫn luôn được sự kính trọng của thuộc cấp, bây giờ dù thân tù tội anh vẫn hiên ngang không đầu hàng kẻ địch dù đang sa cơ thất thế nên cuối cùng chúng cũng phải cho anh ra khỏi khu biệt giam. Tôi tin rằng Trời Phật đã ngó xuống và cứu anh trong giây phút thập tử nhất sinh đó bởi anh là một anh hùng.
Một thời gian sau anh được gọi ra thăm nuôi và khi vào trại, anh gọi tôi ra ngồi với anh trên băng đá trong sân thì anh tâm sự với tôi là chính Ba của anh vào thăm nhưng ông ta là người của phía bên kia, không phải người Quốc Gia VNCH mình cho nên anh đã dứt khoát từ chối lời đề nghị bảo lãnh của ông để anh có thể ra tù sớm. Tôi lại càng thêm yêu mến anh hơn vì anh đã đặt lý tưởng và chính nghĩa Quốc Gia VNCH của mình lên trên tình Phụ Tử dù là người cha đó biệt tích đã lâu nay bất ngờ xuất hiện.
Muốn trị các bệnh tật thì phải có thuốc nhưng thuốc men cung cấp cho các tù nhân không có gì ngoài Xuyên Tâm Liên, nó giống như một loại thuốc tễ cao đơn hoàn tán hình viên tròn nhỏ, không ai biết nó được bào chế ra sao, gồm những hợp chất gì, và không biết nó dùng để trị bệnh gì nữa.
Nhức đầu, cảm, sốt cao độ cũng cho Xuyên Tâm Liên, kiết lỵ cũng Xuyên Tâm Liên, đao bao tử cũng nó luôn, có anh khai bị ói mửa cũng Xuyên Tâm Liên. Riết rồi chẳng ai muốn đi khai bệnh xin thuốc làm gì vì đã biết loại thuốc nào mà bệnh xá trại sẽ cung cấp.
Chính vì thế mà trong ba năm đầu tiên chúng tôi bị chuyển ra Bắc, sức người chỉ có hạn trong những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết và chế độ ăn uống thiếu thốn nên người nào cũng ốm o gầy mòn dần một cách thảm thương như những bộ xương khô còn cử động bởi vì chúng tôi cũng giống như một sợi giây đã bị kéo ra quá căng rồi. Mỗi lần dịch bệnh tái phát thì có khi đến hàng nửa đội lao động bị bệnh phải nằm tại buồng hay khiêng xuống bệnh xá.
Vào năm thứ hai ở ngoài Bắc thì một đợt dịch Cúm lan tràn vào đến trong trại giam và hầu như tất cả mọi anh em chúng tôi đều bị nó quật ngã vì lúc ấy sức đã quá yếu rồi. Ngoài đó dân chúng cũng rất là sợ cái căn bệnh “ông Cúm bà co” này nhưng vì thiếu ý thức và thiếu kiến thức về bệnh dịch nên một khi nó xẩy ra thì bùng phát rất là nhanh.
Bệnh xá trại không còn chỗ trống và bệnh nhân phải nằm ngay tại buồng giam của mình và không gì ngán ngẩm hơn là các cán bô y tá của họ vào để chẩn bệnh xong rồi cũng phát cho mỗi người vài chục viên Xuyên Tâm Liên rồi quay gót ra đi.
Cuối cùng khi thấy quá nhiều người bị Cúm thì họ tìm cách trấn an người tù bằng hình thức cho các bộ phận y tế của trại vào từng buồng giam để nhỏ nước tỏi vào mũi.
Anh Lạt bạn thân của tôi, là một Thiếu Tá Cảnh Sát đặc Biệt, khi còn ở trại giam Long Thành, miền Nam, năm đầu tiên, dáng người khỏe mạnh rắn chắc như lực sỹ, bây giờ như que củi và nói với tôi rất bi quan rằng có lẽ mình sẽ không qua khỏi được cơn bệnh này.
Lúc đó tôi cũng chẳng khá gì hơn và chỉ biết an ủi anh rằng hy vọng đợt Cúm này sẽ chóng qua, nhưng không ngờ rằng ngày hôm sau thì chính tôi lại bị sốt cao độ và cơ thể đau nhừ khắp người như bị tra tấn rồi mê man không còn biết gì nữa.
Đến khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong bệnh xá trại và các giuờng đầy nhóc tù nhân. Chỉ có hai ngày bị “ông thần” Cúm này tấn công, tôi trở nên hốc hác đến độ các bạn tù xuống thăm không nhận ra tôi nữa dù là họ đang đứng ngay bên giường của tôi và hỏi thăm xem tôi đang nằm ở đâu.
Thế rồi tôi cũng chẳng hiểu sao, từ từ tôi lấy lại sức dù rằng bệnh xá cũng chẳng có gì “bồi dưỡng” ngoài ít cháo loãng mỗi ngày hai bữa, và vừa đứng dậy được thì chúng tôi được lệnh phải ra lao động ngay vì đợt Cúm đã làm cho kế hoạch sản xuất của trại bị chậm lại.
Đội của tôi lúc đó được phân công nhổ cỏ trong những đám ruộng còn ngập nước mà tay quản giáo nói là trại đã “ưu ái” cho lao động nhẹ.
Nhưng không may cho tôi là người chưa khỏe hẳn mà chân ngâm trong nước suốt ngày nên đêm hôm đó tôi lại lên cơn sốt mê man lần nữa.
Người lúc nóng ran lúc lạnh run như lên cơn sốt rét đến độ anh Luận, một Trung Úy trẻ tuổi nằm bên cạnh, phải lấy hai tấm chăn đắp cho mà hai hàm răng tôi vẫn đánh lập cập. Hôm sau tôi và cùng với ba anh nữa được cho nghỉ tại buồng ăn cháo một ngày.
Tôi tin vào Định Mệnh và có lúc cũng nói với anh Lạt lúc hai đứa đang bệnh một câu có vẻ như vô nghĩa nhưng rất thực tế và khôi hài rằng nếu mình không chết thì…mình sẽ sống và cả hai thằng đều mỉm cười.
Sau một năm tại trại Long Thành, miền Nam, và ba năm ngoài Bắc thì hình như Định Mệnh đã mỉm cười với chúng tôi khi mà gia đình trong Nam nhận được thư chúng tôi gửi liên quan đến vấn đề thăm nuôi và các thứ thật cần thiết như nhu yếu phẩm, thuốc men và quần áo ấm.
Tôi tin rằng Ơn Trên và Trời Phật đã nhủ lòng thương xót những tù nhân chính trị này mà xui khiến cho đám vô thần đó mở cửa cho gia đình chúng tôi được ra thăm nom và tiếp tế kịp thời. Nếu trễ một vài năm nữa thì có lẽ nhiều người trong đó có tôi sẽ chẳng bao giờ còn nhìn thấy ánh nắng Mặt Trời nữa.
Đến khi Mẹ và em gái tôi đến thăm lần đầu tiên, nhìn những loại thuốc tây hiếm quí mà anh thứ Hai của tôi là Quân y nên đã gửi ra rất đầy đủ từ thuốc trị kiết lỵ tiêu chẩy, cảm cúm Contac, B-complex, Aspirin cho đến cả kẹo ngậm ho thì lòng tôi rất vui vì nghĩ rằng mình sẽ có dịp dùng nó để trị bệnh cho mình và cho các bạn bè của mình nữa.
Con người ta sau nhiều năm bị tù đầy giam giữ cũng ví như một cây khô hạn mà sự sống chỉ còn lung linh như ánh nến trước cơn gió.
Cũng bởi vậy mà khi có được các loại thuốc men trong tay thì tác dụng kỳ diệu của các viên thuốc này giống y như thần dược trong các truyện cổ tích mà chúng ta đọc khi còn bé.
Một hôm tôi thấy anh bạn nằm cạnh bên là anh Bạch, Trung Úy trong số mấy trăm anh em từ trại Thạnh Mỹ Tây trong Nam theo tầu Sông Hương chuyển ra Bắc và về cùng trại với tôi đang ghè đầu vào tường.
Tôi lớn hơn Bạch hai tuổi nên coi như anh em nên lấy làm lạ bèn hỏi anh:
-”Ê! Cậu làm sao vậy?”
-”Nhức răng quá chịu không nổi phải ghè đầu vào tường cho bớt đau.”
Tôi suy nghĩ mãi vì thông thường thì nếu ở ngoài xã hội thì chỉ có đi Nha sĩ mới chữa được thôi nhưng trong hoàn cảnh này đời nào họ chịu chở tù nhân ra thành phố để…chỉ chữa răng? Đến bệnh trầm kha nhiều lúc họ cũng vất xuống bệnh xá trại và chờ khi nào có chỉ thị mới đưa đi chữa bệnh ngoài tỉnh được nữa là.
Tôi sực nhớ trong tờ giấy anh Hai tôi chỉ dẫn là thuốc Aspirin chữa được các loại đau nhức nhưng không uống lúc bụng đói. Tôi bèn tự đóng vai bác sỹ bất đắc dĩ và lục trong ba lô ra ba viên Aspirin và đưa cho Bạch mà trong lòng cũng cầu cho bạn mình qua được cơn đau nhức này:
-”Anh mình bảo rằng Aspirin chữa được đó, bây giờ cậu ăn ít bánh bột hấp – là phần ăn mỗi ngày của chúng tôi trong khẩu phần 15 kí chất bột cho người lao động – xong rồi uống một viên rồi hai tiếng nữa uống thêm viên nữa xem sao.
Tôi không dám cho uống cùng một dose 2 viên vì sợ quá mạnh cho bao tử.
Bạch nghe lời tôi uống hai viên Aspirin trong hai tiếng đồng hồ và đúng là phước chủ may thầy không hiểu sao anh ta hết đau răng luôn từ đó.
Bạch chưa có gia đình thăm nuôi cho nên tôi bảo anh giữ lại viên Aspirin kia phòng hờ nếu nó có hành đau nhức lại thì uống khi không có tôi bên cạnh. Từ đó chúng tôi thành bạn thân ngoài tình anh em làng giềng nằm cạnh nhau. Bạch là một người rất dễ thương, tính tình nhỏ nhẹ như con gái và thường cười để lộ cái…răng vàng sáng chói.
Năm sau thì anh được tha về và có ghé thăm Mẹ và các em tôi tại Sàigòn kể những chuyện vui buồn khi tụi tôi sống chung trong traị những năm tháng tù đầy cho Mẹ tôi nghe trước khi anh về tỉnh.
Một trường hợp nữa về sự diệu kỳ của thuốc gia đình gửi vào là một ngày khi tôi đang nằm ở từng trên thì thấy có ai giựt chân mình, hóa ra là anh Nhơn, Đại Úy pilot trực thăng.
Tôi cũng thường là một khán giả hay nghe Nhơn kể chuyện về không quân ngày trước với những chiến công oai hùng của KQ VNCH.
Một trong những truyện làm tôi vô cùng xúc động là về người anh hùng phi công trẻ tuổi nhất của KQVN là Thiếu Tá Nguyễn Dzu, và về sự tàn bạo vô nhân tính như ác quỷ của những người cộng Sản.
Khi anh được vinh thăng Thiếu Tá thì cấp bậc đó đã bị hoãn lại một thời gian vì anh quá trẻ để gắn lon Thiếu Tá. Anh lập không biết bao nhiêu là chiến công kể cả diệt hàng chục xe tăng T-54 của Cộng Sản, phi đội của anh đã chặn đứng cả một trung đoàn địch không vượt qua được con sông Thạch Hãn. Anh luôn tình nguyện lái thay các bạn mình về phép nhưng không ngờ chuyến bay của anh thay cho một người bạn bên bờ sông Thạch Hãn trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm ấy lại là chuyến bay cuối cùng của Định Mệnh oan nghiệt.
Khi phi đội anh hoàn tất nhiệm vụ và lạng cánh bay về thì anh nhìn thấy một cụm pháo phòng không của địch, cụm pháo này đã bắn cháy một khu trục trong trận chiến hôm đó và anh quyết định vòng trở lại một mình bất chấp các bạn trong phi đội can ngăn và khi anh bắn được trái rocket trúng mục tiêu cũng là lúc mà máy bay anh trúng đạn phòng không bốc cháy và anh bị trúng thương nơi chân.
Anh phải nhẩy dù khẩn cấp và không may cho anh là tuy cố gắng để lái chiếc dù về phía bên này bờ sông nhưng gió lại thổi nghịch chiều và anh đáp xuống phía bên kia bờ sông nơi mà địch quân đang kiểm soát, một chân trên bờ một chân dưới nước.
Các bạn anh đều quay lại để tiếp cứu và ngăn được ba lần toán VC và du kích địa phương từ những tàng cây trong rừng nhào ra để bắt anh nhưng đến lần thứ thư thì không kịp nữa vì chúng đã lôi được anh vào trong rừng. Viên Đại Tá cố vấn Mỹ của Không Đoàn khi nghe tin anh vừa bị bắt thì lên ngay tần số và phát thanh liên tục ra ngoài Bắc và yêu cầu họ đối xử tử tế với Thiếu Tá Nguyễn Dzu, nhưng tin tức về anh thì vẫn biệt tăm.
Năm 1973, khi có trao đổi tù binh giữa hai miền Nam Bắc thì có một Hạ sỹ quan của chúng ta được trao trả có khai rằng anh đã phải mục kích cảnh bọn VC và quân Bắc Việt lập tòa án nhân dân trong rừng để xử Thiếu Tá Nguyễn Dzu. Thiếu Tá Nguyễn Dzu vẫn kiêu hùng không khuất phục nên chúng tức quá ra lệnh tra tấn anh, nhưng anh vẫn ngửng cao đầu, rồi chúng điên cuồng lên và ra lệnh hành hình anh bằng tùng xẻo cho đến khi anh trút hơi thở cuối cùng.
Tùng xẻo là cứ đánh một tiến trống thì xẻo một miếng thịt cho đến khi tội nhân chết thì thôi, một thứ hành hình dã man như thời Trung Cổ mà chỉ có VC còn áp dụng trong thế kỷ thứ 20 này.
Anh Nhơn cũng kể rằng trong các cơ khí sửa máy bay có một anh Hạ sỹ quan rất giỏi về khoa Tướng số có xem cho Thiếu Tá Nguyễn Dzu rằng anh có đại nạn về sông biển và nên cho anh ta đi theo trong một phi vụ trực thăng nào đó ra ngoài biển với Thiếu Tá Dzu thì anh hy vọng có thể cứu mạng được.
Thế rồi chiến sự lan rộng và quá căng thẳng những tháng ngày năm 1972 của Mùa Hè Đỏ Lửa và Thiếu Tá Dzu phải bay liên tục để yểm trợ quân bạn, không có một giây phút nào nghỉ ngơi và từ từ mọi việc dần rơi vào quên lãng nên người Hạ sỹ quan đó không có dịp “cải số” lại cho người pilot anh hùng tên Dzu. Âu cũng là Định Mệnh.
Dòng tư tưởng của tôi chợt bị ngắt quãng bởi câu hỏi của anh Nhơn và mấy cái lay chân của anh:
-”Nghe nói toi có thuốc trị tiêu chẩy phải không, để cho moi vài viên?
-”Xin lỗi nẫy giờ mình đang nghĩ về câu chuyện khác nhưng mà ông biết là tôi có bao giờ bán thuốc tây đâu chỉ dùng nó để chữa bệnh thôi, nhưng ai bị vậy?”
-”Ông Bẩy Bớp nằm dưới kia kìa, hai ngày nay có ăn uống tí cháo nào đâu?”
-”Ông đưa cho ông ấy uống ngay một viên Imodium này, đây là loại tốt nhất mới có và nói ông ấy ráng húp ít cháo đi và tối uống thêm viên nữa, khỏi nói là thuốc của tôi nghe.
Thuốc Imodium khi ấy trị liệu như thần và sau khi uống hai viên xong thì ông Bẩy Bớp đi lại được và không còn bị đi cầu nữa. Bẩy Bớp là biệt danh mà không biêt anh em nào đã đặt cho ông Tân là một người tù trong thành phần Đảng Phái cũng bị giam giữ.
Trước cửa buồng chúng tôi là một cái sân nhỏ và một bể chứa nước bơm vào từ nhánh sông Hồng cạnh con đê.
Buổi chiều trước khi kẻng điểm danh vào buồng thì chúng tôi hay đi bộ trong sân. Một hôm sau khi họ “biên chế” lại các buồng thì có một số anh chuyển qua buồng tôi và tôi chú ý thấy một anh đang cố chống gậy tập đi đi lại lại trong sân. Tôi bước lại hỏi thăm thì hóa ra là anh biết tôi do bạn bè nói vì tôi có thuốc tây nhưng anh rất ngại nên không tiện mở lời trước, tên anh là Chính, Thiếu Tá quận trưởng, anh nói:
-”Bà xã moi viết thư sắp ra thăm nên mấy hôm nay moi cố tập đi lại vì hai chân suy dinh dưỡng nên đã rất yếu, moi không muốn bà xã ra gập moi trong tình cảnh chống gậy như thế này thì tội nghiệp cho bà ấy lắm nhưng không biết phải làm sao. Nghe nói toi có thuốc bổ nên không biết nó có giúp gì được không?”
Tôi lại tìm trong các loại thuốc bổ ông anh gửi vào và đọc kỹ lại tờ hướng dẫn. Cuối cùng buổi tối hôm đó tôi đến chỗ anh nằm và đưa tặng anh một vỉ B-Complex của Pháp vì trong đó nó có B1, B-6 và B-12 hy vọng có thể làm cho hai chân anh mạnh hơn.
Sau khi anh uống hết vỉ B-Complex đó, tôi rất vui mừng vì anh đã bỏ được chiếc gậy và lững thững đi được từng bước một. Tôi bèn biếu anh một vỉ nữa và quả là như một phép lạ, hai chân anh trở nên vững hơn và anh đi lại được gần như thường.
Hôm mà bà xã anh đến thăm thì cũng đúng lúc anh bỏ được cây gậy, mặc vào người bộ áo Treillis mà trại phát một cách oai hùng như xưa mà ra gập vợ.
Khi anh trở vào trại sau lần thăm nuôi đó thì anh rất là vui và tinh thần phấn chấn hẳn lên và nắm tay tôi:
-”Cám ơn toi nhiều nhe, nếu không có thuốc của toi thì chắc bà xã mình khóc hết nước mắt rồi, vì moi không muốn thấy vợ mình khóc trước mặt bọn chúng, toi hiểu không?”. Tôi gật đầu nói:
-”Anh may mắn lắm đó vì tôi chỉ có độc nhất hai vỉ B-Complex gia đình gửi cho chứ chẳng có thuốc bổ nào khác cả.”
Tối hôm ấy anh mời tôi và một số bạn đến chỗ anh nằm để thưởng thức trà và cà phê ngon gia đình mới đem vào, và từ đó tôi trở thành một người bạn thân mà anh thích tâm sự.
Thời gian khi chúng tôi chuyển trại vào Hàm Tân, trong Nam thì lúc đó mới có loại trụ sinh Amoxycilin thay thế cho loại Ampicillin đã lỗi thời vì Amox có thể uống bất cứ lúc nào không cần bụng đói như Ampi. Có lần chính tôi bị viêm họng, cổ họng vừa đau rát lại mẩn đỏ nên ăn uống không được, may có anh bạn nằm đối diện là Lê Văn Hoan, Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt, đưa cho tôi có một viên mà uống xong thì ngày mai thấy hết ngay bịnh. Quả là thần sầu thuốc men trong tù.
Luận, anh chàng nằm cạnh tôi trước kia, mà không biết ai đặt tên cho là “Nhái” có lẽ vì nhỏ con, một lần nói với tôi rằng:
-”Ông mà cho người ta thuốc men thì…ông khỏi phải uống nó chứ có sao đâu”.
Sau này khi mà tôi có cơ duyên gập được thầy của tôi là Thầy Tâm thì thầy cũng bảo tôi rằng trong tù thuốc men rất là quí hiếm, một phần mình uống để chữa bệnh cho mình và một phần mình đem cho anh em là rất có phước. Cái Tâm tốt của mình truyền vào viên thuốc đó sẽ giúp cho viên thuốc bội phần công hiệu.
Chính nhờ vào tình thương yêu ruột thịt của gia đình đùm bọc và cưu mang nên tôi cũng như hàng chục ngàn người tù khác đã có được sự tiếp tế liên tục trong suốt bao nhiêu năm trời mà tôi ví như nước Cam Lồ tưới vào các thân cây khô héo. Cũng nhờ vậy mà chúng tôi, người có dư lại giúp đỡ những người thiếu thốn hay người ít có thân nhân đến thăm hay gửi quà, nên đa số chúng tôi sức khỏe dần hồi phục và tinh thần cũng hưng phấn, thêm sức chịu đựng để chờ ngày ra khỏi trại về đoàn tụ với những người thân yêu.
Kể từ đó tôi bắt đầu tin rằng con người ta có số mạng. Số chúng tôi không chết trong tù nên xui khiến cho gia đình đã gửi bưu phẩm và đến thăm nuôi kịp thời.
Trong thời gian ở trại Ba Sao Nam Hà ngoài Bắc, tôi có ở chung trại với anh Nguyễn Phát Lộc, Quyền Đặc Ủy Trưởng của Phủ ĐUTƯTB.
Anh là tác giả của cuốn Tử Vi Hàm Số rất nổi tiếng xuất bản trước năm 1975, không may là anh bị bạo bệnh và được ra ngoài thị xã chữa trị nhưng cũng không thuyên giảm. Anh vẫn thường nói với anh em chúng tôi rằng số anh không chết trong tù.
Một hôm anh có gia đình đến thăm nuôi nhưng anh sức đã quá yếu không đi nổi nên phải cáng trên băng ca đưa anh ra khu thăm nuôi ở ngoài trại khoảng vài trăm thước và ngày hôm sau thì anh qua đời trong vòng tay của những người thân ruột thịt của anh.
Anh xem cũng đúng, vì khi anh mất anh không ở trong vòng rào của khu trại giam.
Tôi cũng tin vào Định Mệnh An Bài như anh Đồng Tuy đã chỉ dậy cho tôi một phần trong khoa Tử Vi: “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định” tức là “Một miếng ăn, một miếng uống là đều có định trước”.
Phần XI: Những Giấc Chiêm Bao

Cuộc đời của con người nếu trải dài được một trăm năm thì có lẽ không đêm nào mà chúng ta không thấy một giấc mơ dù là ngắn hay dài, và sẽ không thể đếm được bao nhiêu đêm đã ngủ say trên gối mộng.

Khi tỉnh lại thì nhiều khi tiếc nuối vì nó đẹp và ngắn ngủi quá, nhưng cũng rất nhiều lần ngủ dậy rồi chẳng nhớ được điều gì.
Tôi có cô em gái khoảng mười năm trước nằm mơ thấy mình trúng số Super Lotto, đến khi thức giấc thì cứ tiếc ngẩn ngơ vì tại sao nó không là sự thật. Tôi thì suy đoán rằng thời gian đó vì vốn liếng dành dụm của gia đình cô của cả nửa đời người phút chốc đã tan ra mây khói theo Mutual Funds và Stock ; và cô ta ban ngày thì cứ ao ước trúng số để bù vào số tiền khổng lồ đã không cánh mà bay đi cho nên ban đêm tiềm thức đã làm việc và tạo ra giấc mơ đó.
Có những giấc mơ đúng là chỉ đi qua chúng ta trong giây lát và không để lại một chút gì trong trí nhớ nhỏ nhoi, nhưng rất nhiều giấc mộng dù là đã trải qua bao nhiêu năm tháng vẫn còn in hằn trong ký ức như mới tự hôm nào.
Có những giấc mơ hay chiêm bao đến thật là rõ rệt y như điềm báo mộng trước về những chuyện gì sắp xẩy ra cho chúng ta.
Thời gian tôi còn bị giam giữ tập trung “cải tạo” tại miền Bắc ở trại Ba Sao Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh thì Hòa Thượng Thích Thiện Chánh, là thầy Tâm của tôi là một vị sư trong Nha Tuyên Úy Phật Giáo của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có bảo tôi rằng miền đất này gần chùa Hương Tích rất linh thiêng, nơi thờ phượng Đức Phật Bà Quán Thế Âm cho nên được hưởng nhiều phước lành.
Những núi đồi trùng trùng điệp điệp bao quanh khu trại giam cũng có nhiều vị Sơn Thần Thổ Địa ngày đêm hộ trì cho anh em tù nhân chính trị chế độ cũ.
Một buổi tối, thầy Tâm chỉ lên trên một đỉnh núi và hỏi tôi:
“Con có nhìn thấy gì không?”
-“Thưa thầy không.” Vì quả thật tôi chẳng thấy gì trên ngọn núi đó cả.
-“Trên đỉnh núi ấy, nhất là những đêm sáng trăng thì nhìn thấy rất rõ một vị Thần một chân đang chống gậy và nhìn về phía trại tù này. Đó là vị Sơn Thần vùng này.” Và thầy nói tiếp:
-“Các Sơn Thần Thổ Địa ở đây đều được lệnh là bảo vệ chúng ta trong trại giam này chính vì thế mà cuộc sống của chúng ta trong tù gần đây cũng đỡ vất vả hơn và ít tật bệnh nguy hiểm hơn.” “Con biết tại sao không?”
-“Dạ không.”
-“Bởi vì chúng ta có Chính Nghĩa, và bởi vì chúng ta biết thờ Trời, thờ Phật và các vị Thần Linh.” “Chúng ta mất Nước vì đó là Thiên Ý.”
Thầy bảo rằng chúng tôi đang phải trả nghiệp chướng cho chính mình và cho cả đất nước bị suy vong.
Tôi càng lúc càng thấy lời thầy nói là đúng vì những lúc cuốc đất đến hoa mắt trong mùa Hè nắng cháy da cháy thịt mà trên đầu chỉ có một chiếc nón lá đơn sơ; hay những ngày mùa Đông khi gió Bấc thổi qua từng cơn đứng giữa trời lạnh buốt mà hai chân trần đang đạp lên từng lớp đất sét dù đổ nước lên mà vẫn cứng như đá để sản xuất ra gạch ngói; thì tôi tự dưng nhận thức ra được rằng đây chính là cái nghiệp dành cho mình khi đất nước đã mất; và chính tôi phải gánh lấy và không một ai trên cõi đời này có thể làm hộ dùm mình.
Nếu từ chối nó thì vào nhà biệt giam cũng như nhau mà thôi.
Trại Ba Sao, nhìn từ bên dưới thung lũng và đầm lầy nhìn lên thì sừng sững và kiên cố như một pháo đài thời Trung cổ đúc toàn bằng đá và chỉ liên lạc với thế giới bên ngoài qua một con đường đất sỏi đá độc đạo, ngoằn ngoèo chạy bọc quanh sườn núi từ trại qua khu gia binh đến thị xã.
Trong trại, hai dẫy buồng giam nằm hai bên ngăn cách bởi một cái sân rộng hình chữ nhật với hai vách tường cũng bằng đá được xây dựng lên bởi bàn tay của những người tù.
Khi chúng tôi chuyển trại về đây thì đã nghe một câu giống như sấm truyền từ những anh em sống trong trại kể lại:
“Bao giờ vách đá nở hoa, Nam Hà hội tụ thời ta lại về”.
Vách đá làm sao mà nở hoa được, chúng tôi cứ thắc mắc mãi cho đến khi các nghệ nhân là những anh em khéo tay được phân công để trang trí và tô điểm lại trong khu sân trại và cho khu nhà ‘Văn Hóa” được nghệ thuật hơn.
Một nhóm thì trồng các loại hoa trong khuôn viên của nhà “Văn Hóa”, và một nhóm khác thì khắc những bông hoa trên hai vách tường đá của khu sân trại ngăn đôi hai dẫy buồng giam, một bên là tù chính trị còn bên kia là giam tù hình sự.
   Từ đó, những đóa hoa đã nở ra trên vách đá và năm một chín tám ba thì các tù chính trị từ các trại khác cũng được lần lượt chuyển về hội tụ tại trại Ba Sao Nam Hà.
Như vậy là “Vách đá đã nở hoa” và” Nam Hà đã hội tụ” nhưng cũng còn phải chờ đợi đến hơn ba năm sau nữa thì câu sấm truyền đó mới linh ứng.
Một điểm đặc biệt của khu giam tù chính trị là vụ “cầu cơ” và cụ Phan giáng bút cho những bài thơ thật là hay cả về hình thức lẫn nội dung.
Nhiều anh có ghi chép lại hàng chục bài thơ rất dài Đường Luật này và vừa cảm phục những áng thơ hay của Cụ vừa mừng vì trong ý thơ Cụ cũng hé mở những ánh sang hân hoan vui mừng cho người tù.
Cũng chính tại trại giam Ba Sao Nam Hà này mà nhiều giấc mơ kỳ diệu đã xẩy ra. Một đêm, không bao lâu sau khi tôi có cơ duyên gập được vị sư Nha Tuyên Úy ấy, thì tôi nằm mơ thấy mình đang đứng trước một vị Thánh Mẫu rất là uy nghi ngồi trên chiếc ghế to bọc vải mầu vàng lóng lánh kim tuyến giống như một cái ngai vậy.

Hai bên vị Thánh Mẫu có hai tiên nữ cầm quạt phe phẩy đứng hầu. Hai con mắt Ngài sáng như sao nhưng nhìn tôi thật là hiền từ và vẫy gọi tôi lại gần rồi hỏi tôi đúng một câu và Ngài phán cũng đúng có một câu.

“Con có phải tên họ là Đại, Phạm Gia Đại?”

“Cộng Sản nó sẽ không bao giờ thả con đâu, nhưng cuối cùng thì chúng cũng sẽ phải thả”.
Nói xong thì Ngài và hai vị tiên cô biến mất, thoạt đến và thoạt đi, đúng là một giấc mộng linh hiển.
Tôi bèn đem giấc mơ này kể cho thầy Tâm là thầy của tôi nghe thì thầy nhìn tôi rồi bảo rằng đúng đó là vị Thánh Mẫu mà dân gian vẫn thờ phượng và Ngài giáng xuống bảo tôi phải chuẩn bị để chấp nhận những thử thách lớn lao còn nữa sau này.
Thầy nói với tôi rằng Thầy cũng nằm ngủ thấy một giấc mơ giống như vậy tối hôm trước.
Thầy thấy một giòng sông mà nước đã cạn tới đáy nằm trơ ra mấy chục con cá mà lạ lùng thay là một trong những con cá đang nằm thoi thóp đang còn quẫy đuôi trên đáy sông đó lại chính là tôi.
Vào tháng Chín năm một chín tám bẩy và đầu năm dịp Tết Nguyên Đán năm một chín tám tám mới có hai đợt thả tù nhân chính trị chế độ cũ lớn nhất.
Sau hai đợt thả này thì trong toàn trại, tù chính trị chỉ còn sót lại chín mươi người cuối cùng trên đất Bắc và tôi là một trong số đó.
Đợt thả lớn đầu tiên vào tháng Chín năm một chín tám bẩy khi tất cả các vị Tuyên Úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo và Tin Lành được ra khỏi trại Nam Hà thì tôi và mấy người bạn có qua thăm thầy Tâm và Thượng Tọa Thích Thanh Long thì thầy Long có bảo tôi rằng phải bốn tháng nữa, đến Tết mới có một đợt thả lớn và các anh ráng giữ gìn sức khỏe.
Lúc đó tôi không tin và nghĩ rằng chỉ vài tuần lễ nữa là họ sẽ thả hết tất cả tù chính trị, vì tin tức gia đình đem vào cho biết là phái đoàn của cựu đại tướng John Vessey, Đặc Sứ của Tổng Thống Ronald Reagan đã thương thuyết thành công sau bao nhiêu là khó khăn và phía Bắc Việt đã đồng ý thả hết.
Quả thật là sau đó không có một đợt thả nào nữa cho đến Tết năm một chín tám tám mới có đợt thả lớn lần thứ hai.
Tôi nghĩ rằng thầy Long là một vị chân tu và nhờ vào thiền và tu hành từ nhỏ mà thầy đã biết được nhiều chuyện quá khứ và vị lai nhưng chỉ nói ra khi thật cần thiết để nâng đỡ tinh thần những người tù còn ở lại.
Khi thầy trò chia tay nhau để tôi vào trại và quí thầy lên xe ra ga Phủ Lý lên xe lửa xuôi về Nam, thầy Tâm kể cho tôi nghe về giấc mộng linh thiêng báo cho thầy biết hạn tù đã hết.
Một tuần trước, thầy nằm mơ thấy Sư Ông là vị thầy của thầy Tâm, người đã bị Việt Minh sát hại một cách man rợ tại một địa điểm gần chùa Châu Viên tỉnh Châu Đốc trong chiến tranh Việt Pháp.
Giấc mơ này y như trong truyện kiếm hiệp mà tôi đọc ngày xưa.
Sư Ông đứng bên ngoài bức tường thành bằng đá của trại giam và cố gắng dùng chưởng lực của mình để đánh sập bức tường này hầu cứu người đệ tử của mình và các anh em tù nhân khác ra nhưng tất cả sức mạnh của Sư Ông như chỉ dội lùng bùng vào một bức tường không phải bằng đá mà là bông gòn và không thể đánh thủng được nó.
Chưởng lực của Sư Ông cuồn cuộn công phá vào vách đá nhưng bức tường chỉ hơi rung rinh như mặt nước bị khuấy động một chút rồi lại trơ ra vô tri vô giác như vách núi và không sao phá thủng được vách tường bao quanh khu trại giam.
Con có biết tại sao không? Thầy hỏi tôi rồi nói bức tường đá đó chính là cái nghiệp chướng u minh quá nặng đã vây kín khu trại giam bao nhiêu chục năm nay không cho người tù thoát ra được.
Thầy thấy sau lưng Sư Ông chợt xuất hiện các vị Sơn Thần, Thổ Địa và Đức Thánh Mẫu với bao nhiêu phép thần thông đang hỗ trợ cho Sư Ông mà vẫn chưa phá thủng được nó.
Thầy chợt nhìn ra phía xa xa thì thấy thấp thoáng bóng hình ẩn hiện của Đức Phật Bà Quán Thế Âm từ hướng ngọn núi của chùa Hương Tích và Ngài vừa ra tay ban phép lành thì bức tường bị phá thủng ngay một lỗ hổng lớn rồi như một phép lạ, thầy và các bạn tù được hút bay ra khỏi lỗ hổng đó ra ngoài trại giam. Đến đó thì thầy giật mình tỉnh dậy.
Bức tường đá đó tượng trưng cho u minh nghiệp chướng bao nhiêu đời của khu trại giam; và sự xuất hiện của các vị Thánh Thần, Đức Thánh Mẫu và Phật Bà Quán Thế Âm là điềm báo hiệu cho sự chịu đựng những nghiệp chướng của những tù nhân đã được hoàn thành viên mãn và cũng đã trả xong nợ tù đầy cho mình và nghiệp cho đất nước.
Thầy trò tôi chia tay nhau kẻ ở người đi và phải mất năm năm sau thì tôi mới được gập lại thầy tại chùa Thới Hòa, đường Quang Trung, quận Gò Vấp, Sàigòn.
Thời gian sau hai đợt thả lớn đó trôi qua thật là lặng lẽ và nặng nề.
Mùa Đông năm ấy còn ảm đạm rét mướt và mưa phùn gió Bấc nhiều hơn những năm trước nữa. Trong lòng thì buồn bã và ngoài trời thì giông bão, có lẽ ông Trời cũng cảm thương cho chín mươi người tù còn lại tại miền Bắc quá xa xôi cái nắng ấm của miền Nam.
Tinh thần chúng tôi lúc đó xuống rất thấp vì số còn lại quá ít chỉ còn chín mươi người trong số hàng trăm ngàn người khi mới ra Bắc trước kia, và cũng không biết cái gì sẽ xẩy ra nữa, chỉ biết là cố gắng mà sống vậy thôi.
Rồi một cái Tết không vui và một mùa Xuân như không còn tiếng cười nữa thì chúng tôi mới được lệnh di chuyển vào miền Nam nhập vào trại Hàm Tân Z-30D trong tỉnh Bình Thuận vào tháng Năm năm một chín tám tám.
Trong khoảng hai năm cuối tôi ở trong trại Hàm Tân thì anh em tù nhân chính trị chế độ cũ chợt bỗng dưng xôn xao hẳn lên không phải vì tin tức các anh em đã được thả về trước đang chuẩn bị ra đi định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình H.O. mà vì nhiều người đã được vị Thổ Thần báo mộng cho ngày trở về một hai ngày trước khi trại đọc lệnh tha ra khỏi trại giam.
Một trong những anh em đó là Thiếu Tướng Tất của Biệt Động Quân, hay anh Nguyễn Công Hầu, Thiếu Tá ANQĐ, đã kể lại cho tôi nghe.
Sau đó còn nhiều người khác nữa đều mô tả giống nhau về vị Thổ Thần này râu tóc bạc phơ và chống cây gậy trúc đã hiện ra và báo mộng ngày về của họ.
Tôi nghĩ rằng nghiệp chường tù đầy của các anh em chúng tôi đã đến hồi chấm dứt nên những hiện tượng tâm linh như vậy mới xuất hiện trong giấc chiêm bao có vị Thổ Thần mang niềm vui và ánh sáng chiếu rọi vào trong trại giam.
Mùa Xuân năm một chín chín hai, tôi cũng không ngờ đó là mùa Xuân cuối cùng tôi ăn Tết trong trại. Lúc đó vào cuối mùa Xuân và gần cuối tháng Tư, tôi lại thấy một giấc mộng thật lạ kỳ mà vẫn còn nhớ như mới ngày nào.
Trong giấc mơ tôi thấy ông cụ thân sinh ra tôi hiện về rõ ràng như người còn sống vậy, và không phải là vị Thổ Thần, mà chính là ông cụ tôi đã báo trước cho tôi biết ngày được trở về.
Sáng hôm sau đi ra lao động trong khu lán trai của đội 23– lúc đó chỉ còn hai mươi người kể cả bốn ông Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di, Đỗ Kế Giai và Lê Văn Thân, tôi kể lại cho các bạn nghe thì ai cũng bán tín bán nghi.
Sau bao nhiêu năm sống như một cái bóng trong các trại giam từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vào Nam, hai chữ Tự Do hình như quá xa vời khỏi tầm tay và có vẻ huyền hoặc.
Ông cụ thân sinh ra tôi bảo rằng bỏ ngày thứ Hai sắp đến, thứ Hai nữa thì tất cả các anh sẽ được thả về. Tôi cứ suy nghĩ mãi vì ông cụ tôi đã mất ba chục năm rồi không lẽ vẫn chưa đầu thai hay vẫn chưa được siêu thoát?
Rồi thời gian vẫn chầm chậm trôi qua và mọi người lại sinh hoạt như một cái máy và quên đi giấc chiêm bao đó của tôi.
Đúng vào buổi sáng ngày Thứ Hai đó, trong lúc anh em đang sửa soạn chờ xuất trại đi lao động như thường lệ thì được lệnh lên hội trường chờ trại trưởng đến nói chuyện.
Tất cả hai mươi người anh em chúng tôi ngồi lọt thỏm trong cái hội trường rộng mênh mông có thể chứa đến hàng ngàn người để chờ đợi khoảng một tiếng đồng hồ sau thì có một tay Thượng Úy đại diện trại đến nói vài câu chuyện xong phát cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy để viết kiểm điểm lại những ưu khuyết điểm trong thời gian vừa qua.
Chúng tôi nhìn nhau không hiểu cái gì sẽ xẩy ra?
Sau khi tên Thượng Úy thu góp hết các tờ giấy lại thì hắn mới lôi ra trong túi một lệnh tha các anh em còn lại ra khỏi trại giam, và đọc tên từng người một và ra lệnh mau chóng tập trung để xe đò sẽ đưa về Sàigòn.
Rất may là mọi người đều có kinh nghiệm sau bao nhiêu năm sống dưới chế độ Cộng Sản và nhất là trong trại giam nên chỉ khai rất ngắn gọn vì nếu mà tên Thượng Úy này có điều gì nghi ngờ thì người đó có thể sẽ phải ở lại để “làm việc”.
Chúng tôi đều thở ra một cách nhẹ nhõm và trở lại buồng giam để thu dọn hành trang. Đến lúc đó thì tôi mới kêu mấy thằng bạn thân lại và nhắc đến sự chính xác trong giấc mơ mười ngày trước đó mà ông cụ thân sinh ra tôi đã hiện ra báo mộng ngày những người tù cuối cùng được thả ra khỏi trại.
Khi chiếc cổng sắt đóng lại đằng sau lưng chúng tôi thì tôi nhìn lên Trời, bầu trời hôm đó xanh ngắt không một bóng mây và tôi thầm cảm ơn Trời Phật.
Cuối cùng thì tôi cũng có được một ngày trở về.
Phần XII: Tình Người Nơi Chốn Không Cùng

Có nhiều người đã hỏi tôi là lý do nào, động cơ nào đã giúp cho tôi sống sót được sau bao nhiêu là năm tháng trong muôn vàn khó khăn thiếu thốn và đầy ải khổ nhục trong ngục tù?
Câu hỏi đó tôi không thể nào diễn tả lại được thật đầy đủ trong một câu trả lời bởi vì không phải chỉ có một lý do, một động cơ, mà có rất nhiều yếu tố đã giúp cho những người tù có thể tồn tại. Chính ngay những người tù khi bước chân ra khỏi trại giam thì họ cũng tự hỏi và phân vân tại sao mình vẫn còn sống sót được?
Trong những yếu tố căn bản cần phải nêu lên thì gia đình bao gồm vợ con, Bố Mẹ, anh chị em, họ hàng đã cưu mang, đến thăm, tiếp tế các nhu yếu phẩm và thuốc men tiền bạc cho họ trong tù là vô cùng quan trọng.
Ngoài ra, những lời nguyện cầu của gia đình và của chính họ hằng đêm cũng thấu đến Trời Xanh và Ơn Trên, Trời Phật đã nhủ lòng thương và ban phép lành cứu vớt những con người cùng cực trong lưu đầy đó và ban cho họ một nghị lực và một sức chịu đựng phi thường để vượt qua được những cơn phong ba bão táp tưởng nhiều lần đã vùi chôn cuộc đời họ trong bốn bức tường trại giam.
Nhưng có một yếu tố rất nhân bản đã giúp cho những người tù thêm sức mạnh trong cái chốn không cùng ấy chính là Tình Người với hai chữ viết hoa.
Trong một nơi chốn mà chỉ thấy toàn chết chóc, bệnh tật, khổ ải như một địa ngục, nơi mà con người không có quyền được sống như một con người hay còn thua một con vật thì Tình Người trong đó là Tình Bạn nở ra lung linh như giọt sương ban mai và tỏa sáng như cành Hoa Sen giữa chốn bùn lầy.
Tình Người mà trong đó là tình đồng đội, là tình anh em chiến hữu đồng cam cộng khổ trong cảnh tù tội, là tình bạn chia sẻ với nhau từng hạt muối, từng điếu thuốc lá thuốc lào trong những ngày Đông băng giá, chia sẻ những giọt mồ hôi nhọc nhằn của những tháng năm lưu đầy và lao động cưỡng bức trong một môi trường phi nhân tính.
Càng ở lâu trong tù thì cái Tình Người, tình bạn ấy lại càng thắm thiết và gắn bó, càng nương tựa vào nhau và đem cho nhau thêm sức mạnh.
Chúng tôi vẫn thường nói với nhau rằng vợ chồng trước kia cũng không ở với nhau mỗi ngày hai mươi bốn tiếng và một tuần bẩy ngày như thời gian chúng tôi trong trại giam được.
Trong những năm đầu lưu đầy trên xứ Bắc với một năm chỉ hai bộ quần áo tù và đôi dép râu cho lao động, chúng tôi đã phải tự kiếm cho mình một đôi guốc mộc, phải nói là nhờ vào các anh trong đội Mộc rất nhiều mới cung cấp đủ guốc và sau đó hầu như ai cũng có một đôi.
Một hôm, tôi đang đi đôi guốc trên hàng hiên bước xuống sân thì trặc chân một cái và bị bong gân, bàn chân bên phải sưng vù lên một cách nhanh chóng và không biết phải làm sao thì anh Trung, Đại Úy Cảnh Sát Đặc Biệt và đệ tam đẳng huyền đai Thái Cực Đạo đã lại bên cạnh dìu tôi vào chỗ nằm và chữa cho tôi. Anh nói phải ráng nhịn đau thì mới chữa được nếu không để đến ngày mai thì chỉ có nước lết đi thôi.
Tôi bám chặt hai song sắt chịu đau và nhờ anh nắn lại ngay chỗ gân bị bong, tôi thấy đau thấu xương luôn nhưng khoảng chỉ mười phút thôi là thấy chỗ sưng từ từ xẹp xuống thật là hiệu quả nhanh chóng và mấy ngày sau thì tôi đi lại được như thường.
Sau đó thì tôi quen thân với anh và lại càng cảm thương cho anh hơn khi biết người vợ mới cưới của anh trước khi anh đi tù đã bước thêm bước nữa. Tuy vậy anh vẫn luôn vui cười với mọi người và hòa đồng với anh em và được mọi người thương mến.
Trong trại tôi ở có hai anh là huấn luyện viên về Thái Cực Đạo cho Cảnh Sát Quốc Gia và đều là đệ tam đẳng huyền đai là anh Trung và anh Xuân, không kể thầy Khuê là đệ tam đẳng Nhu Đạo của võ đường Quang Trung.
Tuy nhiên hành động anh tình nguyện đứng ra cứu giúp ông nguyên viện trưởng viện đại học Cần Thơ là Nguyễn Duy Xuân mới làm cho tôi cảm phục anh nhiều hơn.
Trong ba năm đầu thì ông Xuân tương đối khỏe mạnh và khi đó không hiểu sao lại ông lại thích mặc áo quần mầu đà như những tu sĩ tại gia, có thể lòng ông đã hướng về sự tu hành rồi, nhưng mỗi buổi sáng ông thường rất siêng năng luyện tập thể dục đều đặn.
Ít lâu sau, ông có triệu chứng ăn không tiêu hóa được và nhờ có gia đình vợ con ở bên Pháp gửi về thuốc lọc máu vì nghĩ rằng trong tù ăn uống không được  vệ sinh. Lúc đó sức khỏe tôi không khá nên ông Xuân có bảo tôi lấy vài gói về uống thử xem sao. Tôi từ chối vì ông là người cần thuốc hơn.
Thế rồi ông sụt cân mau lẹ và ăn uống rất là khó khăn và cuối cùng phải khênh xuống bệnh xá trong trại lúc ấy có bác sĩ Trương Như Quýnh trước kia tôi nghe nói ông làm việc tại bệnh viện Sàigòn, và anh Đại Tá Đức, trước thuộc lực lượng Đặc Biệt,  trông nom.
BS Quýnh là anh của Trương Như Tản trong Mặt Trận Giải Phóng và sau 1975  khi chiếm xong miền Nam thì Bắc Việt trở mặt và loại bỏ các người có công trong Mặt Trận và Thành Đồng trở thành Đồng Nát.
Vì vậy Trương Như Tản đã phải bỏ nước trốn đi và tố cáo Hà Nội đã diệt trừ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau khi đạt được chiến thắng.
Sau cả sáu tháng trời ông Xuân được điều trị tại bệnh xá và đưa ra thị trấn chẩn bệnh thì BS Quýnh một hôm nói nhỏ với tôi và anh Triệu Huỳnh Võ là ông Xuân bị cancer bao tử. Cả hai đứa tôi đều bàng hoàng khi nghe tin ấy vì ông Xuân rất là trí thức, hiền hòa và dễ mến không ngờ lại mắc phải chứng bệnh quái ác này.
Ông Quýnh nhìn chúng tôi lắc đầu nhưng vần đề ở đây là cần phải có một người túc trực bên ông Xuân vì ông Xuân không còn khả năng tự ăn cháo hay uống nước được nữa.
Khi đó thì anh Trung xuất hiện và anh tình nguyện xin xuống bệnh xá để tự tay chăm sóc cho ông Xuân những tháng ngày cuối đời.
Anh Võ, trước kia là Thứ Trưởng Bộ Thông Tin VNCH, và tôi rất là thân nhau và mỗi buổi chiều sau giờ lao động về trại thì vội vàng ăn qua loa để xuống thăm ông Xuân cho kịp trước giờ kẻng đánh vào buồng.
Khi ông Xuân còn tương đối tỉnh táo thì ông thường hay hỏi tôi về thời sự bên ngoài và về việc Mỹ can thiệp thả tù nhân có hay không?
Tôi cố tóm lược một số tin quan trọng lien quan đến vấn đề này cho ông nghe là mọi việc đang tiến triển tốt nhưng trong lòng lại nghĩ rằng có lẽ khi nó đến thì đã quá trễ rồi vì bệnh của ông đang phát ra rất nhanh.
Ông nắm tay tôi và nói:
-“Anh hãy nhớ rằng mai mốt có người bạn của anh nằm trên ngọn đồi ngoài kia nhe!”.
Tôi vội quay mặt chỗ khác để ngăn sự xúc động và cố an ủi ông:
-“Ông viện trưởng đừng quá bi quan, BS Quýnh của mình rất là giỏi và sẽ cố chữa cho ông mà, đừng lo.”
Thực ra thì ngay ngoài đời cũng còn bó tay với căn bệnh này, huống chi trong trại giam thiếu đủ thứ thuốc men và phương tiện.
-“Sao anh cứ gọi tôi là viện trưởng vậy?”
-“Chúng ta mất hết cả rồi nhưng cái học thức của mình thì không mất.”
Từ khi anh Trung xuống bệnh xá thì ông Xuân vui hẳn lên và tinh thần cũng phấn chấn hơn nhưng chẳng ai thoát khỏi Định Mệnh.
Lúc đầu anh Trung còn đút cho ăn được vài thìa cháo, sau thì BS Quýnh nói rằng nó đã di căn từ bao tử lên chẹt lấy cổ họng rồi nên ông Xuân phải khó khăn lắm mới nhấp được vài giọt nước cầm hơi.
Một hôm khi tôi và anh Võ xuống đến nơi thì tôi không cầm được nước mắt nữa vì nhìn ông Xuân chỉ còn đúng là một bộ xương và cái đầu chỉ còn là một cái sọ người không hơn kém. Nếu không có cái môi trên còn mấp máy một chút thì đó là một bộ xương của người đã chết rồi mà thôi.
Tôi và anh Võ lại nói chuyện một lát với BS Quýnh và anh Đức rồi vội về buồng.
Anh Đức tại bệnh xá một hôm kể cho tôi nghe về Mẹ của anh cũng bị cancer ruột trước năm 1975 và chỉ còn nằm chờ ngày ra đi mà thôi nhưng cụ vẫn kiên tâm hàng đêm niệm Phật và cầu nguyện Đức Phật Bà Quán Thế Âm.
Thế rồi một buổi tối khi đang ngủ thì Mẹ anh nằm mơ thấy Phật Bà hiện về sáng một góc trên Trời và Ngài rưới bình nước Cam Lồ xuống đúng vào miệng của Mẹ anh và Mẹ anh uống được một hớp nước thánh ấy.
Ngày hôm sau cụ tự nhiên thấy trong người khỏe lại và đòi ăn cháo rồi ăn cơm và dần dần bình phục hoàn toàn trước con mắt kinh ngạc của vị bác sĩ điều trị cho cụ. Anh nói rằng chính là Mẹ anh đã khỏi bệnh một cách diệu kỳ như vậy cho nên anh mới tin và theo đạo Phật, nhưng anh không biết cụ đã khấn nguyện những gì, nếu biết thì anh sẽ khấn cho ông Xuân.
Chỉ vài ngày sau thì ông Xuân qua đời đúng vào ngày Quốc Tế Nhân Quyền.  Hôm đó là một ngày mùa Đông tiết trời ảm đạm mây xám giăng mắc đầy trời, gió Bấc thổi từng cơn lạnh buốt qua ngọn cây và lùa vào trong buồng giam.
Có lẽ ông Trời cũng thương cảm và tiếc nuối cho một nhân tài của đất nước vừa nằm xuống.
Bệnh xá đã đề nghị nhiều lần khi ông Xuân mới phát hiện ra bệnh xin cho về nhà để mau ra thì kéo dài thời gian gập đựợc vợ con nhưng các đơn xin đó đều bị bác.
Chính tôi cũng không hiểu sao họ ác độc đến độ không cho ông về nhà một thời gian để được chết bên cạnh người thân.
Ông trước kia chỉ là viện trưởng đại học và dù có tham gia vào Nội các cuối cùng của Dương Văn Minh đi chăng nữa thì ông cũng đâu có làm gì đến độ Cộng Sản họ phải căm thù mà nhất định không tha ông trong những ngày ông lâm trọng bệnh cuối đời?
Điều mà tôi rất khâm phục ở ông viện trưởng là khi biết mình mang trong người căn bệnh nan y của thê kỷ và hết phương thuốc chữa trong tình trạng tù tội nữa thì ông Xuân rất là bình tĩnh và sống với một thái độ can đảm chấp nhận chứ không than thân trách phận hay lộ vẻ bi quan.
Ngay cả khi căn bệnh phát  tác dữ dội và di căn lên chẹt ngang cổ họng gây khó thở, bao nhiêu là đau đớn, và không uống được dù là chỉ vài giọt nước thì ông vẫn bình thản đón chờ thần chết đang dần đến bên giường.
Anh Trung sau mấy tháng trời thức đêm thức hôm trông coi người bệnh thì người sút giảm trông thấy, nhưng anh vẫn gắng gượng cười nói chuyện với các bạn xuống thăm ông Xuân.
Đến khi ông Xuân mất thì anh Trung trở về ở cùng buồng giam với tôi và anh gần như kiệt sức và nhuốm bệnh. Tôi thấy buổi tối anh tìm cách xông hơi để ra bớt chất độc trong người nhưng không có phương tiện nên anh phải trùm chăn kín với cây đèn dầu hôi bên trong và ngồi dưới đất trong một góc phòng suốt ba đêm liền thì mới thấy anh tỉnh người ra một chút.
Trước khi chuyển trại thì chúng tôi có dịp đi làm cỏ ngọn đồi nghĩa trang và tôi có dịp tảo mộ và dựng lại tấm bia cho ông Xuân lần chót.
Ngọn đồi này trại không chịu làm hàng rào quanh khu nghĩa trang nên chỉ một thời gian sau là trâu bò qua lại sẽ phá húc đổ hết các mộ bia và dẫm đạp lên cả mộ phần nhưng cũng chẳng mấy ai quan tâm.
Ngày mà tôi được “biên chế” về đội gạch, tôi cũng không ngờ rằng công việc lao động lại quá nặng nề khủng khiếp đến như vậy như vậy, chả trách nào mà đội gạch được coi như đội trừng giới và bên tù chính trị bị kỷ luật xong thì đều thẩy về đội này.
Chỉ sau hai tiếng lao động của ngày đầu tiên thì chúng tôi mới biết thế nào là lao động khổ sai, hầu như ai cũng oải vì toàn thân đau nhừ và trong 15 phút “giải lao” thì đều nằm xõng xoài trên những tấm phên bằng tre nứa để nghỉ mệt.
Tay quản giáo đầu tiên đi qua nhìn chúng tôi rồi nửa đùa nửa thật:
-“Sao đã rã xương ra chưa?”
Tụi tôi vì quá mệt nên cũng chẳng ai buồn lên tiếng.
Khi con người ta gập phải những gian nan và hoạn nạn thì hầu như ông Trời cũng hé mở cho con người ta một con đường sống.
Trong những ngày tháng đầu tiên làm gạch, từ xúc đất sét chở về khu sản xuất của đội bằng xe cải tiến, đến đạp bằng chân trần những cục đất sét cứng như đá cho nó mềm ra để sang mai đánh chúng thành những bánh, rối cắt chở vào cái máy cũ kỹ cho ra từng viên gạch còn mềm, đem ra phơi nắng, rồi gánh chúng vào lò nung ba ngày đêm thành những cục gạch, tôi cứ nghĩ rằng mình đang làm một công việc quá sức người và chỉ một thời gian ngắn là phải bỏ cuộc.
Nhưng trong hoàn cảnh cực kỳ khó nhọc đó, tình bạn, tình đồng đội xuất hiện như một vì sao chợt sáng chói trên vòm trời, vì hình như tất cả anh em trong đội đều cùng một nhận định như vậy và cùng hiểu rằng nếu mình không cùng chung lưng lại làm được thì không có ai phụ giúp mình được cả – và đây là cái giá phải trả cho người thua trận.
Khi ấy anh Võ và tôi đều trong đội gạch, anh ở tổ máy còn tôi tổ đất nhưng không hiểu sao anh rất mến tôi và có gì đặc biệt là có mặt tôi.
Khi mới được thăm nuôi thì anh Võ có ít cà phê và phích đựng nước sôi. Trong đó nhất là vào mùa Đông mà có phích nước nóng thì không còn gì mơ ước hơn.
Mỗi buổi trưa có hai giờ để nghĩ ngơi tại buồng nên khi vừa ăn xong cái bánh bột hấp là khẩu phần ăn trưa thì anh pha một phin cà phê đen với cái vợt pha cà phê tự tạo, và ra dấu cho tôi qua cùng thưởng thức. Các bạn thì đều đang nằm sắp lớp như cá mòi trên ván gỗ để tìm giấc ngủ hầu lấy sức lại cho buổi lao động chiều nên tôi bước nhè nhẹ qua từng người một đến chỗ anh Võ.
Ngồi nhấp ngụm cà phê đầu tiên và khi tôi gật đầu là anh biết hôm đó anh pha ngon. Hai đứa cùng im lặng thưởng thức những giọt cà phê xong không ai nói với ai một tiếng, rồi về tìm giấc ngủ. Tình bạn đơn giản như vậy nhưng thật khó mà quên được.
Ngoài ra, uống trà không ngờ vừa là một thú vui trong tù nhưng cũng đem lại những người bạn cùng hợp “gu” với nhau. Anh Đại Úy Sơn Không Quân, Thiếu Tá quận trưởng “Y-Trong”, ông bầu Ngọc, anh Xuân võ sư, những anh Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt như Huỳnh Thanh Nhơn, Nguyễn Hữu Trân, hay chú Wòng người Tầu, đều là những bạn trà tâm đắc của tôi một thời trong tù.
Uống trà nó có hai cái lợi là giải khát trong mùa Hè và sưởi ấm người trong mùa Đông. Vào mùa Hè, nhiều khi quá khát mà uống bao nhiêu nước cũng không hết khát, hoặc nhiều khi khát quá uống liều cả nước sông có thể gây ra nhiễm trùng đường ruột, nhưng chỉ một vài chung trà nhỏ là hết khát ngay.
Cũng như mùa Đông lạnh lẽo, buổi tối ngày thứ Bẩy ngồi quay quần với nhau ở tầng trên, vì là kín đáo hơn, bên cạnh một ấm trà nóng với vài bi thuốc lào hay vài điếu thuốc lá rồi uống chung trà “móc câu” và nghe buổi văn nghệ bỏ túi thì không còn gì hơn khi ngoài trời gió Bấc vi vu thổi từng cơn qua các hàng cây. Ngoài Bắc họ gọi trà “móc câu” là những đọt trà non xấy lên xoăn lại giống như hình móc câu.
Bởi thế dần dần trà trở thành một thú tiêu khiển của chúng tôi lúc nào không hay, nhưng vẫn không bì được với bên hình sự, họ uống trà với xác trà ngập lên đến một nửa lon guigoz, đắng nghét.
Trở lại với thành phần trong đội thì đa số là các anh cấp Úy còn trẻ tuổi từ trại Thạnh Mỹ Tây trong Nam chuyển ra Bắc theo tầu Sông Hương hay từ Hoàng Liên Sơn và Vĩnh Phú chuyển về, nhưng trong đó lại có vài người lớn tuổi như bác A., trước là Hội Đồng tỉnh, hay một anh nghĩa quân nữa, không hiểu sao cũng bị đưa ra Bắc.
Vì bác A. lớn tuổi nên thường khi ra lao động các anh trong đội vẫn nhường cho bác công việc nhẹ nhất hay nấu nước uống cho đội.
Thời gian ấy thiếu ăn thiếu mặc thiếu cả chất đường và muối nữa. Trại cấm tích trữ muối và chỉ thỉnh thoảng họ mới cho một ít “nước chấm”. Tụi tôi tưởng là nước mắm nên cũng mừng nhưng họ là siêu đẳng về môn lừa bịp và lường gạt cho nên “nước chấm” thực chất chỉ là nước muối pha loảng. Vì lao động mất rất nhiều chất muối trong người mà họ không cung cấp muối cho mỗi khẩu phần ăn cho nên nhiều người mới xỉu khi đang lao động tại ngay hiện trường.
Mỗi tháng mỗi tù nhân được cấp cho ba đồng để tiêu vặt, sau khi mua kem đánh răng, sà bông, vài bao thuốc lá hay thuốc lào thì tôi vẫn dư ra được khoảng một đồng. Một hôm bất ngờ trại cho bán bánh nướng và xe của nhà bếp lọc cọc kéo đến bên ngoài cửa sổ của từng buồng để bán, bán chứ không cho.
Bác A. cũng giống như một số anh khác là luôn luôn cạn tiền bởi vì ba đồng bạc đâu có là bao, và trong đội thì bác mến tôi nhất cho nên mỗi lần như thế thì bác lại nhìn tôi và tôi lại ra dấu cho bác cứ mua đi. Các anh em cũng chung lại với nhau để rồi cuối cùng thì ai cũng có một miếng bánh ăn cho vui buổi tối nhất là trong người đang thiếu chất ngọt dù là nó cứng vì làm bằng bột gạo và nhân thì chỉ pha ít bột đậu xanh không thơm ngon và mềm như bánh Trung Thu mà chúng tôi mơ tưởng nhưng cũng ấm lòng đôi chút vào mùa Đông.
Khoảng thời gian làm mẻ gạch để nung đầu tiên thì đầy những khó khăn và cực nhọc nhưng không ai bảo ai chúng tôi cùng nhẫn nhục chịu đựng, cố hết sức nương vào nhau, chia sớt nhọc nhằn để cùng nhau làm xong các chỉ tiêu mà họ giao cho mỗi ngày.
Có những hôm tôi tưởng không còn hơi sức mà lao động nữa nhưng nghĩ đến nếu mình bịnh nghỉ ở nhà thì các bạn mình lại phải gánh thêm một chút trên vai nên lại cố đi cùng với đội ra lao động.
Mỗi người ai cũng quyết tâm như vậy cho nên những mẻ gạch đầu tiên đã ra lò thành công ngoài dự tính cả về số lượng và chất lượng và tay Tự Giác là một anh tù hình sự chung thân và tay quản giáo đội vô cùng mừng rỡ. Quả thật tôi cũng không ngờ rằng các bạn mình trước kia chỉ quen cầm súng nay lại tài giỏi như vậy dù là sức khỏe chẳng còn bao nhiêu. Đúng là thời thế tạo anh hùng.
Tay quản giáo rất trẻ tên Tâm là một người tương đối hiền lành nói rằng trong đội có những anh là kiện tướng về lao động nên mới đạt được thành qủa như vậy, anh ta cũng tỏ ra rất là vì nể những người tù chính trị này cho nên mỗi khi ra chỉ tiêu cho đội thì nói rất là ôn tồn, chứ không có vẻ nghênh ngang như tay quản giáo trước, hay lúc nào cũng la lối như các quản giáo khác bên tù hình sự.
Anh ta cũng còn khen là đội gạch có nhiều anh đẹp trai hơn mấy đội khác nữa làm chúng tôi nhìn nhau mỉm cười không biết y có cà tửng hay không.
Về sau khi ngồi uống trà trong giờ “giải lao” anh ta tâm sự với chúng tôi thì tôi mới hiểu lý do là khi anh về quê thăm cha mẹ thì hai ông bà thân sinh ra anh đều bảo anh phải đối xử tử tế với những người tù chính trị này.
Không những quản giáo vì nể mà ngay cả anh tự giác là chuyên viên về nghề gạch của đội sau một thời gian làm việc chung với chúng tôi cũng tỏ lòng kính trọng và có gì cũng luôn bàn bạc với các anh em có trách nhiệm trong đội chứ không dám chuyên quyền, trong khi các trật tự hay tự giác khác đối với tù hình sự thì họ thẳng tay không thương tiếc đôi lúc chúng tôi cũng bất nhẫn nhưng không thể can thiệp được.
Vào mùa xuân và mùa Thu thì việc lao động tương đối bớt cực khổ một chút nhờ thời tiết mát mẻ. Mùa Hè thì khủng khiếp với cái nóng đến nung người mà phải ở ngoài trời suốt ngày và thỉnh thoảng lại thấy có người xỉu vì trúng nắng.  Mùa Đông là mùa chúng tôi sợ nhất vì ngoài cái băng giá mưa phùn gió Bấc là những cục đất sét nó cứng còn hơn đá mà phải rưới nước và dầm nó mềm ra bằng đôi chân trần của mình.
Đội gạch, đội ngói, đội rau xanh, và đội mộc, đội rèn là những đội đã đem lại nguồn lợi nhuận to lớn cho trại, không những đã giúp trại tự túc được về lương thực mà còn dư ra nữa.
Tuy nhiên chúng tôi vẫn chỉ được 15 cân quy ra chất bột mỗi tháng không hơn, thỉnh thoảng thì họ thưởng cho một bát rau muống luộc là hết, tiền dư ra không hề biết họ làm gì.
Họ dùng chữ chất bột, ban đầu tôi cứ nghĩ là gạo nhưng khi họ cấp phát thì toàn là sắn hay miền Nam gọi là khoai mì khô có khi đã mốc meo hay khoai tây nhỏ xíu thứ không bán được giá, hay khi thì bo bo, bánh bột hấp, v.v. thì cũng không ai thắc mắc gì được.
Chính là tình anh em đồng đội đùm bọc lấy nhau và sự can đảm chấp nhận cái lao động khổ sai đã giúp cho chúng tôi sống sót qua được giai đoạn đầy gian khổ ấy.
Một đêm khi đang ngủ thì anh Trãi, Quốc Gia Hành Chánh, đánh thức tôi dậy và nói rằng cậu Út nằm bên cạnh đang ói mửa ra đầy cả mùng chiếu.
Anh Trãi và cậu Út đều là hai người làm việc rất giỏi của đội và ba người chúng tôi nằm cạnh nhau ở sàn trên. Trong ba người thì anh Trãi lớn hơn tôi và Út nhỏ nhất nên thường gọi cậu ta là Út.
Hỏi ra thì tôi mới biết là Út uống thuốc tự tử nhưng bị phản ứng thuốc.
Tôi bèn bảo Út vào trong mùng ngủ chung với tôi đêm đó và ngày hôm sau khi ra lao động tôi cố sức khuyên:
-“Út à! Đừng có dại dột làm vậy nữa nhe. Ít nhất thì Út cũng nghĩ đến Má ở miệt quê vẫn ngày đêm trông chờ Út về”.
Tuy nói như vậy nhưng tôi hiểu rằng cuộc sống trong tù quá là cực nhọc, không có một tia ánh sang nào cho người tù bám vào để mà hy vọng, chỉ còn nhìn về gia đình như cái phao cấp cứu, nhưng người yêu và là hôn thê của Út đã lập gia đình thì đi tìm cái chết cũng không có gì là lạ.
-“Út không có hứa gì với anh được vì lần sau Út biết rồi, uống một liều là đi luôn.”
Luôn hai ngày tôi theo sát bên Út và không thể tìm cách nào mà thuyết phục cậu ta được vì nói gì thì Út cũng khăng khăng bác đi.
Tôi suy nghĩ mãi và trong lòng rất lo lắng vì biết cậu ta nói là làm và lần sau mà Út tự tử thì không biết lúc nào mà ngăn cản được.
Một hôm tôi kéo  Út ra một góc sân vắng chỉ có hai người và tôi đã tìm mọi lý lẽ để thuyết phục, tìm cách trả lời hết những câu hỏi của Út thì cuối cùng Út móc ngéo ngón tay tôi và hứa sẽ từ bỏ ý định tự tử.
Tôi vô cùng mừng rỡ và báo tin cho anh Trãi biết và chúng tôi lại sánh vai nhau với các anh em hàng ngày xuất trại đi lao động bình thường.
Sau này có cơ duyên gập được thầy của tôi là Hòa Thượng Thích Thiện Chánh thì thầy Tâm có bảo tôi rằng:”Cứu một mạng người còn hơn xây ba cảnh Chùa, nhất là người đó lại đang trong khổ nạn như con.”
Khoảng năm năm sau thì anh Trãi và Út có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại và Út đã về đoàn tụ cùng với bà Mẹ tại miệt vườn ở Tiền Giang.
Khi tôi qua Mỹ vài năm và đang làm cho Hội Cộng Đồng Người Việt tại Quân Cam, một hội thiện nguyện để giúp cho những người tỵ nạn từ Việt Nam mới qua,  thì bất ngờ chị Xuân từ bên Pháp đến Cali, đi theo một người bạn đến thăm tôi.
Tôi kể cho chị nghe hết thời gian khi anh mang bệnh và được BS Quýnh, anh Đức nhất là anh Trung tận tình chăm sóc ngày đêm như thế nào.
Chị nghe xong, cám ơn tôi, lau nước mắt và ra về.
Khoảng bẩy năm trước tôi có dịp đến Virginia thăm gia đình người bạn, thì lại gập được những người bạn tù cuối cùng như anh Đệ biệt danh Cả Đẫn và anh Sửu con Trâu rồi ghé vào một ngôi chùa để thăm anh Trung.
Lúc đó anh Trung đã xuống tóc và trụ trì ngôi chùa nhỏ trong thành phố nhưng không có duyên gập anh vì anh vừa hướng dẫn một đoàn Phật tử đến một công viên để thuyết pháp vì nơi chùa cư ngụ không cho tập trung đông người.
Khi về lại Cali tôi gọi điện thoại thăm anh Trung và anh rất là mừng rỡ nói chuyện với tôi về những năm tháng còn trong tù và tôi cũng nhắc lại công đức anh đã làm được khi tận tụy với ông Xuân cả năm trời tại bệnh xá của trại và cầu chúc cho anh thân tâm thường an lạc.
Thời gian trôi qua thật nhanh như bóng câu qua cửa sổ nhưng mỗi khi nghĩ lại cuộc đời tù đầy và những năm tháng lưu đầy trên xứ Bắc ấy, tôi vẫn không sao quên được sự chịu đựng bao đau đớn một cách can đảm và sự ra đi trong âm thầm lặng lẽ của ông viện trưởng viện đại học Cần Thơ Nguyễn Duy Xuân; không thể quên được những hình ảnh hào hùng vị tha cứu người của anh Trung võ sư; không quên được ly cà phê đen cùng chia sẻ với anh Võ; và nhất là khuôn mặt còn nhiều nét ngây thơ và thất tình như mất hồn của cậu Út.
Sau đó thì tôi không được tin tức gì thêm về cậu Út nữa ngoại trừ là Út đã về đoàn tụ với bà Má, nhưng vài năm sau khi qua Mỹ, trong kỳ tôi đi công tác cho hội thiện nguyện lên Sacramento, tôi có dịp gập lại anh Võ và mời anh ăn trưa và ly cà phê đen. Anh Võ, tôi cùng với một người bạn nữa chúng tôi cùng ngồi bên nhau trong khoảng thời gian thật là ngắn ngủi và hồi tưởng lại những kỷ niệm không bao giờ quên được của một cơn ác mộng dài.
Con người ta khi vừa mới sinh ra với tiếng khóc chào đời thì quả thật mỗi người đã mang theo một số mệnh khác nhau không biết đâu mà nói trước được là ai sẽ còn ai sẽ mất trong chốn hồng trần này, khi mà miền Nam đã mất và Sàigòn không còn nữa.
Bởi vậy cứ chuyên tâm “Làm Phước” như lời thầy Thích Thanh Long vẫn thường khuyên bảo là điều nên làm hơn cả nhất là trong thời Mạt Pháp, như thầy Tâm vẫn thường nhắc nhở tôi, khi mà Quỷ Dữ đang lộng hành.
  Phần XIII: “Thăm Nuôi Trong Trại Giam”
Không rõ hai chữ “thăm nuôi” có từ bao giờ và từ đâu, nhưng có điều tôi biết chắc chắn rằng trong trại giam họ không thích chúng tôi sử dụng hai từ ngữ này.

Lý do rất dễ hiểu như họ giải thích là: “Nhà Nước đã nuôi các anh đầy đủ và cho gia đình đến “thăm gập” các anh mục đích là để “động viên” cho các anh lên tinh thần và…lao động tốt hơn để sớm được đoàn tụ”.

Họ nói một cách rất là thuộc bài bản, rất ư là tự nhiên và có vẻ như là tự hào nữa về cái chế độ “tập trung cải tạo” và về vấn đề cho phép gia đình đến “thăm gặp” trước hàng trăm tù nhân chính trị mà thân hình chỉ còn hơn que củi và quần áo không vá trên thì vá dưới nhưng những nét tinh anh trong con người họ thì vẫn chưa biến mất sau nhiều năm trong ngục tối và hành xác.

Lúc đó là đầu năm một chín bẩy chín khi lệnh cho thăm nuôi chính thức được loan báo sau một biến cố quân sự. Vì quyền lợi đôi bên đụng chạm với nhau tại Campuchia nên hai thầy trò Trung Cộng và Bắc Việt đã choảng nhau một trận nên thân tại sáu tỉnh biên giới Việt Trung, mà kết quả là một số đất của cha ông chúng ta đã lọt vào tay Trung Cộng vì kẻ thù muôn đời phương Bắc đã dời cột mốc sâu hơn vào lãnh thổ VN khi tiếng súng vừa ngưng.

Miền Nam thì được thăm nuôi sớm hơn có lẽ vì gia đình gần hơn; hay là vì các tù nhân chính trị trong Nam không bị coi là thành phần nguy hiểm nhiều hơn hay “tội với cách mạng và nhân dân” nặng như các tù nhân đã bị đưa ra Bắc kể từ năm một chín bẩy sáu thì cũng không hiểu được.

Có một niềm tin mà không lay chuyển trong tôi là có một sự mầu nhiệm nào đó của Ơn trên đã xui khiến cho cái cánh cổng sắt nặng nề và hắc ám đó của trại giam phải mở ra cho thân nhân của các tù nhân chính trị vào thăm để tiếp tế cho họ kịp thời. Bởi lẽ nếu chậm hơn nữa thì không rõ tôi và các bạn tôi có còn đủ sức đi nữa trên con đường lưu đầy khổ sai hay không?

Cộng Sản miền Bắc họ muốn chúng tôi phải trả một cái giá thật đắt để trả thù lại việc đã chiến đấu chống lại họ trước kia cho nên chỉ được cấp cho một khẩu phần ăn ít ỏi để phải chịu đói rét quanh năm và đói khổ ngày đêm nhưng không thể chết được mà sống lây lất để còn làm ra của cải cho trại qua những hình thức lao động quá sức người.

Nhiều tù nhân sau vài năm không chịu nổi những giá lạnh rét mướt và đói khát bệnh tật thì đã đều lên nằm yên nghỉ trên ngọn đồi nghĩa trang, hay đang nằm tại bệnh xá của trại trong tình trạng không thuốc men và dinh dưỡng nên cũng đang chờ Thần Chết đến để “thăm gập”.

Bởi thế, phải mở cửa sau bốn năm giam cầm cho gia đình đến thăm thì thực tâm họ không muốn đâu nhưng bàn tay Trời Phật đã ban xuống để cứu lấy những người tù.

Tuy nhiên có những người tù đã không còn đủ hơi sức để chờ đợi người thân đến thăm, và nhiều chị khi đến trại thì mới hay là chồng mình đã qua đời. Trong niềm đau tột cùng đó, chị đã cắt mái tóc của mình vùi sâu trên mộ phần của chồng để “anh không còn lạnh lẽo nơi hoang vu này vì có một phần của em nằm bên anh”, và trong tiếng gió chiều vi vu qua rừng cây vắng lặng của núi rừng trùng trùng điệp điệp miền Bắc, hình như Trời cao và cũng chẳng có ai thấu hiểu nỗi tang tóc đau thương vụt đến của mình, người phụ nữ nhỏ bé đơn côi đã chít khăn tang cho con rồi bái biệt ra về.

Có chị rất là bình tĩnh, không khóc mà ghi lại hết lại các chi tiết và quỳ xuống khấn nguyện sẽ có một ngày quay lại để đem anh về miền Nam ngắn ấm và được chôn cất bên những ngôi mộ của người thân – để anh không còn cô đơn giá lạnh nơi rừng thiêng nước độc.

Những tình cảm thủy chung đó, hình ảnh những người vợ từ trong Nam ra Bắc, vất vả ngược xuôi thăm chồng ba ngày đêm trên xe lửa cũ kỹ, phải băng rừng lội suối bao gian nan để đến bằng được trại giam thăm chồng với những thứ thực phẩm, vật dụng mà cán bộ họ chưa bao giớ trông thấy, đã từ từ thay đổi cách nhìn của họ với người tù chính trị và họ cũng không dấu được sự kính nể đối với các người vợ tù.

Sự mở cửa cho thăm nuôi chính là luồng gió mới trong lành mà Trời Phật đã ban cho để xua đi bớt những tăm tối u minh ám chướng của trại giam; và sự hận thù của kẻ chiến thắng và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc với tù chính trị cũng dần dần phai nhạt như một điều thực sự là huyền diệu.

Cuộc đời tù tội của những người tù chính trị chế độ cũ đang bước sang một chương mới dễ thở hơn.

Các trại giam cho thăm nuôi thì thời khóa biểu có thay đổi khác nhau do quân đội hay công an “quản lý”, từ những liên trại trên Hoàng Liên Sơn, xuống đến Vĩnh Phú, xuống đến Hà Tây, Nam Hà, Thanh Cẩm trong Thanh Hóa, nhưng tựu trung thì khoảng cuối năm một chín bẩy tám đầu bẩy chín, tức là khoảng bốn năm sau khi bước chân vô trại tập trung thì chúng tôi ngoài Bắc bắt đầu biết thế nào là thăm gập gia đình.

Người mà đầu tiên đến thăm tôi trong trại giam lại là chị Liên, một bà chị họ con bác ruột tôi mà gia đình thường gọi là bác Phán ở Hà Nội, chị là người mà ngày xưa vẫn thương tôi nhất trong các anh em. Các anh chị và hai bác vẫn mang một cái ơn của Ba Mẹ tôi khi mà năm 1954 di cư vào Nam thì Ba Mẹ tôi đã để lại hết tài sản kể cả ngôi dinh thự trên đường Cầu Đất tại Hải Phòng cho hai bác và các anh chị trông coi. Nhờ thế mà gia đình bác tôi mới có tiền sống sót được sau khi Hiệp Định Genève chia hai đất nước.

Chị đã khéo léo gửi một lá thư cho tôi biết là Mẹ tôi nhờ chị vào trước xem tôi ra sao và chị cho tôi biết là chị đã già rồi và không còn đẹp như ngày xưa nữa để tôi chuẩn bị tinh thần, nhưng khi đi ra gập chị thì hình ảnh của một thiếu nữ đẹp đẽ duyên dáng của Hà Thành ngày xưa ấy giờ là một bà lão già gầy ốm da mặt đã nhiều nếp nhăn dù là chị chỉ vào khoảng ngoài năm mươi mà thôi. Cuộc thăm viếng ngắn ngủi ấy đã để lại lòng tôi nhiều chua sót và ngậm ngùi khi thấy rằng chị tôi cuộc sống cũng không đến nỗi quá kham khổ mà còn biến đổi nhanh chóng như vậy thì người dân ngoài đó họ đã khổ cực và lam lũ như thế nào dưới cái chế độ mới sau năm 1954?

Lúc tôi vào trại và đổ hết ra xem các thứ bà chị mua cho lên chiếc chiếu ở từng trên thì một anh bạn lò đầu lên hỏi tôi cái gì cũng không nhớ, tôi đưa cho anh một gói mì gói. Sau này anh cứ thắc mắc hỏi là làm sao tôi biết anh đang thèm gói mì, tôi trả lời là quà thăm nuôi của tôi lần đầu ấy chỉ lỏng chỏng những gói mì, vài bao thuốc lá và các cube súp bò để nấu canh, đâu biết cho gì khác, vả lại đang đói thì cái gì làm cho ấm lòng như gói mì là đáng giá nhất.

Đầu năm bẩy chín khi đó đã vào đầu mùa Xuân nhưng vẫn còn rất lạnh , tôi đang ở đội gạch và ngày ngày vẫn cùng với các bạn tù vật lộn với những tảng đất sét, đứng lao động ngoài trời nơi đồng không mông quạnh phơi mình trong từng cơn gió, và nhờ Trời không hiểu sao tôi và các bạn tôi vẫn còn sống.

Chúng tôi cố tưới nhiều nước cho các tảng đất sét cứng như đá đó mềm bớt đi rồi mới dùng chân trần mà đạp từ từ lên cho đến khi nó mềm nhũn ra thì mới sang mai được thành từng bánh để cắt cho ra thành từng cục gạch ướt mà phơi cho khô mới gánh vào lò nung, và hai vai cũng bắt đầu quen với đòn gánh không còn đau ê ẩm nữa.

Khi đi lao động, tôi thường thủ trong túi các cục kẹo mà bà chị vừa cho và chia cho các bạn mỗi người một cục để vừa ngậm vừa tán dóc, trong không khí lạnh buốt của một ngày trời u ám không một ánh nắng, vừa đạp đất vừa kể chuyện ngày xưa khi đi uống cà phê Brodard, Givral, hay ngồi quán kem Mai Hương, đi dạo phố Bô Na như thế nào ở Sàigòn. Các anh đại úy như Trung, Thế, Tâm, Cảnh, hay anh Trãi, Quốc Gia Hành Chánh, có khi anh Võ, và cậu Út tăng phái cho tổ đất, đều là những người kể chuyện có duyên lôi cuốn làm cho chúng tôi vừa lao động mà quên bớt đi nỗi nhọc nhằn.

Sau này có nhiều anh cũng được gia đình thăm nuôi nhưng nói rằng chưa bao giờ trong đời được ăn một cục kẹo ngon đến như thế và hỏi tôi xem bà chị mua ở đâu. Tôi chỉ nhìn rồi không nhịn được cười bởi vì nó cũng chỉ là một loại kẹo tầm thường bán tại Hà Nội còn thua xa kẹo Sàigòn nhưng vì lúc đó trong người thiếu đủ thứ chất béo, chất ngọt và chất bột nên ăn thấy quá ngon mà thôi, thậm chí chỉ ngậm cho đến khi nó tan từ từ mà không dám cắn nó vỡ ra sợ mau hết.

Khi tôi đang đạp đất, chân lấm tay bùn thì nghe tin báo là Mẹ và em gái tôi từ trong Nam ra thăm. Cảm giác lúc đó thật là khó tả, tôi đứng ngây người xúc động trên đống đất sét. Các bạn tôi thì phát vào vai dục đi rửa tay chân vào trại chuẩn bị ra thăm. Có anh chỉ vào hai mắt ra dấu là đừng khóc trước mặt họ. Tôi gật đầu rồi vội vã vào trại thay quần áo.

Ra tới khu thăm nuôi, tôi được cho biết là thời gian thăm là 15 phút. Mẹ tôi có hỏi là đi từ Nam ra Bắc ban ngày trên xe lửa, qua một đêm chờ đợi mà vào gập con có 15 phút sao thì tay phụ trách thăm nuôi chỉ trả lời vỏn vẹn là:

-”Đó là lệnh trên đưa xuống”.

Nhìn Mẹ tôi tóc đã ngả mầu sương và bàn chân thì bị sưng vì vấp thanh sắt trên tầu, tôi cố ngăn giòng nước mắt cứ chực tuôn ra và vội vã hỏi thăm gia đình. Mẹ tôi và em gái tôi ngồi một đầu bàn, tôi một đầu và tay cán bộ ngồi giữa nghe hết các lời đối thoại nên không nói gì được nhiều.

Lợi dụng lúc Mẹ tôi đến chỉ các thứ đem ra cho tôi, tôi nắm lấy tay Mẹ:

-”Mẹ à! Con không muốn Mẹ ra thăm con nữa, Mẹ cứ gửi quà các thực phẩm khô qua bưu điện được rồi.”

Mẹ tôi chỉ tay qua bàn bên cạnh và nói rằng chị vợ đang nói chuyện với chồng, tối qua cũng ở ngoài khu thăm nuôi này và bị trúng nước tiêu chẩy nằm luôn không ngồi dậy được, may mà Mẹ tôi có đem theo thuốc và chai dầu cù là nên chị đã tỉnh lại sáng nay.

Tôi thầm cám ơn Mẹ đã giúp đỡ nhưng người đồng cảnh ngộ bởi vì đã xẩy ra nhiều trường hợp người vợ ngã bệnh ngay tại khu thăm nuôi và qua đời khi chưa được nhìn thấy mặt chồng sau bao năm xa cách vì tình trạng vệ sinh tồi tệ tại khu thăm nuôi, hay người vợ ngã bệnh trên đường trở về sau khi gập mặt chồng.

Tôi cám ơn Mẹ và em gái rồi quay người vào trại mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Khi vào đến cổng trại họ chận lại khám xét. tịch thu một số tiền “ngân” nói là sẽ cho mua hàng “căng tin” sau này, một số thuốc men, một số thực phẩm gia vị vì không được đem vào trong trại. Tôi lẳng lặng thu gom những thứ còn laị vào bao và xách vào buồng.

Luồng gió thăm nuôi như chiếc đũa thần đã giúp cho chúng tôi dần lấy lại sức mau chóng y như những cây khô được tưới nước đúng lúc và khi ra lao động chúng tôi nhìn nhau đã thấy có da có thịt và sức khỏe đang hồi phục.

Tôi nhớ một câu chuyện thăm nuôi đầy nước mắt là anh Cư, một đại úy truyền tin rất hiền lành chân thật của người sinh trưởng trong miền Nam, sau khi có vợ đến thăm thì tự dưng anh như người bị lãng trí, anh thường nói với anh em là anh đang ngày nào cũng đánh tín hiệu ra vũ trụ, anh cười cười chỉ tay lên trời. Hễ có ai hỏi gì thì anh lúc nào cũng trả lời “Yes” hết, khiến sau đó anh được mệnh danh là “Yes Man” luôn.

Quà cáp của vợ đưa cho anh hôm thăm nuôi, anh lấy ra phân phát hết cho tất cả trong buồng, anh nói là ăn một bữa no rồi cần gì giữ nữa, cho hết cho hết; cũng giống như tình trạng của một anh đại tá buồng bên cạnh sau khi nhận được gói quà của vợ gửi về từ Pháp thì anh như người điên chạy trong sân rồi vứt hết các thực phẩm kể cả thuốc men vào thùng rác. Các anh trong buồng biết anh Cư đã bị một cái gì “sốc” nặng lắm nên không còn tỉnh táo nữa cho nên thâu giữ dùm các quà gia đình mà anh đã phân phát để từ từ đưa lại cho anh dùng sau này.

Một hôm, anh lui cui nấu nước trong phòng tắm thì đám lính đi tuần tra trông thấy lửa bèn bất ngờ mở cửa buồng giam ban đêm xông vào hỏi anh đang làm gì thì anh trả lời rất là tự nhiên:

-”Tôi làm Đại Úy QLVNCH.” Anh em một số đang cùng nấu nướng với anh Cư cũng không nhịn được cười dù biết là bị bắt nấu nướng trong buồng giam là vi phạm nội qui của họ và sẽ bị kỷ luật.

Họ muốn hỏi anh nấu gì và đã vi phạm nội qui trại cấm nấu nướng nhưng anh cứ một mực nói là Đại Úy và không hiểu sao tối hôm đó họ lại bỏ đi.

Tuy nhiên không phải tất cả đều có được gia đình đến thăm bởi đường xá rất xa xôi và vì ngay tại “khâu” xin giấy tờ ở địa phương để ra Bắc thăm nuôi cũng đã là cả một vấn đề khó khăn rồi, chưa nói đến một chuyến đi như vậy rất là tốn kém, nên nhiều người vợ dù thương chồng và  muốn đi thăm chồng nhưng không có khả năng tài chánh.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn trong tù thì con người ta hay tìm ra những phương tiện để “cải thiện” sức khỏe. Thí dụ như nhờ vào những đồ hộp mà trong chúng tôi có anh đã phát minh ra chiếc lò dầu hôi để đun nước và nấu đố ăn, vừa nhỏ gọn lại dễ cất dấu hơn là nấu củi rất lích kích, và ban đêm khó mà dấu được ngọn lửa và khói trong phòng tắm và vệ sinh tỏa ra qua khung cửa thông hơi.

Anh Tính là người rất khéo tay và đã làm được nhiều chiếc lò dầu hôi này và anh có đưa cho tôi một cái, ban đầu tôi không lấy nhưng anh cứ bỏ lại chỗ tôi nằm, thấy vậy tôi bèn lại biếu anh một hộp cá. Anh mừng quá và nói:

-”Để tôi sẽ gửi về nhà!”.

Tôi rất ngạc nhiên tưởng mình nghe lầm vì thường là từ ngoài gửi vào trong tù chứ ai lại làm ngược đời như vậy:

-”Anh gửi về nhà?”

-”Đúng vậy! Để tôi cho anh xem cái này.”

Nói rồi anh lấy từ trong ba lô ra một lá thư của người vợ đưa cho tôi.

Trong thư vợ anh viết là chị không thể ra thăm anh được dù rằng rất mong muốn và các con anh cũng nhắc đến ba nó hoài bởi vì ở nhà đã hết gạo và chị đang bịnh không khỏe  nên cũng không biết sẽ phải xoay sở ra sao.

Tôi nhìn anh, đầu anh hơi cúi xuống và hai con mắt như thất thần, hai mắt tôi tự dưng đỏ hoe với một niềm xúc động bất ngờ chợt đến dù là sau bốn năm tâm hồn tôi cũng phần nào chai đá rồi. Không biết ngoài anh ra thì còn bao nhiêu người tù khác hiện đang phải chịu đựng cảnh lưu đầy mà còn mang nặng thêm nỗi đau khôn nguôi của vợ con nheo nhóc ở nhà nữa, hai niềm đau cho một kiếp người?

Tôi kéo anh lại chỗ tôi nằm từng trên, mời anh một chung nước trà và đưa cho anh một ít đồ hộp, mì gói, và ít thuốc vitamins, ít tiền và nói anh hãy mau tìm bạn nào ra thăm để gửi ngay về cho chị và nếu tôi quyên thêm được sẽ đưa sau.

Một tháng sau, anh được thư gia đình và anh đến cám ơn tôi là món quà nhỏ đã về đến nhà kịp thời. Tôi rất mừng nhưng nhất là chỉ khoảng một thời gian sau thì anh có tên được tha ra về vì anh chỉ là cấp đại úy bộ binh. Tôi tin rằng ông Trời có mắt cho anh về kịp lúc để giúp gia đình đã quá túng quẫn.

Từ khi có thăm nuôi, chúng tôi được ăn mặc tươm tất hơn nhưng thời gian đầu họ bắt đóng dấu sơn hai chữ “cải tạo” đỏ lòm sau áo và quần.

Rồi có một vài tay tự giác vào tiếp xúc làm quen với chúng tôi, lúc đầu là bán trà móc câu hay trứng gà, dầu hôi,v.v., sau từ từ móc nối để mua lại các quần áo dân sự. Lúc đó tôi mới biết là người dân bên ngoài rất là thiếu áo quần, nhất là những bộ quần áo đẹp may trong Nam hay cả bộ Treillis rằn ri của lính VNCH cũ nữa thì họ cũng rất ưa chuộng vì đi rừng rất bền.

Khi mới ra tới miền Bắc còn chân ướt chân ráo thì bên hình sự khu B có lẽ bị đám cán binh trại xúi dục đã lên tiếng mắng chửi chúng tôi thâm tệ mỗi khi đi lao động ngang qua họ hay khi họ đi ngang qua khu A chúng tôi. Qua một thời gian liên lạc và tiếp xúc, tự dưng bên hình sự họ thay đổi hẳn cách xưng hô và tỏ ra kính trọng bên A chúng tôi nên nhờ Trời cũng dễ chịu hơn trong môi trường phức tạp đó.

Ngay cả dân làng ở các thôn xóm hai bên đường hay các thị trấn mà gia đình hay các chị tải hàng đi qua trên đường đến trại thăm chồng thì họ cũng không thể ngờ rằng miền Nam lại giầu có đến như vậy; và sự tuyên truyền về một miền Nam nghèo đói bị “Mỹ Ngụy” áp bức dần tan theo mây khói, nhất là khi thấy người miền Nam đều thật thà, giản dị nhưng nhiều tình cảm.

Mỗi lúc thăm nuôi vào trại, thủ tục bao giờ cũng phải qua cuộc kiểm tra tại cổng từng thứ một. Có lần Mẹ tôi gửi vào cho hai anh em tôi mỗi người một cái bật lửa gas thật đẹp và tiện lợi vì không cần xăng. Tôi thấy cặp mắt của tay trực trại tỏ vẻ thèm thuồng nhưng hắn sau đó ra dấu kiểm tra xong. Ngày hôm sau một tay tự giác bên B qua gập tôi và xin cái bật lửa cho tay trực trại. Tôi nghĩ là hai anh em dùng chung một cái cũng được rồi vì không cho là hắn kiếm chuyện đấy, nhưng chính tôi lúc đó không ngờ rằng cái bật lửa ấy đã cứu tôi một lần.

Số là anh tôi theo đoàn tù từ Hoàng Liên Sơn xuôi về miền trung du và hai anh em bất ngờ lại gập nhau trong cùng một trại giam nhưng ở hai khu khác nhau.  Chúng tôi phải lao động sáu ngày một tuần, có khi Chủ Nhật họ cũng bắt đi lao động luôn gọi là “lao động xã hội chủ nghĩa” để tăng gia sản xuất; những chủ Nhật như thế thì không có gì chán nản hơn nhưng thân phận tù đầy đành phải chịu. Mỗi sáng Chủ Nhật được nghỉ trong trại không phải lao động thì anh tôi chờ mở cửa buồng bên ấy xong thì khi bên tôi mở là vù chạy qua để hai anh em có dịp nấu nướng ăn uống chung vì tôi biết nấu nướng chút ít và có lò dầu hôi, và chiều thì anh tôi lại vù về; thời gian chỉ trong vài phút, nếu chậm là cả hai cửa buồng đều khóa lại.

Một sáng Chủ Nhật, tôi đứng ngay cửa khu chờ mãi không thấy anh tôi qua, rất sốt ruột không biết anh tôi ra sao nên tôi đánh liều bảo mấy người bạn canh chừng dùm cho tôi chạy qua khu bên kia để đem thức ăn cho anh tôi.

Hai khu ngăn cách nhau bởi một cái sân rộng và hai bức tương, từ bên cạnh hai cái cổng sắt là văn phòng trực trại từ đó họ nhìn suốt chiều dọc cái sân nên không có gì qua mắt được họ.

Tôi liếc nhìn vào văn phòng trống trơn, có lẽ các cửa khu đều khóa kín nên họ đi chơi? Suốt dọc chiều dài cái sân lớn ấy không một bóng người, chỉ cần nhẩy khỏi bức tường bên này, chạy nhanh qua sân và nhẩy một bức tường nữa là vào khu anh tôi đang bị giam.

Hai người bạn hai bên tôi đều ra hiệu cho tôi là mọi việc thuận tiện.

Vì trước kia cũng có thời gian học Thái Cực Đạo và luyện tập thể dục nhiều nên tôi nhẩy xuống sân dễ dàng và đang định lấy đà chạy qua sân thì cổng trại nặng nề ấy tự dưng mở ra ken két và một cái nón cối bước vào. Tôi đứng như trời trồng và viễn ảnh sáng thứ Hai phải đứng trước hàng quân nghe bản án kỷ luật hiện nhanh trong đầu.

Cái nón cối kia từ từ quay lại nhìn thấy tôi, chưa biết sẽ phải biện hộ ra sao cho việc nhẩy qua tường này thì tôi nhận ra nón cối này là tay trực trại đã xin tôi cái bật lửa gas. có lẽ hắn cũng nhận ra tôi nên sau vài giây lưỡng lự thì không hiểu sao hắn quay lưng đi ra và đóng cánh cổng lại.

Hai tên bạn tôi lại lò đầu lên cho tôi nắm tay leo vào nhưng tôi khoát tay và chạy lẹ qua sân và nhẩy vào khu bên anh tôi để đem đồ ăn cho anh và ngồi hồi hộp chờ đến trưa khi họ mở cửa khu hai bên để phát phần ăn trưa thì mới vù về được.

Đến năm một chín tám ba thì một phần ba trại được lệnh di chuyển tù chính trị vào Nam trong đó có anh tôi và một số bạn thân của tôi, rồi tất cả còn lại thì nhổ neo khỏi Hà Nam Ninh về trại Ba Sao ở Nam Hà.

Các bà vợ tù lại lếch thếch cùng nhau đến trại Ba Sao để thăm chồng mình trong suốt năm năm trời tại đây khi mà chung tôi sau nhiều đợt thả chỉ còn vỏn vẹn chín mươi người trên toàn miền Bắc vào năm một chín tám tám.

Tôi nhớ không quên được của một anh trung tá được thả về từ trại Nam Hà viết thư vào cho tôi có đọan: “chúng tôi về với gia đình rất mừng nhưng rất thông cảm các anh còn ở lại quá ít ỏi. Chúng tôi dù mười ba năm trong tù cũng mới chỉ được huy chương Bạc, các anh còn lại mới xứng đáng là huy chương Vàng.”

Năm một chín tám tám, toàn bộ chín mươi người còn sót lại tại trại Nam Hà được lệnh vào Nam và tiếp tục “cải tạo” tại Hàm Tân Z-30D, nhưng các chị có chồng còn trong tù đi thăm đã được mọi sự dễ dàng đỡ mệt nhọc hơn vì từ Sàigòn ra Bình Thuận vào tới trại chỉ mất khoảng nửa ngày.

Hàm Tân tuy nằm trong khu rừng lá Buông và có núi đồi bao quanh nhưng thuận tiện vì gần đường Quốc Lộ và bên cạnh ngay một con sông với các nhánh chẩy xuyên qua trại róc rách ngày đêm nên mát mẻ và thời tiết hiền hòa hơn ngoài Bắc.

Trong bốn năm còn lại trong trại Hàm Tân từ một chín tám tám đến chín hai, có lẽ đó là thời gian đặc biệt nhất trong suốt cuộc đời tù đầy của tôi vì với một số lượng còn lại là một trăm năm mươi tư người tù cuối cùng so với hàng triệu người vào tù sau ngày mất nước một chín bẩy lăm, hình như ngoài cái lao động vẫn còn căng thẳng ra thì cách đối xử của các cán bộ trại nhất là tay trại trưởng Thiếu Tá Nhu là dành mọi sự dễ dãi cho tù chính trị.

Họ đã cho đem vào trại cả những băng cassette nghe nhạc kể cả những máy cassette radio, có thể đem bia và các sách tạp chí ngoại quốc vào nữa. Căng tin thì bán đủ loại cần thiết và đặc biệt là họ cho chúng tôi tiêu tiền mặt và gia đình đến có thể ở lại vài ngày trong khu nhà tranh rất mát ngay bên cạnh dòng suối.

Khi về đến trại Hàm Tân trong Nam, anh em chúng tôi đều thở phào ra nhẹ nhõm vì đã qua được một cửa ải khủng khiếp là mười hai năm lưu đầy khắp các trại giam từ vùng Thượng du xuống đến Trung du ở ngoài miền Bắc. Bốn năm tại Z-30D có lẽ cuộc đời tôi không bao giờ quên được vì nó chứa đựng bao kỷ niệm đau thương và êm ái  vụt đến rồi vụt bay đi của những lần thăm nuôi.


Những kỷ niệm về thăm nuôi đáng ghi nhớ nhất là tại hai trại Ba Sao Nam Hà, thuộc Hà Nam Ninh và khi về miền Nam tại trại Hàm Tân.

Thời gian tôi ở trại Ba Sao, Nam Hà thì sinh hoạt đã cởi mở nhiều, vấn đề nấu nướng trước kia đụng tới là đi kỷ luật, nay đã thành sự thường tình và người người nấu nướng, buồng buồng nấu nướng. Nhất là sau khi trại mở cửa cho thăm nuôi thì mỗi chiều khi đi lao động về thì ai cũng vội vã nấu thêm một chút để “bồi dưỡng” và bếp lửa hồng reo vui ở mọi nơi.

Chính nhờ nấu ăn được thoải mái mà sức khỏe nói chung đều khá lên và có thêm sức chịu đựng được thêm những mùa Đông băng giá nữa giữa núi rừng thâm sơn cùng cốc ở miền Bắc.

Trước sân mỗi buồng đều rất rộng và trở thành phòng ăn lộ thiên cho từng nhóm hai , ba người quây quần ăn chung trước khi kẻng vào buồng, chỉ có nhóm của hai anh em ông Quy, Đại tá đội trưởng và anh Tấn Trung tá, là đông nhất với bẩy anh em kể cả anh Toan nghị sĩ, Thanh Thiếu tá, ông Hợp Đại tá, anh Tôn, vừa ngồi ăn vừa nói chuyện huyên thuyên cả một góc sân.

Ở đây cần mở ngoặc ra là một số anh em không biết từ bao giờ đã được đặt cho những biệt danh bởi một số anh dù là trong tù nhưng vẫn không bỏ được cái tính hay chọc phá của mình, và sau đó chúng tôi cứ quen gọi theo biệt danh mà nhiều lúc quên khuấy luôn cả tên thật của họ.

Thí dụ như một hôm tôi nghe đươc các anh báo tin về tình hình thăm nuôi hôm đó như sau: Cậu Ba ra thăm nhưng “Hốt Ổ”, “Tấn É” cũng ra theo, những người cùng ra khu thăm nuôi còn có ”Gà Tre”, “Con Trâu”, “Y Trong”, “Cả Đẫn” và “Quách Tĩnh”.

Cậu Ba là ông Quy, Tấn É là em ông Quy để phân biệt với “Tấn Bầu” thuộc Phủ Đặc Ủy, Hốt Ổ là Thanh, Gà Tre là Sơn Thiếu tá cảnh sát đặc biệt, và Y Trong là anh Trọng Thiếu tá quận trưởng, Cả Đẫn là anh Đệ Đại úy và Quách Tĩnh là anh Tĩnh Đại úy cảnh sát.

Ông Quy có gia đình bên Pháp và là một trong những người có thực lực nhất về phương diện thăm nuôi. Ông cũng rất khéo trong xã giao, giống như một số anh em có thăm nuôi khác, cho nên nhờ thế mà không khí trong trại cũng từ từ được để cho thoải mái hơn.

Không những các cán bộ trại mà cả các cán binh cũng ra vào trại thường xuyên để uống cà phê, uống trà, hút điếu thuốc với các tù nhân chính trị và khi đi ra cũng không quên dắt trên vành tai một điếu thuốc nữa. Họ rất là mê cà phê phin và thuốc lá ngoại quốc nhất là ba số năm.

Một trong những kỷ niệm khó quên là khi tất cả các trại tụ hội lại tại Nam Hà năm một chín tám ba thì để đánh dấu cho sự hội tụ này một buổi “đại nhạc hội” đông nhất từ trước đến nay trong trại giam quy tụ cả hàng trăm người ngồi đầy trong sân và cả trong buồng nữa, đã được tổ chức thành công ngay trong sân của buồng giam số Một với bánh kẹo trà thuốc đầy đủ không thiếu gì nhờ các anh mới có thăm nuôi yểm trợ.

Buổi sáng đó vào ngày Chủ Nhật, ban nhạc có đủ trống, ba cây đàn ghi ta và và đầy đủ mặt anh hào trong làng văn nghệ như anh Quí Lùn Đại tá, Bửu Uy, ca sĩ hát được ba thứ tiếng, “Y-Trong”, và một nhân vật rất tài hoa là anh Hiến Đại úy Biệt Động Quân vừa là nhạc sĩ vừa ca sĩ – người đã sáng tác những bài hát bất hủ trong tù như “Chuyến Tầu Xuôi Phương Nam”, “Biệt Động Quân”, v.v.

Các bài hát ngày xưa và các bài về di tản của nhạc sỹ Nam Lộc và Việt Dũng như “Người Di Tản Buồn”, “Món Quà cho Quê Hương” được trình bầy xen kẽ với các bài sáng tác trong tù đã đem lại một niềm vui bất ngờ, một cái gì thật hào hùng hòa lẫn vào với những xúc động của thân phận tù đầy, và tiếng ca tiếng đàn như bay vút lên đến từng mây xanh trên Trời.

Buổi đại nhạc hội đó đã thành công ngoài dự tính và có điều lạ lùng là suốt buổi sáng hôm ấy không thấy bóng dáng một tay “chèo” nào – tiếng anh em vẫn gọi các cán bộ trại – xuất hiện vào trong các buồng.

Chỉ vài ngày sau thì khoảng phân nửa trại bên tù chính trị được lệnh chuyển vào miền Nam và trại đã thưa vắng hẳn đi. Trong chúng tôi còn ở lại, tuy không nói nhưng ai cũng vẫn còn luyến tiếc buổi ca hát đó; nhưng phải công nhận một điều là sự thành công ấy đã nhờ một phần vào phương tiện do thăm nuôi đem lại nên được trang bị với nhiều loại nhạc cụ đầy đủ.

Nam Hà là nơi để lại nhiều kỷ niệm nhất về thể thao, không hiểu bắt nguồn từ đâu mà một nhóm cán bộ trẻ và chịu chơi mà anh em thường gọi chung là “chèo” từ ngoài vào trong trại và dùng cái sân rộng giữa hai khu trại giam làm sân đá bóng.

Rồi sau đó bất ngờ hình thành những trận “đọ sức” giữa đội tù chính trị bao gồm những anh em tương đối trẻ sau thời gian được thăm nuôi đã lấy lại phong độ như Bích Thiếu tá không quân, Hóa Trung úy người về từ tầu VN Thương Tín, Thân tự giác, Chí “nhỏ” Phục Quốc đang làm trật tự, các anh trong bếp và bên Văn Hóa để đấu với nhóm “chèo” đó, và anh Phạm Bá Hoa Đại tá bên Văn Hóa làm trọng tài.

Anh em chúng tôi ùa ra để cổ vũ đội nhà. Cứ một hai tuần lại có một trận đá banh rất hào hừng để “phục thù” vì hai bên hầu như ngang ngửa dù là bên tù chính trị nhiều anh tuổi tác cao hơn bên “chèo” nhưng không vì vậy mà bị thất thế và phía bên “Chèo” cũng không làm sao mà áp đảo được. Sau cả năm trời thi đấu “giao hữu” với nhau, cuối cùng hai bên đều công nhận là không mèo nào cắn mỉu nào và chấp nhận hòa.

Tuy nhiên trong con mắt chúng tôi thì đội nhà đã thắng oanh liệt trên phương diện tinh thần.

Các trận đá banh ấy cũng góp phần vào củng cố lại uy thế cho những người tù chính trị đối với các cán bộ, khu gia binh của họ và ngay cả bên tù hình sự nữa. Tôi và một số bạn chẳng biết đá banh nhưng trận nào cũng có mặt để cổ vũ đội nhà đến khan cả cổ.

Nhưng trận đấu banh volley biểu diễn trong sân trại mới làm cho hầu như toàn thể các cán bộ trại họ nể vì nhất, bởi lẽ họ tưởng là chúng tôi không biết gì về các bộ môn thể thao này, cho nên đã thách đấu qua các trận đá banh rồi họ kéo vào sân trại, tay đóng cọc tay dựng lưới lên biểu diễn đánh volley ball.

Một hôm, anh em mới thúc anh Tuấn là cầu thủ dự bị hạng C về volley ball trong thời VNCH ngày trước ra biểu diễn; và anh Tuấn chấp sáu tay “chèo” một bên và chỉ mình anh một bên và đã thắng họ một cách dễ dàng trước những con mắt không dấu được sự thán phục của bên hình sự và cán bộ trại.

Hoặc như anh Xuân, Đệ Tam Đẳng Thái Cực Đạo và là Đại úy huấn luyện viên Cảnh Sát Quốc Gia một hôm nhân ngày lễ của họ đã biểu diễn cho một tay đô vật trong vùng tha hồ muốn khóa anh như thế nào thì khóa. Anh cứ nằm yên trên đất và chỉ một loáng sau là anh gỡ được và thoát ra khỏi hai tay như gọng kìm của anh chàng đô vật đó. Sau khi thử hai ba lần cuối cùng anh chàng đô vật cúi mình chịu thua trong sự nể phục, vì họ không ngờ trong Nam có những người võ nghệ giỏi như vậy.

Các tin tức thể thao về đá banh, volley ball trong trại lại được chính những tay cán bộ trẻ và chịu chơi này trong lúc trà lá đã phổ biến cho họ hàng và dân chúng ngoài mãi tận thị xã Phủ Lý.

Những hoạt động thể thao vui chơi trong những ngày Chủ Nhật được nghỉ lao động, nhìn bề ngoài chỉ như là cho qua ngày đoạn tháng nhưng trên thực tế đã giúp cho uy tín của bên tù chính trị lên rất cao vì đó là một giai đoạn rất quan trọng  đánh dấu sự phục hồi của người tù cả về thể lực lẫn danh dự sau gần mười năm bị giam giữ mất Tự Do, bị tước hết nhân phẩm.

Đây cũng là một cái mốc cực kỳ to lớn đánh dấu sự cáo chung và thất bại thảm hại của các âm mưu nham hiểm của kẻ thù muốn từ từ tiêu diệt hết các tù chính trị là giai cấp tiểu tư sản chế độ cũ trong tù bằng hành động vô nhân đạo là bỏ đói họ và bắt lao động khổ sai cho đến chết nơi rừng thiêng nước độc trong mười năm qua.

Âm mưu nham hiểm ấy được công khai thi hành khi năm một chín bẩy sáu lúc vừa chiếm xong miền Nam chưa bao lâu thì họ đã bằng mọi phương tiện di chuyển ngày đêm hàng trăm ngàn tù nhân từ Nam ra miền Bắc một cách bí mật để cách ly các tù nhân này ra khỏi gia đình và xã hội miền Nam.

Ẩn dấu đằng sau của cái “chính sách khoan hồng nhân đạo” lùa hàng triệu người trong quân dân cán chính của chế độ VNCH cũ vào hết trong “tập trung cải tạo” là ý đồ của họ nhằm tiêu diệt giai cấp tư sản trong chế độ cũ, và mục đích đó đã chỉ thành công được một phần mà thôi.

Họ đã thành công trong việc vừa cô lập hàng triệu người này trong tù, tách họ ra khỏi gia đình và xã hội, vừa cắt đứt con đường sinh sản của thành phần “kẻ thù của giai cấp” này, trong khi đồng thời thẳng tay san bằng các lực lượng đối kháng trong miền Nam như họ đã làm tại miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954.

Họ đã thành công một phần những năm đầu chiếm đóng miền Nam trong việc đàn áp, kỳ thị, và tiêu diệt gia đình của những tù nhân này ngoài xã hội bằng cách đầy đọa đi vùng kinh tế mới, tịch thu nhà cửa, tài sản, khủng bố tinh thần, cấm con cái ”Ngụy” học lên đại học, từ chối không cho việc làm, v.v., nhưng Ông Trời có mắt.

Những tù nhân bị lưu đầy khổ sai đã không bị tiêu diệt vì gia đình họ Trời Phật đã mở đường cho đến thăm nuôi kịp lúc và xui khiến cho gia đình họ ở nhà đã xoay sở và bươn chải được sau một thời gian ngộp thở dưới sự cai trị tàn bạo của chế độ mới xã hội chủ nghĩa.

Vợ con, cha mẹ, anh chị em của họ vẫn nhớ thương họ và giữ gìn bao bọc lẫn cho nhau nên nền tảng giá trị và căn bản gia đình từ thời cêế độ cũ đã không bị hủy diệt.

Âm mưu cực kỳ sâu độc của kẻ chiến thắng đã thất bại trước những tấm lòng trung kiên của vợ con họ ở nhà, và của chính họ trong bốn bức tường vây hãm của trại giam. Bởi vì sau thời gian đầu mới vào trại giam ai cũng như đám bèo bị đánh trôi dạt khắp nơi nhưng từ từ vài năm sau những cánh bèo đó đã hội tụ lại, trụ lại được thành một khối, đoàn kết lại với nhau và tương trợ lẫn nhau nên đã sống sót và tồn tại.



Bởi thế những người tù nào ở ngoài Bắc đã đi qua ngưỡng cửa của trại Ba Sao Nam Hà hay sau năm một chín tám tám còn bị giam tại trại Hàm Tân trong Nam là những người đã sống và trải qua những năm tháng lịch sử của chương bi hùng ca “tập trung cải tạo” khi mà những người tù chính trị đã lật ngược lại được thế cờ.

Từ khi các trại mở cửa cho thăm nuôi, thấm thoát mà gia đình đi thăm từ Nam ra Bắc đã được bốn năm rồi, nhưng chỉ khi tù nhân ở các trại khác ngoài Bắc đồng loạt được chuyển về hội tụ tại trại Ba Sao Nam Hà thì việc thăm nom đó mới nở rộ. Các chị đã liên kết lại thành những hội và nhóm nhỏ không tên tuổi của các bà vợ còn thủy chung để tương trợ lẫn nhau trong các chuyến hành trình gian nan ra Bắc thăm chồng.

Mỗi chuyến đi các bà vợ thẩy đều có kinh nghiệm cho nên thường đi chung với nhau ít nhất là hai hay ba chị để thay phiên canh cho nhau ngủ và canh chừng luôn cả một rừng các kiện hàng và túi xách của mình trên xe lửa nên cũng bớt phần vất vả và nguy hiểm vì các thành phần bất hảo đủ loại có đầy rẫy trên tầu.

Một điều khôi hài đen là ngay cả các tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi và tay quản giáo đội cũng vui lây mỗi khi thấy các chị từ trong Nam ra thăm vì ít nhất họ cũng được biếu xén một gói thuốc lá ba số năm hay Pall Mall hay Salem; cho nên mỗi khi nghe các chị đến thì khu thăm nuôi trở thành vui nhộn và náo nhiệt như một cái chợ.

Tuy vậy vì đường xá rất là xa xôi diệu vợi từ Nam ra Bắc nên không phải gia đình nào cũng đi thăm được và cũng không thể thăm nuôi thường xuyên vì khả năng tài chánh hữu hạn dù rằng các bà vợ đều có một tấm lòng vàng quí giá hầu như muốn mua hết cả Sàigòn mà đem ra cho chồng. Bởi thế những gia đình không đi được thì lại nhờ các chị mang dùm ra cho chồng mình hay gửi quà tiếp tế qua đường bưu điện.

Nhưng trại chỉ cấp phát cho mỗi tù nhân một cái phiếu gửi quà cho mỗi quí là ba tháng mà thôi, nhưng dần dà không hiểu làm cách nào mà các chị ở nhà lại kiếm ra nhiều phiếu “ngoài luồng” cho nên nhiều người lại nhận được các bưu phẩm gửi ra đều đặn hàng tháng.

Các gia đình ở nhà còn phải nặn óc nghĩ cách nào để gửi tiền “ngân” vào cho trong tù có tiền mặt mà chi tiêu khi cần thiết nữa bởi trại mà họ thấy tiền “ngân’ là tịch thu ngay không cần nói một lời.

Tôi phải nói rằng rất là phục Mẹ tôi vì Mẹ tôi đâu có được học nhiều đâu vì vừa lớn là phải tần tảo buôn bán giúp Bà Ngoại tôi nuôi các em, rồi Thế Chiến Thứ Hai nổ ra thì Mẹ tôi lại phải lo cho chồng và cho con là ông anh cả mới sanh và đi tản cư; nhưng Mẹ tôi tính đâu ra đấy.

Khi tôi nhận được thùng quà gửi qua bưu điện thì hai ngày sau thư của Mẹ tôi họ kiểm duyệt xong mới đưa lại cho tôi trong đó có đoạn viết:

-”Con nhớ giữ lại cái thùng vì nắp của nó rất là tốt, kẹo dừa rất ngon, con để dành mà ăn, đừng cho bạn bè. Cái chăn của anh Cả cũng vậy.”

Thảo nào, khi có bịch kẹo dừa buổi tối, tôi mừng quá mời bạn bè tía lia uống trà, có mấy tay ngậm kẹo mà cứ ú ớ mãi, sau nhè ra thì hóa ra là tiền đã được gói nhỏ xíu lại rất là khéo bọc trong vỏ kẹo, thoáng nhìn thì không nhận ra sự khác biệt. Tôi bèn nắn lại hai nắp thùng các tông thì quả nhiên thấy cái gì cồm cộm bên trong. Anh Cả tôi cũng lần mò tìm trong cái chăn được một số tiền nữa.

Những gói quà bưu điện tôi nhận được đều lần nào cũng có bịch kẹo dừa, mỗi lần qua cổng trại phải kiểm soát là tôi lại hồi hộp bởi lẽ trực trại họ cắt bao ra hết và đổ các viên kẹo lẫn vào các món khác như tôm khô hay đậu phọng da cá nhưng rất may là họ không để ý thấy những cục kẹo dừa này lại mập ốm khác nhau. Nói đúng ra họ không thể ngờ rằng vì tình thương yêu vô bến bờ của gia đình dành cho những tù nhân mà đã ngồi tỉ mỉ gói từng viên kẹo như vậy rồi sắp xếp lai ngay ngắn vuông vức trong chính bao kẹo dừa ấy.

Thời gian đó, các cục cube thịt bò để làm soup nấu canh rất là quí và mới mẻ chưa ai biết dùng hết. Tôi nhận được mười viên thì mừng quá nghĩ rằng đó là loại kẹo thật là quí mới bọc trong giấy bạc nên mắt nhắm mắt mở chia cho các thằng bạn chung quanh mỗi đứa một cục ngậm chơi. Một lát sau, tụi nó nhìn tôi hỏi:

-”Ê, mày chắc là kẹo chứ?”

-”Kẹo ngon mới bọc trong giấy bạc đó.”

-”Mày ăn thử chưa?”

Tôi đang soạn đồ đạc lấy làm lạ bèn bóc một cục bỏ vào miệng thì ôi thôi nó mặn cái gì đâu. Tội nghiệp mấy thằng bạn nghe nói kẹo quí lắm nên dù mặn chát cứ ngậm bồ hòn làm ngọt không dám nhè ra.

Hai hôm sau có thư gia đình kiểm duyệt xong đưa vào thì tôi mới ngã ngửa ra và đếm lại chỉ còn ba viên cube làm vốn.

Sau đó tôi rút kinh nghiệm, món gì lạ thì bỏ qua một bên chờ thư vào mới đem ra dùng cho chắc ăn. Mỗi lần nhắc lại”kẹo tiền” và “kẹo cube thịt bò” thì tôi không nhịn được cười khi nhớ lại những bộ mặt nhăn nhó vì mặn của mấy thằng bạn.

Một kỷ niệm khó quên là tình cờ tôi được uống rượu Mơ nguyên chất khi mà một bà chị ngoài Hà Nội vào thăm theo yêu cầu của Mẹ tôi, đã mua cho tôi một số thực phẩm khô và một số trái Mơ chín bỏ trong một hũ đường trắng. Lúc đầu tôi cũng hơi thắc mắc là sao không bỏ mấy chục quả Mơ đó bên ngoài. Tôi để hũ đường trộn Mơ đó trên cái giá trên đầu và quên đi cho đến một hôm chợt thấy nó sủi bọt lên, mở ra thì đã thành rượu Mơ thật là ngon. Bấy giờ tôi mới biết vì sao trái Mơ lại để lẫn vào trong hũ đường.

Ngoài ra vì thấy tôi không khỏe nên Mẹ tôi cũng gửi ra một hũ nhau có pha ít rượu, ngụy trang là hũ thịt, để ăn cho bổ nhưng mà tôi không cách nào ăn được nên đành giao lại cho một bạn thân lúc đó là anh Kinh để đem về nhóm ba người của Kinh là Đạt và Lê Bá Cường, đều cấp Trung tá và họ rất là “hoan hỉ” giúp dùm.

Sau này trở thành cái lệ hơi trưởng giả một chút là tên nào có thăm nuôi vào thì mời anh em thân trong nhóm ăn uống “xả láng” một bữa cho đã đời.

Thăm nuôi cho tù chính trị có thể được ví như một luồng gió trong lành thổi vào tới từng ngõ ngách trong trại giam, quét đi những nặng nề và tạo ra nhiều sự chuyển biến thật diệu kỳ.

Ngoài vấn đề sức khỏe của mọi tù nhân nói chung đều khả quan rõ rệt cả về thể chất lẫn tinh thần, trí nhớ dần trở lại, thì mặt khác các bệnh tật cũng lui dần và không còn ai bị chết oan do những trường hợp vì thiếu thuốc hay thiếu dinh dưỡng như trước nữa – trừ phi vướng vào những căn bệnh nan y.

Các loại thuốc tây mà gia đình gửi vào trong trại giam đã phát huy tác dụng như thần dược và đã cứu nguy không những các tù nhân mà cả một số gia đình dân làng gần đó hay cho cả môt vài gia đình trong khu gia binh nữa.

Một hôm buổi chiều đang chờ kẻng điểm danh vào buồng thì có một tay cán binh vẫn đi theo đội chạy vào xin ít viên thuốc vì đứa con trai ba tuổi của anh ta đang sốt rất cao và dang mê sảng mà bệnh xá khu gia binh không có một viên thuốc nào cả.

Các anh em nhìn nhau, phần vì không có thuốc phần không biết chữa ra sao. Tôi sực nhớ trong bản hướng dẫn của ông anh thứ hai của tôi trong Quân Y vẫn gửi kèm với thuốc cho tôi có ghi là Aspirine trị được đau nhức và sốt. Tuy không biết Aspirine hữu hiệu bao nhiêu nhưng tôi lấy đưa cho anh ta hai viên và bảo cho cháu nó ăn ít cháo rồi uống hai lần mỗi lần nữa viên thôi.

Không ngờ ngày hôm sau, anh ta nét mặt hớn hở chạy vào cám ơn tôi và hỏi là thuốc gì mà hay như thần vậy vì cháu nó đã dứt sốt và tỉnh lại. Từ đó nhiều lần anh ta vào trại lấy một mớ thư “chui” của chúng tôi ra bỏ dùm ngoài bưu điện thị xã.



Cuộc đời quả thật nhiều lúc nhân quả ngay trước mắt chứ chẳng phải chờ đến kiếp sau.

Thăm nuôi đúng là đã đem đến cho chúng tôi sự may mắn y như từ trên trời rơi xuống vậy vì lần lần nó đã giải tỏa đi bao nhiêu là sự tuyên truyền xuyên tạc đầy ác độc của kẻ thù nhằm làm cho dân chúng, cho chính cán bộ họ và bên tù hình sừ thù ghét bên tù chính trị.

Bởi lẽ đó nên năm một chín tám ba khi chúng tôi rời Hà Tây, Hà Sơn Bình để chuyển về Ba Sao, Nam Hà thì khu gia binh họ kéo ra đứng dọc theo bên đường với các bà mẹ mắt đỏ hoe, nắm tay con mình giơ lên vẫy chào tiễn đưa chúng tôi như những ân nhân của họ – những con người bình thường nhưng họ không thể tìm thấy được trong cái tập thể thiếu lòng nhân chung quanh họ.

Hoặc như năm năm sau, một nữ cán bộ trẻ và có một tấm lòng tốt với bên tù chính trị tên Thư vẫn thường giao dịch với anh em chúng tôi về mua bán ở căng tin trại Nam Hà, đã lái xe đạp vào tận trong sân buồng giam một mình, đứng nói chuyện với tụi tôi rất lâu, rồi khóc một cách rất tự nhiên, khi hay tin chúng tôi đang chuẩn bị ra nhà ga Nam Định, và chúc anh em chúng tôi xuôi về miền Nam bình an.

Trong họ có nhiều người rất tình cảm nhưng sống trong một xã hội đầy dối trá và lừa lọc thì họ phải dấu con người thật của mình đi mà sống giả dối nếu muốn sống còn như một tay quản giáo già đã tâm sự.

Nếu như thời gian năm năm trời tại Ba Sao Nam Hà, các người vợ tù đã thành công khi đoàn kết với nhau trong những chuyến ra Bắc thăm nuôi chồng thì khi chúng tôi vào đến trại Hàm Tân Z-30D trong Nam năm môt chín tám tám, thì nhịp độ thăm nuôi và sinh hoạt còn cao hơn và mang tính rất là đặc thù mà có lẽ không có một trại giam nào có được.

Khi bước chân vào trại Hàm Tân, chúng tôi chín mươi người tù chân ướt chân ráo từ Bắc vào Nam được tay trại trưởng là Thiếu Tá Nhu và các cán bộ dưới quyền ông ta dàn chào ngay tại sân trại, và được ông ta cho biết là các anh vào đây để tiếp tục cải tạo chờ ngày về mà thôi.

Sau đó thì một loạt các căn nhà tranh xinh xắn được lệnh dựng lên vội vã dọc theo con suối của khu thăm nuôi. Nếu đừng nghĩ đến thân phận tù tội thì con đường này khá là nên thơ vì nó có những ghế đá cạnh bờ suối, những hàng cây cao vút lên trên cả những mái tranh và những nhánh cây vươn dài ra tới suối và che cái ánh nắng oi bức của mùa Hè nên con đường ấy rợp bóng mát kéo dài ra tận cây cầu bắc qua con suối dẫn qua khu căng tin.

Mỗi lúc đi ngang qua khu nhà tranh đó thì chúng tôi đều nhìn với sự thắc mắc không biết khu nhà mới này dành cho ai nhưng không ngờ rằng khu này được dựng lên chính là để chờ đón gia đình chúng tôi đến thăm.

Thế rồi tin tức chúng tôi đã vào Nam lan đi như tin điện về Sàigòn và các tỉnh có lẽ nhờ các mẩu giấy chúng tôi vứt xuống đường khi xe lửa chạy qua Nha Trang vào Sàigòn. Các gia đình nhất là các chị lại bảo nhau tay xách tay nải đến Hàm Tân.

Khi tôi đang cuốc đất trồng các loại rau cải tại đội 20 thì anh Lộc cũng tù chính trị phụ giúp tại khu thăm nuôi lóc cóc đạp xe đạp ra đưa danh sách các người có thân nhân đến thăm trong đó có tôi.

Buổi trưa lúc ra đến nơi thì tôi thấy cả một đại gia đình đầy đủ hết các em tôi và hai đứa con đều có mặt. Nhiều em tôi còn nhỏ chỉ mười mấy tuổi lúc tôi vào tù nên Mẹ tôi không cho ra Bắc thăm tôi, nay nghe tin anh vào Nam nên kéo rốc hết đến thăm.

Hai con tôi lúc ngoài Bắc có theo Mẹ nó ra thăm được vài lần khi cháu gái mười hai tuổi và cháu trai mười một, bây giờ nhận không ra vì con gái tôi đã mười tám thành một thiếu nữ đẹp và dịu dàng như một nàng tiên, cháu chạy ngay lại nắm cánh tay Bố, còn con trai đã lớn bổng ra dáng một thanh niên bảnh trai đến cạnh tôi.

Thời gian trôi quá nhanh chăng, mới ngày nào tôi giã từ gia đình ra đi thì hai cháu chưa đầy bốn và năm tuổi nay đã là thanh niên thiếu nữ cả rồi và chỉ nhận ra thoáng qua được vài nét.

Cậu em út thì tôi hoàn toàn không còn nhận ra nữa vì khi tôi đi tù mới mười lăm tuổi, bây giờ đã hai mươi tám, trưởng thành và đang là giáo sư Anh Văn; nhưng tôi hơi thắc mắc vì không thấy có mặt vợ tôi và ông anh Cả đã cùng ở trong trại tù với tôi ngoài Bắc.

Gia đình đã cố dấu tôi đến vài năm sau tôi mới biết là anh Cả tôi đã qua đời tại Bình Dương vì xuất huyết não sau ba năm được thả về và đã mất vào khoảng thời gian vài tháng trước khi tôi chuẩn bị chuyển trại theo chuyến tầu xuôi về phương Nam năm một chín tám tám.

Còn vợ tôi thì các em tôi đều lảng tránh không đề cập đến mà chỉ nói là gia đình mừng lắm vì anh đã vào Nam sau mười hai năm sống đói lạnh khổ cực ở Bắc và về đây thì gần Sàigòn hơn nên các em tôi và hai con tôi sẽ đến thăm thường xuyên hơn.

Các bạn tôi thì ở những bàn bên cạnh cũng tíu tít không kém với vợ con và cười nói như chợ vỡ. Tôi nhìn thấy các chị quen vẫn hay ra thăm chồng ở Ba Sao Nam Hà vẫy tay chào tôi, các chị miệng thì cười mà hai mắt thì hoen lệ nhìn chồng trong khi các đứa con nay đã lớn thì vây quanh người Bố hỏi han đủ thứ, hình ảnh đó không khỏi làm cho tôi chạnh lòng nhưng lại gạt đi.

Có thể bà xã tôi bận việc gì đó. Nhưng bận gì thì bận, chồng đã vào đến miền Nam rồi mà không đến thăm ngay thì quả là một chuyện bất thường.

Các bạn tôi ai có vợ đến thăm thì được ở lại ngoài khu nhà tranh cạnh con suối ấy để chuẩn bị bữa cơm chiều gia đình, còn không như tôi thì vào lại trại tiếp tục “lao động là vinh quang”.

Trong khi chờ đợi vào trại, mọi người đều ra căng tin ngồi chờ xe đò của ông Tô đến đón về Sàigòn và bọn tôi không khỏi ngạc nhiên vì các tù nữ có sắc đẹp bên hình sự trang điểm phấn son, trong những bộ áo bà ba đủ mầu sắc hay quần jean áo sơ mi và guốc cao gót, đã được tuyển chọn ra phục vụ căng-tin.

Các nữ tù hình sự này nghe nói là đích thân trại trưởng Nhu lựa chọn mới được ưu đãi ra căng tin để bán nước uống, cà phê, trà, thuốc lá, và nấu đủ món từ hủ tíu, mì đến bánh canh giò heo vừa bán cho cả tù chính trị và hình sự và gia đình họ nữa để kiếm thêm cho trại, là điều mà mười ba năm nay, từ Nam ra Bắc và bây giờ từ Bắc vào Nam, tụi tôi mới thấy cách kinh doanh có sáng kiến độc đáo như vậy trong khuôn viên của một trại giam.

Ngày hôm sau, lợi dụng khu lao động gần bên khu nhà tranh thăm nuôi tôi ghé vào mấy căn để thăm gia đình bạn mình và cám ơn các chị đã đến thăm nhất là để thăm chị Sơn là vợ của Sơn “Gà Tre”, Thiếu tá trẻ tuổi nhất của ngành cảnh sát đặc biệt vì nghe chị bị chứng bịnh nan y.

Chị Sơn ngồi trên chiếc ghế dáng người bé nhỏ xanh xao nhưng tinh thần rất là vững vàng và cố gắng đến thăm chồng kỳ này có lẽ là lần cuối. Tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe của chị ra sao, thì chị nắm lấy tay tôi nói rằng nó đã di căn ăn lan hết hai bên ngực ra tới cánh tay rồi, chỉ còn chờ ngày thôi.

Tôi nhìn Sơn mấy hôm nay nghe tin vợ ra thăm mà mất ngủ, và thấu hiểu nỗi đau đớn của bạn mình bởi vì gia đình ở nhà đều dành tất cả cho người tù trong trại cho nên khi tìm ra căn bệnh thì chị cũng không có đủ tiền để chữa chạy kịp thời nên bệnh phát ra nhanh chóng.

Một vài tháng sau tôi nghe tin chị đã mất và Sơn cũng có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại.

Bao nhiêu năm trời chị gồng gánh mọi thứ để nuôi con và nuôi chồng trong tù, đến bây giờ khi chồng đã vào Nam, gần hơn và sắp được thả về thì chị lại ra đi, hoàn cảnh thật éo le và quả thật nhiều lúc không ai qua khỏi được Định Mệnh.

Thời gian lặng lẽ trôi qua cho đến một ngày bất ngờ tôi được báo là có em gái đến và ra thăm nuôi cùng với một số bạn trong đội 20.

Khi vào khu thăm nuôi thì tay cán bộ phụ trách hỏi tôi có muốn ở lại không. Tôi trả lời là em mà ở lại cái nỗi gì. Hắn ta nhìn tôi cười và nói là bà xã tôi chứ em nào.

Hóa ra là bà xã tôi thật nhưng khi gập trong khu thăm nuôi bà ấy bỏ phịch cái giỏ mây mà Mẹ và các em gửi cho tôi xuống đất, và nói là rất bận và nhờ người ta chở đi nên phải về ngay không ở lại được.

Tôi chưa hết ngỡ ngàng thì sau vài câu xã giao bà ấy quay lưng bước về phía căng tin. Tôi cũng không biết phải làm gi hơn là theo ra căng tin ngồi đợi cho các gia đình thăm nom xong xuôi rồi vào trại.

Lúc tôi ra tới nơi thì vừa kịp thấy bà xã tôi leo lên sau xe Honda 90cc và tài xế không ai khác hơn là bạn của anh bà ấy ngày xưa. Anh chàng này là trung ùy Nhẩy Dù bị thương giải ngũ nên không bị đi tù và lại là em trai của vợ một anh bạn tù cùng đội 20 với tôi ở đây.

Tôi chưa hết thắc mắc thì chiều hôm đó anh bạn tôi là H., Thiếu tá cảnh sát đặc biệt, kéo tôi qua một chỗ vắng và nói sự thật cho tôi biết là vợ tôi và em trai của vợ H. đã thân mật với nhau từ nhiều năm nay rồi nhưng gia đình nhất là Mẹ tôi và cả vợ chồng H. cũng biết từ hồi còn ngoài Bắc nhưng hết sức dấu vì sợ tôi buồn và không đủ sức mà sống sót được ra khỏi tù nữa.

Ban đầu thì tôi không tin nhưng H. nói rằng cậu em trai này vẫn ở chung nhà với người chị là vợ H. và chị H. đã mục kích hết từ nhiều năm nay thì tôi mới tin.

Ngày hôm sau khi ra lao động, tôi tìm một gốc cây Buông xa nơi làm việc bên cạnh con suối đang róc rách chảy xuôi về các mái nhà tranh êm đềm và vắng lặng của khu thăm nuôi và ngồi đó không biết bao lâu, cứ nhìn giòng suối chảy miết mãi không biết nên làm gì.

Những con chim bé nhỏ vẫn chuyền từ cành này qua cành kia hót líu lo hay bay từng cặp bên nhau một cách vô tư lự, những chiếc lá vàng vẫn theo từng cơn gió bay là là xuống mặt nước, nhỏ dần rồi mất hút về hạ nguồn.

Một sự trống rỗng xâm chiếm tâm hồn mình trước một sự việc mà tôi không bao giờ nghĩ có thể xẩy ra được, cực kỳ vô lý.

Mười bốn năm nay chịu đựng mọi gian nguy, khốn khó, đói rét, nhọc nhằn trong tù đầy, tôi không hề bao giờ thốt một lời oán trách Trời Phật và vẫn cam tâm chịu đựng những hình phạt khủng khiếp đó, những tưởng sẽ có một ngày đẹp trời nào đó thì đoàn tụ.

Nay tôi như thân chiếc lá vàng khô kia đang bị giòng suối cuốn trôi đi về đâu, về đâu bây giờ hỡi Trời?

Khi vào đến trong Nam thì chúng tôi nhìn thấy một điều khá chắc chắn là mình sẽ không thể chết được nữa vì khí hậu miền Nam hiền hòa và ở gần gia đình thuốc men tiếp tế nhanh chóng hơn; nhưng ở đời ai học được chữ ngờ và một lần nữa tôi lại thấy mình quá lạc quan vì một ngày còn trong tù là một ngày tính mạng mình còn trong vòng nguy hiểm.

Mấy ngày khi Sàigòn đang trong cơn hấp hối, tôi cứ cầm cái thẻ nhân viên của Tòa Đại Sứ Mỹ trong tay và khi có cơ hội tôi đã từ bỏ ý định ra đi một mình chỉ vì vợ và hai đứa con còn quá nhỏ sợ bỏ lại Cộng Sản sẽ trả thù. Nay thân tôi tù tội lê bước từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam không biết ngày nào ra và gia đình là cái phao cuối cùng để bám víu thì cái phao đó không còn nữa. Tôi cũng vừa được tin là Mẹ và các em tôi đã lên đường bay qua Mỹ dưới sự bảo trợ của ông anh thứ hai tại California.

Tối hôm đó trong buồng giam, tự dưng tôi thấy khó thở và đau nhói bên ngực trái và hoa mắt không còn nhìn rõ chung quanh. Mấy anh bạn nằm cạnh như Nhơn, Trân, thấy vậy vội chạy ngay sang khu đối diện kêu cứu với vị bác sỹ dân y là người của chế độ cũ bị bắt vì âm mưu lật đổ chính quyền.

Anh bạn bác sỹ này cho tôi biết là tôi có triệu chứng đau tim và bảo tôi phải bình tĩnh thì mới qua khỏi được vì trong này không có thuốc men hay phương tiện cấp cứu nào hết. Tôi không tin vì trước nay tim tôi không có vấn đề gì nhưng anh quả quyết là tôi phải thật bình tĩnh nếu không nhịp tim rối loạn lên thì không làm sao được trong tình cảnh này.

Lúc ấy không hiểu sao đầu óc tôi còn tỉnh táo và chợt nhớ tới các lời dậy của thầy tôi khi hai thầy trò còn bên nhau trong tù ngoài Bắc:

-”Nếu có gập chuyện gì hung hiểm, con cứ niệm Phật, đừng cưỡng lại nó, hãy chấp nhận nó thì từ từ sẽ qua.”

Tôi nhìn anh bác sỹ ra hiệu cám ơn, nhắm mắt lại rồi cố hít vào thở ra nhè nhẹ để Tâm an trong khi cố niệm Phật trong đầu.

Trong thâm tâm tôi nghĩ rằng hôm nay là ngày cuối cuộc đời mình ở nơi đây, Cũng xong một kiếp tù đầy. Nhưng thật là vô lý bởi vì khi vào tới trong Nam, tôi vừa nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm sau bao nhiêu năm dài tăm tối lại là lúc tôi phải ra đi một cách phi lý như vậy.

Tôi cứ niệm Phật trong đầu miết và chìm vào trong giấc ngủ lúc nào không hay. Tối hôm đó thứ Bẩy, theo thông lệ anh em đều tổ chức party trà lá tán dóc cho vui trong tù, và đó là lần đầu tiên tôi không tham dự được, không biết đứa bạn nào đã bỏ mùng dùm và đắp cho tôi cái chăn ngang bụng.

Buổi sáng hôm sau tôi thức dậy vì ánh nắng ban mai đang lung linh xuyên qua các kẽ lá của hàng cây trong sân lùa vào qua khung cửa sổ nhỏ hẹp trên đầu và chiếu rọi vào mắt.

Tôi rờ lại chung quanh, mình còn sống ư? Hơi thở chợt dễ chịu và ngực không còn cảm giác nhói đau nữa.

Phép lạ nào đã cứu tôi sống sót?

Bên ngoài, như mọi sáng Chủ Nhật nghỉ lao động, dọc hàng hiên của buồng giam mấy bạn thân của tôi đang bầy mấy cái tách, ấm trà trên cái bàn gỗ mộc tự tạo, bên cạnh lò dầu nước đang bốc khói để chuẩn bị cho một ngày mới.

Những chú chim non từ trên ngọn cây, rất là bạo dạn, bay vụt xuống bàn những bước chân chim nhỏ xíu, ngước đôi mắt đen lay láy lên nhìn những người tù này rồi lại vụt bay đi.
Các câu chuyện buồn vui trong suốt mười mấy năm thăm nuôi trong trại giam có thể viết thành một trường thiên tiểu thuyết bởi vì nó lung linh như một bông hoa trong sương đêm và thơm ngát muôn sắc mầu rực rỡ của tình người, nhất là những mối tình thủy chung son sắt và đẹp tuyệt trần của người vợ tù dành cho chồng.

Những hành trình thăm nuôi đầy gian nan ấy trải rộng và chạy dọc suốt một chiều dài của đất nước từ miền cực Nam của quê hương ra đến tận biên giới Việt – Hoa.

Sự kỳ diệu của thăm nuôi cũng không có bút mực nào tả ra được hết bởi vì nó không những đem lại sức khỏe, chữa được các bệnh tật cho các tù nhân chính trị chế độ cũ trong trại giam tập trung và nâng tinh thần họ lên cao; mà còn làm thay đổi hoàn toàn thái độ và cách đối xử với tù chính trị của người dân, của tập thể cán bộ trong những ngôi làng, những xã hội nho nhỏ chung quanh hay ngay trong các trại giam có tù chính trị đi qua.

Người dân chung quanh trại đều bị choáng ngợp bởi các thứ quà cáp thực phẩm vật dụng chất đầy trên những chuyến xe thồ hay xe cải tiến hoặc xe ngựa mà các chị và gia đình đem từ trong Nam ra Bắc nuôi chồng trong tù.

Ngay cả các cán bộ tại cổng khi kiểm tra các thùng quà này trước khi cho vào trại cũng phải công nhận là có nhiều thứ cả đời họ chưa từng thấy bao giờ như các hộp thịt bò, thịt heo, thịt gà ngoại quốc, đôi bao tay bằng da vừa mềm vừa ấm, những bút nguyên tử loại mới nhỏ mà đẹp, bật lửa gas, và các thứ thuốc tây đủ loại.

Thực tế này đã đánh tan cái tuyên truyền giả dối của Đảng và Nhà Nước của họ rằng miền Nam rất là nghèo khổ dưới sự kìm kẹp của chế độ “Mỹ-Ngụy” nên cần phải “giải phóng” miền Nam và đưa nó lên “thiên đường xã hội chủ nghĩa”.
Thời gian khi mà các tù nhân mới được nhận các gói quà tiếp tế đầu tiên -như là cả một gia tài- gửi vào cho họ từ gia đình thì không khí như sôi động hẳn lên và khi về đến chỗ nằm thì họ bầy ra ngay trên chiếc chiếu -là giang sơn của mỗi người – nào là hũ thịt kho mặn, cá khô Sặc, mì gói, đường, hộp sữa đặc, những cặp lạp xưởng rồi thì kem đánh răng, ôi thôi thì đủ thứ hết.

Nhắc đến lạp xưởng thì tôi không quên được anh bạn Lực Trung úy to con nằm bên trái vừa nhận hồi chiều gói quà trong đó có nữa ký lạp xưởng. Anh giở gói quà ra ngắm nghía một lát rồi lấy từng cái lạp xưởng sống bỏ vào miệng ăn một cách ngon lành. Tôi nhìn anh:

-”Ông không sợ ăn vậy đau bụng hay sao?”

-”Ê! Đại ơi, sao nó ngon quá hà.”

Anh vừa ăn vừa xoa xoa cái bụng ra chiều rất ư là hài lòng vì đã lâu lắm rồi nó không được ăn một bữa nào  ngon và no nê như vậy.

Và chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ thì nửa ký lạp xưởng đó – nửa ký tức là năm cặp hay mười cái lạp xưởng – đã nằm gọn trong bụng anh ta rồi, và cái điều lạ lùng là anh ta không có đau bụng đau bão gì cả. Có lẽ cơ thể nó quá thiếu chất béo nên cho vào bao nhiêu nó cũng hấp thụ hết mà không gây ra phản ứng gì.

Tôi nhìn qua bên phía tay phải là anh Miên, một hồi chánh viên, một người bạn mà tôi rất thương mến vì anh có một sức chịu đựng phi thường, một tình tình hiền lành nhẫn nhục, một người luôn luôn gánh vác những công việc nặng nhọc khó khăn nhất trong đội nhưng dù có cực khổ cách mấy không bao giờ thấy anh than thở điều gì. Có thể là anh đã biết trước, hơn chúng tôi, là vào tù “cải tạo” tập trung thì nó phải như vậy đừng thắc mắc vô ích.

Anh Miên đang “xơi” hũ đường trắng đựng trong cái lon Guigoz.

Ban đầu anh lấy lon Guigoz xuống, ngồi xếp bằng tròn lại một cách trịnh trọng xong rồi lấy cái muỗng súp ra xúc đường ăn, thấy tôi nhìn anh chìa hũ đường, tôi lắc đầu, thì anh bỏ thìa đường vào miệng ngậm cho nó tan ra từ từ để thưởng thức cái vị ngọt của nó.

Sau đó với một động tác dứt khóat đóng nắp hộp lại cẩn thận rồi đứng dậy cất cái hộp lên giá trên đầu nằm rồi nói một mình như vừa quyết định xong một việc gì rất là hệ trọng: “Để dành ngày mai”.

Anh nằm xuống và đắp chăn lại đàng hoàng tìm giấc ngủ nhưng chỉ một lúc sau tôi thấy anh cựa quậy hình như không ngủ được; và vụt một cái anh đứng dậy lấy lon Guigoz xuống với động tác cũng dứt khoát như khi anh bỏ nó lên trên cái giá và xúc ăn một lúc hai ba muỗng đường cho đã cơn thèm chất ngọt. Xong lại cũng trịnh trọng như lần trước, cất nó về chỗ cũ.

Trong vòng hai ba tiếng đồng hồ buổi tối, tôi thấy anh nằm xuống và đứng dậy khoảng chừng bốn năm lần là “xơi” sạch luôn hơn nửa cái lon Guigoz đựng đường ấy. Ngó tới ngó lui thấy nó đã trống trơn, khi đó, anh mới yên tâm nằm xuống lần chót, quấn tấm mền phủ kín từ đầu xuống chân và ngủ yên không thấy cựa quậy nữa.

Tôi nhìn anh ngủ yên và đang ngáy nhè nhẹ mà không nhịn được cười dù là tôi cũng đã qua những cơn đói khát không kém gì anh.

Điều may mắn là mấy ngày hôm sau anh cũng không bị phản ứng hay nổi mụn nhọt gì vì ăn một lúc hơn nửa lon Guigoz đường cát.

Cơ thể con người ta ông Trời sanh ra cũng thật là kỳ diệu.

Tôi không nhịn được cười vì tuy rất là thèm chất mỡ và chất đường sau bốn năm bị ăn “chay trường” và bỏ đói nhưng chưa lần nào dám thử xơi một lúc nửa ký lạp xưởng sống hay cả nửa lon Guigoz đường cát như hai người bạn nằm bên của tôi.

So sánh giữa hai anh bạn bên tả bên hữu thì tôi mến anh Miên hơn, tội nghiệp anh Lực hơn, bởi bất kỳ khó khăn gì ở ngoài “hiện trường” lao động, anh Miên đều hoàn tất mau chóng và luôn sánh vai cùng anh em không nề hà khó nhọc nhờ vậy mà chúng tôi đã đi qua được nhiều năm lao động khổ sai vượt quá sức người ở ngoài Bắc.

Thời gian đó anh Lạt là Tổ Trưởng tổ Đất vừa được may mắn cho qua đội văn nghệ và anh đề cử tôi thay thế anh.

Lúc đầu tôi từ chối lời đề nghị của anh Lạt vì không muốn mang thêm trách nhiệm vác ngà voi làm gì nhưng anh cương quyết nói là trong đội ít ai hơn tôi trong cách ứng xử và nên giúp anh em vì tổ Đất giống như là linh hồn của đội; cả đội là 36 người thì tổ Máy chỉ có 6 còn tất cả 30 người đều nằm trong tổ Đất. Cuối cùng tôi đành nhượng bộ.

Phải nói là nhờ Trời nên đội lúc đó lại có một tay quản giáo dễ chịu như anh chàng Tâm này vì anh ta luôn ăn nói từ tốn và tôn trọng chúng tôi, chứ nếu gập phải một quản giáo khác mà dùng những lời lẽ nặng nề trong lúc chúng tôi hàng ngày đánh vật vất vả với đống đất sét đã muốn khùng rồi thì chắc nhiều người trong chúng tôi có thể đã tiêu diêu từ lâu vì những va chạm giữa tù và quản giáo như đã xẩy ra ở những đội khác.

Mặt khác cũng nhờ thái độ đứng đắn của anh em chúng tôi nên ngay cả tay tự giác lớn tuổi của đội cũng có cảm tình nói chung với đội.

Mỗi khi có gia đình đến thăm thì anh em chúng tôi có truyền thống là chiêu đãi toàn đội trà thuốc bánh kẹo tùy hỉ và chúng tôi đều mời anh tự giác này tham dự cho vui vẻ cả làng nên cũng tránh được những va chạm không cần thiết giữa các anh em và tự giác.

Tôi cũng có một kỷ niệm nho nhỏ với anh tự giác này khi mà nguồn tiếp tế dầu hôi từ ngoài bị chặn bắt gần hết qua ngả cổng trại thì anh em trong đội bảo là cần có người mạo hiểm đột nhập vào buồng ngủ của anh tự giác và cũng là nhà kho chứa đồ của đội đang có một phuy dầu dành để chạy máy.

Nhiệm vụ này bàn tới bàn lui thấy ai cũng “nhường” nhau nên tôi cầm lấy cái lon Guigoz và bảo mấy bạn thân ở ngoài canh chừng dùm.

Sáng hôm đó tay quản giáo vào họp trong trại và tay tự giác người Nghệ Tĩnh này vừa bước ra vườn rau phía sau, tôi bước nhanh vào phòng và múc đầy lon xong vẫy bên ngoài đưa thêm hai lon nữa.

Khi vừa múc đầy lon thứ ba thì tay tự giác quên cái gì và y vội quay vào nhà kho và anh em bên ngoài không kịp ra dấu cho tôi nên tôi bị anh ta bắt quả tang. Không hiểu sao lúc đó tôi rất là bình tĩnh và nói thật là tôi cần ít dầu để nấu ăn và cũng không hiểu sao anh ta không nói gì và lấy cái xới đất rồi trở ra vườn rau.

Ít hôm sau tôi phải nhờ một anh làm cho tôi một cái bếp dầu hôi và đem ra đội cho anh ta để có dịp thì gửi về quê Nghệ Tĩnh của anh làm quà.

So với tính tình nhẫn nhục của anh Miên thì Anh Lực lại bộc trực và thẳng thắn của người miền Nam chính hiệu, cho nên có một hôm anh nổi nóng ngay khi đang lao động- có thể vì trời quá nóng như nung người mà cứ đứng đạp các cục đất sét cứng còng giờ này qua giờ kia – nên anh vứt cuốc vứt cái mai qua một bên để phản đối.

Mọi người tự dưng đều ngưng làm việc khi nghe anh Lực la hét và chờ xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Tay tự giác phụ trách về kỹ thuật cho đội cũng bước cùng với quản giáo Tâm về phía anh Lực trong khi tay quản giáo cho gọi tôi lại để cùng phân xử thì du tôi vào một tình thế rất là khó khăn và tế nhị.

Lúc đó anh Lực vẫn còn đang nhìn quản giáo mà vẫn còn la hét:

-”Ông muốn làm gì thì làm, tôi hết chịu nổi rồi”.

Tôi từ từ rời bỏ cái đống đất sét nghiệp chướng kia và bước lại cạnh anh Lực, nếu tôi bênh anh thì chắc chắn là anh và có thể cả tôi sẽ vào kỷ luật , nếu tôi để cho quản giáo và tự giác phân xử thì anh Lực cũng khó thoát kỷ luật.

Cái khó chịu nhất của bị đi kỷ luật đầu tiên hết là phải đứng trước hàng quân một bên là tù chính trị và một bên là các đội hình sự để nghe trực trại hay cán bộ “giáo dục” họ sỉ vả và “xử” mình.

Tôi nắm nhẹ cánh tay anh và nói nhỏ là anh nên vào trong bóng mát để nghỉ ngơi để tôi nói chuyện với quản giáo. Anh hơi ngần ngừ một chút rồi nghe lời tôi có lẽ cũng vì là tình hàng xóm láng giềng nằm cạnh nhau.

Đến cạnh quản giáo và tay tự giác hình sự tôi bình tĩnh giải thích rằng có thể anh bị khó khăn về mặt tâm lý vì lo lắng cho gia đình nên tinh thần bị căng thẳng, để anh nghỉ ngơi một lát thì hy vọng anh sẽ bình tĩnh lại.

Quả thật khoảng một giờ sau thì thấy anh đứng đậy từ từ bước về phía chúng tôi, nhập vào tổ và lao động lại như thường. Tôi thở ra nhẹ nhõm.

Những sự việc như vậy không hiểu sao đã từ từ biến mất dần đi một cách lạ lùng từ lúc chúng tôi được gia đình gửi quà tiếp tế và vào thăm nom trong trại thường xuyên hơn.

Có thể vì anh em nhận được tin tức gia đình đều đặn hơn và sự căng thẳng cũng bớt dần đi và chúng tôi có thêm phương tiện để giúp cho mình quên đi hoàn cảnh hiện tại và cố mà vui sống.

Hai phương tiện đã giúp cho chúng tôi thêm thư giãn nhiều nhất chính là trà lá và văn nghệ.

Ngoài các bưu kiện tiếp tế ra thì qua ngả thăm nuôi chúng tôi bắt đầu có được ít tiền nhờ đó mà có thể mua trà uống giải khát, mua thêm dầu hôi cho lò dầu, gạo và trứng gà khi gia đình chưa vào thăm kịp thời, nên trong trại bên tù chính trị tự dưng hình thành những “quán trà lá”.

Mặt khác, nhiều nhạc cụ cũng đồng thời được đưa vào trong trại như đàn ghi ta, violon, accordion nữa và các buổi văn nghệ trong buồng giam mỗi đêm thứ Bẩy đã có cơ hội thành hình.

Lúc đó tôi mới thấy tại sao trong truyện “Người Tù Khổ Sai Papillon” một thời nổi tiếng và có phim do Steve McQueen đóng và chiếu tại Sàigòn trước kia lại đề cập đến sự tối cần thiết phải bằng mọi cách đem tiền vào trong trại giam.

Về văn nghệ, trong chúng tôi có nhiều anh em là những nhạc sỹ và ca sĩ tài tử có nhiều tài năng cho nên các buổi văn nghệ dù là bỏ túi trong buồng bao giờ cũng là những sự kiện lớn và dù có tổ chức hàng tuần nhưng vẫn luôn hấp dẫn.

Nhóm mà nổi đình đám nhất vẫn là do Cậu Ba Qui tổ chức với đôi lúc Cậu Ba kéo assordion hay đàn ghi ta phụ theo, anh Quí Lùn là tay ghi ta chính và Thanh Hốt Ổ cũng cầm một cây nữa hòa theo anh Quí hay đi Bass, cò Lạt Thiếu tá Cảnh Sát Đặc Biệt là cây ghi ta chủ lực thứ nhì sau anh Quí và đôi lúc cò Ngưu cũng nhảy vô đờn và hát nghêu ngao nếu hôm nào thiếu.

Ca sĩ thì rất nhiều và đa dạng như cò Hoan “Ngố” luôn mở màn với bản Paso “Dừng Bước Giang Hồ” , Dũng Thiếu Tá ANQĐ với “Mộng dưới Hoa”, “Quách Tĩnh”, “Cả Đẫn” rất được hoan nghênh với các bài như ‘Mầu Tím Hoa Sim”, “Cười Lên Đi Em Ơi”.

Tôi thường tham gia hát bè cùng Bửu Uy -là một nghệ sĩ rất dễ thương và người hát không bao giờ biết mỏi mệt – các bài song ca như “Thiên Thai”, “Suối Mơ”, nhưng nhiều nhất vẫn là các bài nhạc Pháp và Mỹ “Main dans la Main”, “A summer Place”, “Besame Mucho”, “A time for us”…

Mỗi tối thứ Bẩy, khi nghe tin có văn nghệ là tự động trong buồng các anh em đóng góp nào trà, thuốc lá, bánh kẹo hay lo phụ trách nấu nước trà cà phê cho ban nhạc rất là vui. Nhờ có lò nấu bằng dầu hôi làm từ các vỏ đồ hộp mà hầu như buồng nào cũng có bếp dầu này rất tiện lợi.

Khi ban nhạc bắt đầu vào chương trình thì hầu như trong buồng im ắng hẳn đi, nhiều anh chui vô mùng nằm trong chăn ấm, hay hai ba người chụm lại một góc uống trà hút thuốc để thưởng thức các bài nhạc ngày xưa hay cho hồn mình cùng bay bổng với bài hát để nhớ về Sàigòn những ngày tháng cũ đầy kỷ niệm và mộng mơ.

Có những bài khi hát lên đã làm cho con tim người tù xa nhà nơi xứ Bắc thật xúc động như “Chiều trên Phá Tam Giang, anh chợt nhớ em, nhớ ôi là nhớ ôi là nhớ đến bất tận em ơi! em ơi! em ơi!…”.

Có lần Bửu Uy, người hay hát “duo” với tôi, đã không ngăn được cảm xúc và phải ngưng lại bất ngờ trong khi đang hát bài “Món Quà Cho Quê Hương” của Việt Dũng; hoặc mỗi khi hát bài “Trộm Nhìn Nhau xem dung nhan đó bây giờ ra sao, em có còn đôi má đào như ngày nào…”, thì tôi thấy bác Tư ngồi ở từng dưới lần nào bác cũng lấy cặp kiếng ra và chấm hai giọt nước mắt, chắc bác đang nhớ đến người vợ hiền ở nhà quá xa xôi bây giờ không biết ra sao.

Chương trình hình như càng về khuya thì càng hấp dẫn hơn, văn nghệ thì luôn luôn tổ chức ở từng trên cho kín đáo nhưng nhiều lần các cán binh cũng bỏ luôn ca tuần tra canh gác của họ mà ngồi bên cạnh cửa sổ để cùng nghe chương trình này. Các anh từng dưới lại đưa cho họ điếu thuốc hay chung trà và họ đều thành thực nói rằng nhạc của các anh trong Nam hay quá.

Có lần tôi đang ngồi quay lưng lại cửa sổ từng trên thì thình lình một cái nón cối leo lên ló đầu ngoài khung cửa, hóa ra anh ta yêu cầu hát bài “Nha Trang Ngày Về”, báo hại tưởng chuyện gì.

Đêm xuống mau và thường mùa Đông thì khí lạnh bên ngoài từ từ thấm dần vào trong buồng. Để xem anh em có còn thức hay còn thích nghe văn nghệ nữa không, tôi giả bộ nói với ban nhạc:

-”Thôi cũng khuya rồi chắc mình ò e con ma đánh đu nhe!”

Thì nghe ngay nhiều câu phản đối:

-”Chơi nữa đi, cần thì tôi nấu thêm trà cho”

-”Ngày mai nghỉ mà, tới luôn đi bác tài.”

Trong buồng có anh chàng Tiến mà anh em vẫn gọi là “Tiến mù” có lẽ tại cận thị nặng quá hay “chành Tiến” vì anh ta thường đứng trung gian liên lạc được với mấy tay cán binh hay tự giác để mua dùm đồ ăn thức uống cho anh em. Có hôm Tiến đi ngang qua bên dưới chỗ văn nghệ đang chơi và nhìn lên tôi và Bửu Uy rồi nói:

-”Hai cha này đeo kiếng nhưng sao hát hay quá mà tôi cũng đeo kiếng mà sao hát hổng được.”

Thì nghe có tiếng người nói:

-”Tại mày là “Tiến mù” mà là “chành” nữa thì hát với hò gì”.

Vậy là anh em còn thức cả. Cũng vui qua được một vài trống canh.

Viết về thăm nuôi, về các buổi văn nghệ mà không đề cập đến sinh hoạt trà lá là một sự thiếu sót bởi nó và văn nghệ chính là những yếu tố đã làm thay đổi hẳn cuộc sống trong trại giam.

Trà lá là hai chữ được ghép lại bởi uống trà và hút thuốc lá hay thuốc lào, có lẽ xuất phát đầu tiên từ bên phía tù hình sự và tụi tôi dùng luôn cho tiện việc sổ sách.

Các quán trà lá này và những buổi văn nghệ cuối tuần cứ tuần tự bung ra nhiều nhất là trong những năm tôi ở trại Ba Sao Nam Hà ngoài Bắc và chỉ nhạt dần đi khi các “ông bầu sô” và các ca nhạc sĩ được lần lượt ra về vào cuối năm một chín tám bẩy cho tới ngày chúng tôi chuyển vào trong Nam .

Những người mà nổi tiếng nhất về chiêu đãi anh em về trà lá phải kể đến ông bầu Ngọc Thiếu Tá ANQĐ, Sơn cao kều Đại Úy KQ, Y-Trong Quận Trưởng, anh Xuân võ sư, chú Wòng người Tầu, không biết phạm tội gì mà cũng bị đưa tuốt ra Bắc.

Vào những buổi chiều khi đi lao động về hay ngày Chủ Nhật thì các anh bầy “quán hàng” ra, nấu nước pha trà “móc câu” ngon rồi ủ nó lại bên cạnh mấy cái chung và anh em nào nghiện trà đều có thể ghé qua ngồi nhâm nhi và tán dóc hay trao đổi những tin tức thời sự mới nhất trong ngày.

Tôi cũng là một trong những người thường xuyên ghé lại các “quán trà” ấy bởi vì lúc đầu thì uống trà thấy nó có vẻ hơi chan chát thế nào nhưng dần dà nghiện nó lúc nào không biết, và nghiện ngay cả cái khung cảnh thật là đơn sơ và thân tình của cái ghế gỗ thấp lè tè bên cạnh cái bàn gỗ mộc cũng thấp chủm và ấm trà nóng với nụ cười của các chủ “quán”.

Gọi là “quán trà” nhưng nhiều khi các anh cũng nấu những món rất là hấp dẫn như hủ tíu, mì gói ăn liền. Tôi mê nhất là món cá Nục kho hấp mía của Y-Trong, các con cá Nục làm sạch xong xếp ngay ngắn trên các khúc mía chẻ hai rồi cho nước mắm vào hầm cho đến khi khô queo lại ăn với cơm thì tuyệt cú mèo. Vì vậy khi tôi có mì bún và gia vị nhà gửi vào thì đưa cho mấy tay “chủ quán”này nấu rồi ngồi cạnh cái bàn thấp chủm đó cùng ăn với nhau rất là vui.

Những khoảnh khắc ngồi giữa sân trước buồng giam nhìn lên trời trên cao lúc mây xám bay ngang qua đầu với núi biếc non xanh mờ nhạt chung quanh nhất là những chiều cuối Thu se lạnh sang Đông, và nhâm nhi chung trà hay ly cà phê, hút điếu thuốc lá hoặc rít điếu thuốc lào ba số tám thì cảm thấy thật là sảng khoái và nếu quên đi thân phận tù đầy thì chẳng khác gì như người đang tu khổ hạnh trên đỉnh non cao vậy.

Tôi thường ghé lại hầu hết các “quán” này ngoài sân hay ngay tại chỗ nằm của các bạn cùng chung một sở thích là uống trà.

Có khi thấy tôi vừa ghé lại thì Y-Trong hay anh Xuân xúc ngay ấm để pha trà mới và rót cho tôi thưởng thức một loại trà ngon mà các anh vừa mua được. Trà ngon thường là pha đậm nên khi uống thì có vị hơi ngọt qua cổ họng nhưng phải uống quen vì có lần bụng trống tôi uống mấy chung xong thì lần đầu tiên trong đời biết thế nào là say trà.

Say rượu thì đã khó mà chịu được rồi nhưng có lẽ say trà mới làm cho con người mình trong tình trạng say vào trong bao tử còn khó chịu hơn nhiều lần nữa.

Không hiểu sao cái thú trà lá này chỉ phát triển mạnh tại Ba Sao Nam Hà nhưng cho đến khi di chuyển vào Hàm Tân trong miền Nam thì tự dưng nó biến mất, có phải chăng là đa số các chủ quán trà đều đã được thả ra về? Hay vì miền Nam nắng ấm và các thức uống trong Nam dồi dào hơn nên chuyển qua cà phê đá và đôi lúc là bia? Dầu sao cũng mất đi một cái thú rất là tao nhã.

Phải nói rằng hầu như tất cả các loại trà ngon ngoài Bắc tôi đều được thưởng thức qua hết từ những trà móc câu nguyên chất đến các loại ướp hoa Nhài, hoa Cúc, nhưng có lẽ chỉ khi vào đến trong Nam tôi mới tình cờ có cơ hội được uống một loại trà ướp Sen mà khó có loại trà nào sánh bằng bởi vì nó được ướp thực sự trong những búp Sen chứ không phải là hương thơm của hóa chất giống mùi hoa Sen trộn vào. Bởi vậy, tôi chẳng thể nào quên được.

Khi đó tôi đã ở trong trại Hàm Tân tỉnh Thuận Hải cũng được hai năm rồi và thành phần chủ yếu đi vào trại thăm tôi là mấy cô em gái và cậu em rể cùng hai đứa con nay đã lớn thay phiên nhau mà đi.

Cậu em rể tôi là Dũng Anh – để phân biệt với cậu em rể nữa là Dũng Em đã đi vượt biên từ hơn hai mươi năm nay rồi – Dũng Anh đang làm cho một nhà hàng ở Sàigòn và có tài nấu nướng rất là tài giỏi và biến báo cho nên khi nào có em tôi hay con tôi đi thì cậu em rể này đều đi theo và ở lại để phụ trách vấn đề ẩm thực. Nhờ vậy thời gian ấy tôi cũng được ăn nhiều món ngon không ngờ và nóng hổi ngay trong tù, trong căn nhà tranh bên dòng suối.

Những hôm được ở lại thì em gái tôi hay chạy sang mời các anh chị ở những căn nhà tranh bên cạnh qua cùng ăn cho vui các món ăn ngon và lạ mà cậu em rể vừa nấu xong và tình thân của những gia đình đồng cảnh ngộ lại càng thắt chặt hơn.

Có thể cái nghiệp chướng tù đầy này sắp hết chăng nên những niềm vui đang đến trở lại?

Một hôm, buổi trưa đang nằm nghỉ trong lán tại đội 20 thì tiếng xe đạp lóc cóc của anh Lộc đến đội, mọi người đều ngồi dậy vì mỗi khi anh Lộc hay có khi anh Trí chạy ra đội là có thân nhân đến và trong danh sách hôm đó ra thăm nuôi có tên tôi.

Lúc ra đến nơi thì ôi thôi cả một phái đoàn y như ngày xưa các bà đi thăm và ủy lạo các thương bệnh binh chúng ta trong Tổng Y Viện Cộng Hòa vậy. Đông mà vui như Tết và như thể ai cũng giành nói và chẳng có người nghe. Hướng dẫn phái đoàn là chị Lãm và khoảng một chục chị nữa đi thăm chồng và các bạn của chồng và các giỏ thùng quà thì chất hết cả một góc phòng chưa kể các túi xách tay đựng thức ăn tươi mà các chị luôn để bên cạnh mình.

Phái đoàn được thăm nuôi cũng đông không kém đến hai chục anh em cùng đi ra một lúc trong đó có đủ cả bốn ông Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di, Lê Văn Thân và Đỗ Kế Giai nữa.

Tôi nhận gói quà Mẹ và các em gửi cho thì quay qua cám ơn chị Lãm và hỏi thăm các chị xong rồi tìm một góc trong phòng ngồi chờ vào trại trong khi các bạn tôi thì tíu tít với gia đình vợ con và đang chuẩn bị chuyển đồ đạc ra khu nhà tranh để ở lại cùng vợ con.

-”Anh không có thân nhân đến thăm sao?”

Tôi giật mình vì thấy đứng ngay trước mình là một người con gái dáng lịch sự và giọng nói rất là dịu dàng.

-”Xin lỗi cô! Tôi tưởng cô hỏi ai chứ. Hôm nay tôi ra nhận quà gia đình thôi.”

Thế rồi nàng xin phép ngồi xuống bên cạnh tôi và khi biết hoàn cảnh của tôi thì nàng chợt bối rối và có vẻ xúc động, nhưng trấn tỉnh lại:

-”Xin lỗi anh! Phượng hơi tò mò làm cho anh buồn. Hôm nay Phượng theo phái đoàn của chị Lãm lên đây cũng là vì nghe nói nhiều về các anh nên muốn gập xem các anh là ai mà sao ở tù lâu thế vẫn còn trong đây chưa được thả. Bên ngoài họ cứ nói đùa là tại các anh không thuộc bài.”

Tôi bắt đầu có cảm tình với nàng bởi nàng dùng chữ “ở tù” chứ không dùng từ “cải tạo” như nhiều người khác.

Bấy giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ Phượng. Nàng chạc ngoài ba mươi, khuôn mặt đẹp một cách thông minh, tóc xõa hai bên vai trên cái áo sơ mi xanh nhạt và cái quần jeans cũng mầu xanh và đôi guốc mộc.

Nàng cũng nhìn tôi đăm đăm và tôi bắt gập cái nhìn ấy rồi vội quay đi.

Sau này nàng thổ lộ rằng nàng thấy tôi trông rất quen như có gập ở đâu rồi và không hiểu sao nàng bị cuốn hút có lẽ bởi sự trầm tĩnh cam chịu số phận của tôi? Hay như nàng tâm sự sau này vì nàng chưa thấy ai phái nam mà có hàng lông mi cong đẹp như vậy?

Nói chuyện chưa bao lâu thì tay cán bộ thăm nuôi hối các gia đình ở lại qua bên khu nhà tranh và ai vào trại thì ra căng tin chờ.

Nàng hỏi tôi họ tên và ở đội nào, tôi cũng trả lời cho có vì hiểu rằng thân mình tù tội biết ngày nào ra khỏi chốn này và nghĩ rằng chẳng bao giờ gập lại nàng lần thứ hai.

-”Anh ráng giữ gìn sức khỏe nhe!”

-”Cám ơn Phượng! Cầu Trời Phật phù hộ cho những người có một tấm lòng như cô.”

Ngày hôm sau ra lán lao động cuốc đất mà tôi cứ nghĩ đi đâu đâu trong khi tụi bạn thì tha hồ châm chọc. Nibubư thì cười cười:

-”Tay Đại này khờ quá! người đẹp đã đến làm quen mình mà không dám nói năng gì cả. bây giờ nàng đi mất rồi mới tiếc?”. Tôi trả lời:

-”Thì mình có nói với cô ấy rằng có Duyên sẽ có ngày gập lại mà”.

Nibubư là biệt hiệu anh em đặt cho cò Niệm bởi lẽ từ ngày có thăm nuôi ở ngoài Bắc vào đến trong Nam thì anh ta có vẻ phát triển theo bề ngang thành Niệm bụng bự.

Tôi có nhiều bạn thân trong thời gian cuối này và nhiều anh cũng chết luôn với cái biệt danh giống như Hoan “Ngố”.

Có lúc cu cậu cũng tức tối muốn tìm xem tên nào cả gan đặt tên cho anh ta như vậy mà còn kêu biệt danh đó công khai trước mặt vợ anh ta ngoài khu thăm nuôi nữa chứ, làm mất mặt bầu cua quá.

Thực tâm mà nói sau này tôi cũng rất thân với Hoan nhưng cũng phải công nhận là anh ta…Ngố thật.

Có lần anh ta nói làm tôi phục sát đất vì không biết tại sao anh ta kiến thức còn hơn tôi xa:

-”Ông biết thuốc lá Kent không? Biết ai là nhà sản xuất nó không?”

Tôi đang bối rối chưa biết trả lời sao thì anh ta mau mắn:

-”Đô Đốc Mc Cain đó!”

-”Sao ở trong tù mà ông hay quá vậy?” Tôi nói với sự cảm phục bạn mình vì trong đó tụi tôi cũng rất thích các loại thuốc lá nhẹ như Kent, Salem.

-”Thì ông không thấy Kent và Cain nó vần âm giông giống nhau sao?”

Chả trách tay nào đặt cho biệt danh Ngố như vậy cũng đúng nhưng từ đó về sau tôi phải rất cẩn thận mỗi khi anh ta đố câu gì.

Cũng như anh Tấn của Phủ Đặc Ủy khi thăm nuôi vào ôm kè kè quả bầu và từ đó chết tên luôn là “Tấn Bầu”. Nhưng Tấn Bầu còn có một biệt tài là kể chuyện, lúc đầu tôi rất ư là say mê nghe anh ta kể chuyện vì thấy anh sống nhiều và hiểu đời cũng nhiều nhưng dần dần thì không còn kiên nhẫn bởi lẽ mỗi khi anh muốn nói về đề tài gì thì vòng vo Tam Quốc hết chuyện này qua chuyện khác cả nửa tiếng đồng hồ cũng chưa…vào phim chính.

Cho nên sau này mỗi khi Tấn Bầu kể chuyện là anh em biết tính nên thường chặn ngang:

-”Này! Ông vào phim đi chứ loanh quanh cuối thế kỷ hai mươi rồi đến thế kỷ hai mốt cũng vẫn còn quảng cáo?”

Các bạn thân của tôi nhiều khi như vậy đấy nhưng chúng tôi sau này không nói ra mà thương nhau còn hơn anh em trong gia đình.

Chính vì vậy mà họ hết sức ủng hộ tôi khi nghe tôi kể lại câu chuyện của một người con gái Sàigòn tên Phượng bất ngờ gập nhau ngoài khu thăm nuôi.
Thế rồi thời gian vẫn lặng lẽ trôi và tôi cũng quên đi buổi tao ngộ ấy cho đến khoảng một tháng sau thì có một phái đoàn các bà vợ lên thăm nữa và lần này anh Trí chạy ra đội đưa danh sách và nháy mắt với tôi. Lúc đó tôi chẳng hiểu anh muốn nhắn tôi cái gì cho đến khi tôi và khoảng mười mấy anh nữa đi ra.
Phượng đang ngồi cùng với các chị nói chuyện với nhau coi bộ rất thân thiết trong phòng thăm gập gia đình.

Nàng cho tôi biết rằng đã xin phép địa phương nên hôm nay là thăm tôi là chính thức chứ không phải đi theo các chị như lần trước.

Tôi  cám ơn nàng nhưng Phượng gạt đi và nói là nàng rất vui gập lại tôi và hỏi thăm tôi có khỏe không. Tôi thấy nàng trông “mi-nhon” hơn trong cái váy đầm mầu hồng nhạt nhưng dáng có vẻ không tươi như lần trước thì được biết là nàng hay mất ngủ kể từ hôm lên đây kỳ rồi.

Tôi đưa Phượng ra căng tin và chọn một cái bàn bằng gỗ mộc đặt ở ngoài trời cho mát, phần của căng tin xây nhô ra bên trên dòng suối với một cái lan can gỗ đơn sơ bao quanh trông cũng rất là nên thơ.

Vừa ngồi xuống ghế thì Phượng nói là trong giỏ quà có một món rất đặc biệt mà hy vọng là tôi thích là lạng trà búp ướp Sen.

Nhờ nàng quen với một gia đình ở Ngã Ba Ông Tạ có hồ Sen và chính tay họ đã tự ướp lấy nên trà này là trà Sen thực, lâu lắm mới có dịp mua được.

Tôi không ngờ hôm trước cũng tại nơi đây, tôi ngồi uống với nàng ly trà nóng và nói trà không ngon mà nàng nhớ và mua cho tôi thứ quà giá trị này hôm nay.

Nhìn xuống dòng suối bên dưới chân mình đang chẩy róc rách qua những phiến đá mầu ngà, từng phiến, từng phiến một con suối cứ chẩy mãi qua những phiến đá. Trên đầu là bầu trời xanh xanh không gợn áng mây, bên kia bờ suối  là khu rừng lá Buông thật tĩnh mịch khi chiều đang xuống dần, ráng chiều đang hắt những tia nắng yếu ớt xiên xiên lấp lánh từ bên kia qua các cành cây Buông rọi sang phía bên này trong tiếng gió rì rào thổi lướt qua cái bàn gỗ như thì thầm muốn nói điều gì đó với hai người vừa mới quen nhau.

Một con cá chợt quẫy đuôi nhẩy lên khỏi mặt nước như chào mừng hai đứa tôi rồi lặn sâu xuống dòng suối mát, trở về cái không gian mênh mông của nó để xuôi nguồn.

Tôi ước gì giá mình không còn thân phận tù đầy.

-”Anh đang nghĩ gì vậy?”

-”Không có gì! cám ơn em trà Sen nhé, anh rất thích. Anh chỉ nghĩ giá như…” Nàng khoát tay như không muốn tôi nói nữa:

-”Em đang đến thăm anh đây, anh đừng có buồn nữa nhe. Anh còn buồn thì…em không ngủ được”. Phượng ngừng một chút rồi nói:

-”Tôi nghiệp anh quá. Anh đâu có làm Tướng Tá gì đâu mà sao họ giam anh lâu quá vậy?”

-”Sao em lại mất ngủ? Xin lỗi em, anh vô ý quá.”

Tôi trong lúc xúc động đã nắm lấy tay nàng, những ngón tay búp măng ấy cũng siết lấy bàn tay tôi. Hai bàn tay đều hơi lạnh vì ngồi trên bờ suối đã lâu như đang muốn tìm hơi ấm cho nhau:

-”Anh mà cứ buồn mãi thì…em không đến thăm anh nữa đâu!”

Tôi nhìn vào khuôn mặt thông minh nhưng hơi bướng bỉnh ấy:

-”Em à! Cho phép anh nói điều này nhe. Thực sự ra, anh không biết anh còn ở tù đến bao giờ. Bạn bè anh còn lại ở đây chẳng bao nhiêu nhưng tụi anh cũng được gia đình lo cho đầy đủ cả, anh không muốn em tốn kém vì anh.”

Rồi tôi ngập ngừng:

-”Nếu…nếu mà em có lòng tốt lên thăm anh thì đi tay không thôi, mình ra đây ăn trưa cũng được anh có tiền mà, anh rất cám ơn nhưng đừng mua gì hết.”

Văng vẳng đâu đây tiếng người nói lao xao, có thể các đội lao động giờ đang đổ dồn về phía cuối dòng suối này cho các tù nhân tắm giặt trước khi vào trại.

Đã đến giờ chia tay, nàng đứng dậy với một thoáng buồn lướt nhanh trên khuôn mặt, tôi đi theo vào căng tin. Mấy cặp mắt của những tù nữ phục vụ phía sau quầy đang ngó ra nhìn tôi và nhìn Phượng, có lẽ bộ áo đầm thanh nhã của nàng?

Bất ngờ nàng khoác tay tôi và nhìn tôi với ánh mắt hãnh diện rồi liếc về phía mấy cô phục vụ sau quầy mỉm cười chào họ.

-”Anh không có quen các cô đó!”

-”Em có nói gì đâu?”

Kể ra phụ nữ họ tinh thật, tôi thì ngốc ngếch chả hiểu gì tâm lý phụ nữ vì thế sau này nghĩ lại mới thấy Phượng thật khôn, nàng muốn ra dấu cho các cô tù nữ rằng tôi là của nàng đấy, đừng có léng phéng.

-”Anh chỉ được đưa tiễn em tới mấy bực thềm này thôi. Anh không ra ngoài khu căng tin đến tận xe đò để tiễn em được. Em đừng buồn nhé!”

Nàng vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trước trán nhìn tôi:

-”Không sao anh. Em hứa là sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết khi nào, anh đừng có mong nhe, tôi nghiệp anh.”

Tôi nhìn theo dáng nàng. chiếc áo đầm hồng nhạt từ từ xa dần và nhỏ dần. Các thân nhân không ở lại cũng đã lên hết trên xe rồi, và Phượng là người cuối cùng bước lên xe đò để xuôi về Sàigòn.

Căng tin chỉ còn lại một mình tôi đứng đó trên mấy bực thềm, các gia đình được ở lại thì đều đã nhờ anh Lộc hay anh Trí kiếm cho một xe cải tiến để chở đồ đạc qua khu nhà tranh chuẩn bị cho bữa cơm chiều đoàn tụ. Mừng cho các bạn mình được ở lại, một chút đầm ấm với gia đình.

-”Thôi mình vào trại đi anh Đại”.

Tiếng của tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi như đưa tôi trở về thực tế. Anh ta đến bên tôi lúc nào tôi không hay.

Ừ thì vào trại, con đường này tôi đã đi qua lại nhiều lần nhưng sao lần này thấy nó có vẻ dài lê thê và vắng lặng như vậy? Hay là tâm trí tôi đang bay theo chuyến xe đò xuôi về Sàigòn?

Dẫu sao thì lòng tôi ngày hôm nay cũng đang được sưởi ấm rất nhiều vì trong giỏ quà nhỏ bé tôi đang xách trên tay, mùi hương của hoa Sen đang tỏa ra thơm ngát với lời nói của nàng như còn đâu đây:

-”Em hứa là sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết khi nào”.

 (Còn tiếp)
Advertisements
This entry was posted in Hồi ký từ địa ngục. Bookmark the permalink.

One Response to Phạm Gia Đại – Những Người Tù Cuối Cùng (3)

  1. Pingback: TGCD kính mời đọc bài mới 26/27-8-2013 | Chương Trình Phát Thanh VRV Radio

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s