Nhảy Dù VNCH-TQ Lục Chiến Mỹ Phản Công quanh Khe Sanh

                              

 

Mặt trận Khe Sanh, trận chiến giữa tháng 4/1968:
Sau khi đã đánh bật CQ ra khỏi các vị trí trọng điểm quanh Khe Sanh, ngày 15 tháng 4/1968, bộ Tư lệnh Lực lượng 3 Thủy bộ/ Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại VN đã khởi động chiến dịch Scotland 2 nhằm tổng truy kích các đơn vị CSBV ở phía Tây Khe Sanh. Nỗ lực chính của cuộc hành quân này là 3 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3/ Lực lượng 3 Thủy bộ Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đang hoạt động tại vùng giới tuyến. Song song với chiến dịch này, lực lượng bộ chiến VNCH tiếp tục cuộc hành quân Lam Sơn 207 (khai diễn ngày 1 tháng 4/1968) tại khu vực Tây Khe Sanh, với nỗ lực chính là hai tiểu đoàn Nhảy Dù.
Trước khi chiến dịch này khởi động, vào ngày 11 tháng 4/1968, tại Sài Gòn, đại tướng Westmoreland nhận được lệnh bàn giao chức vụ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam để về Hoa Kỳ nhận chức tham mưu trưởng Lục quân. Người thay thế tướng Westmorland là phụ tá của ông: đại tướng Creighton W. Abrams, tư lệnh phó Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Trước ngày bàn giao, tướng Westmoreland đã phân tích cho người kế nhiệm của ông về tình hình Khe Sanh và các kế hoạch tảo thanh CSBV mà ông đang tiến hành. Tướng Westmoreland nhấn mệnh rằng Cộng quân đã thất bại trong mưu toan muốn tạo Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai, tuy nhiên một số đơn vị Cộng quân vẫn còn hoạt động ở phía Tây Khe Sanh, các đại đơn vị và bộ phận chính CSBV đã bắt đầu rút về bên kia đất Lào. Cuộc rút lui của đối phương trùng hợp với kế hoạch riêng của đại tướng Westmoreland là muốn tái lập giao thông với căn cứ Khe Sanh. Trong hai tuần đầu của tháng 4, các đơn vị bộ chiến Việt-Mỹ đã giải tỏa Quốc lộ 9, đoạn từ Cam Lộ đến Khe Sanh, nhưng muốn giữ an ninh cho trục lộ này, phải đánh bật các cụm điểm chốt chận của đối phương ở phía Tây Quốc lộ máu này.

* Hai cuộc hành quân của Liên quân Việt-Mỹ:
Ngày 15 tháng 4/1968, ba tiểu đoàn TQLC thuộc Sư đoàn 3 TQLC/ Lực lượng 3 Thủy bộ Hoa Kỳ đã bung rộng về phía Tây để truy quét CQ. Cũng trong ngày này, quanh các ngọn đồi trọng điểm 861 A, 881 Nam, 881 Bắc, 689, giao tranh đã diễn ra ở cấp đại đội giữa TQLC và CSBV.
Trận chiến bùng nổ dữ dội vào ngày 16 tháng 4/1968 khi một thành phần TQLC Hoa Kỳ bị 1 tiểu đoàn CSBV phục kích tại vị trí cách Khe Sanh 6 km về hướng Tây Nam, hai bên đã giao chiến ác liệt, phía TQLC Hoa Kỳ có 17 tử thương, 36 bị thương. Tổn thất về phía CQ khá nặng, nhưng cấp chỉ huy đơn vị Hoa Kỳ không xác định được con số tử thương và bị thương của đối phương do địch đã chuyển đi sau khi rút lui. Cũng trong ngày này, Cộng quân đã pháo gần 300 đạn đại bác vào các vị trí trọng yếu của căn cứ Khe Sanh.
Ngày 17 tháng 4/1968, lực lượng Nhảy Dù VNCH tung cuộc phản công quyết định tại phía Tây Khe Sanh và Làng Vei, Cà Lu. Với lối đánh tốc chiến, các đơn vị Nhảy Dù VNCH đã mở các đợt xung phong vào cụm tuyến phòng ngự của đối phương. Cộng quân đã sử dụng tất cả các loại súng cộng đồng bắn xối xả để cản cường độ tấn công của Nhảy Dù. Giao tranh diễn ra ở mức độ rất ác liệt, đến chiều, lực lượng Nhảy Dù đã khống chế trận địa, kết thúc cuộc hành quân Lam Sơn 207 với kết quả: phía Cộng quân có 215 CSBV bị tử thương, 4 bị bắt, 26 súng cộng đồng và 67 súng cá nhân bị tịch thu; phía Nhảy Dù VNCH: 48 tử trận, 206 bị thương.
Tình hình chiến sự tại mặt trận tạm lắng dịu được hai ngày, đến 19 tháng 4/1968, Cộng quân lại mở các trận hỏa tập vào căn cứ Khe Sanh và tổ chức phục kích một đoàn quân xa Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trên Quốc lộ 9, cách Cà Lu 7 km về phía Tây Nam. Trực thăng võ trang đã xuất trận kịp thời chận đứng cuộc tấn kích của đối phương, tuy nhiên phía Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cũng bị tổn thất với 4 quân nhân Hoa Kỳ tử thương, 22 bị thương, một số xe bị hư hại.
Ngày 22 tháng 4/1968, đơn vị TQLC phòng ngự đồi 881 đã bị Cộng quân tấn công dữ dội bằng hỏa tiễn và lựu đạn, nhưng vẫn giữ vững được vị trí. Từ 23 đến cuối tháng 4/1968, Cộng quân tiếp tục tấn công bằng pháo và đặc công vào các vị trí ở phía Tây của căn cứ. Cũng cần ghi nhận rằng trong suốt thời gian bao vây căn cứ Khe Sanh, các toán đặc công của Cộng quân thường bò vào hàng rào cắt kẻm gai và đổi hướng các loại mìn định hướng của quân trú phòng gài quanh căn cứ. Sự đổi hướng quay vào phía trong của loại mìn định hướng nếu không kịp phát hiện sẽ gây thương vong cho quân trú phòng khi CQ mở các đợt tấn kích. Thế nhưng, trong thời gian tiểu đoàn 37 BĐQ VNCH phòng thủ vòng đai phi đạo, các chiến sĩ Mũ Nâu đã vô hiệu hóa các hoạt động của đặc công CSBV. Một sĩ quan BĐQ kể lại là dù suốt đêm cả đơn vị phải thức trắng, ngày thì phải lo đối phó với các đợt pháo kích, nhưng hàng ngày từng trung đội đều cho người bò ra hàng rào, kiểm soát lại hệ thống mìn định hướng và hệ thống hàng rào kẻm gai.

* Khe Sanh và cuộc tổng công kích Mậu Thân của Cộng quân
Như đã trình bày trong các số báo trước, kế hoạch tấn công căn cứ Khe Sanh là một phần của cuộc tổng công kích của CSBV trong Tết Mậu Thân. Cộng quân khai hỏa tại mặt trận Khe Sanh trước Tết 10 ngày nhằm đánh lạc hướng phán đoán của liên quân Việt-Mỹ và để thu hút sự chú ý của các tư lịnh chiến trường Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cho rằng Khe Sanh là chiến trường quyết định, các nơi khác là phụ thuộc. Tuy nhiên bộ Tổng Tham Mưu Quân lực VNCH và bộ Tư lịnh của đại tướng Westmoreland đã nhận được những báo cáo đặc biệt là CQ sẽ mở cuộc tổng công kích toàn lãnh thổ VNCH, trong đó CQ muốn “lập” một Điện Biên Phủ tại Khe Sanh. Những thông tin tin báo chiến trường đã được kiểm chứng qua lời khai của một sĩ quan CQ ra đầu hàng tại Khe Sanh.
Theo hồi ký của đại tướng Westmoreland, vào chiều ngày 20/1/1968 (trước Tết 10 ngày), một trung úy Cộng quân tên là Lã Thanh Tòng, đã xuất hiện ở cuối phi đạo sân bay Khe Sanh, tay cầm cờ trắng, xin ra đầu hàng. Giải thích về lý do ra hàng, Tòng cho biết đương sự xứng đáng được thăng cấp và giữ chức vụ cao hơn, nhưng đã bị một sĩ quan Cộng quân khác kém tài hơn tranh đoạt nên đã sinh ra bất mãn. Tòng đã trình bày chi tiết về kế hoạch tấn công Khe Sanh thì ngay đêm 20/1/1968 rạng ngày 21/1/1968, Cộng quân sẽ tấn công hai vị trí phòng thủ của TQLC Hoa Kỳ tại đồi 861 và đồi 881. Lời khai của Tòng đã được chứng minh vì ngay đêm đó Cộng quân đã khởi sự tấn công vào hai vị trí trên.

* Bộ chỉ huy CQ đặt trên đất Lào
Cũng theo lời khai của Tòng, các đơn vị CQ đã được chuẩn bị để thực hiện cuộc tổng tấn công vào dịp tết. Vài ngày sau khi Tòng ra đầu hàng, B 52 đã thả bom xuống một vùng núi đá ong ở Lào. Theo phân tích của cơ quan tình báo chiến trường thuộc bộ tư lịnh của tướng Westmoreland, vùng núi đá nói trên có thể là bộ chỉ huy của một lực lượng lớn Cộng quân đang đồn trú để chỉ huy các đơn vị quanh Khe Sanh và toàn bộ khu Bắc miền Trung. Bộ chỉ huy này rất quan trọng vì theo cung từ của nhiều tù binh bắt được quanh căn cứ Khe Sanh và tại khu phi quân sự ở bờ Nam sông Bến Hải đều khai rằng có một nhân vật rất quan trọng-có thể là Võ Nguyên Giáp-đến thăm mấy lần. Sau vụ bị ném bom này, làn sóng vô tuyến của bộ chỉ huy này bị im tiếng trong vòng hai tuần. Có lẽ vì vậy mà trận tấn công của Cộng quân vào dịp Tết Mậu Thân đã thiếu sự chỉ huy thống nhất. Các sư đoàn tham chiến tự động tiến hành kế hoạch mà không có sự hợp đồng toàn mặt trận.
Suốt thời gian bao vây và tấn công Khe Sanh, CQ đã sử dụng tối đa hỏa lực pháo binh để tiến hành các đợt hỏa tập vào các vị trí trọng yếu như phi đạo, kho đạn, khu vực trung tâm. Tại mỗi mục tiêu pháo, CQ thường pháo kích từ bốn, năm trái một lần. Sau nhiều tuần lễ, binh sĩ TQLC Hoa Kỳ đã học được kinh nghiệm tránh pháo. Cứ mỗi lần nghe tiếng gió của đạn ra khỏi nòng thì khoảng 21 giây sau sẽ nổ. Thời gian này kịp cho các chiến binh trú phòng nhảy xuống hầm để núp. Nếu đạn pháo của địch bắn từ xa đến, thì hễ nghe tiếng gió rít qua đầu thì báo qua máy cho đồng đội ở tuyến gần đó biết.
Theo hồi ký của đại tướng Westmoreland, vị tướng này cũng đã “nếm mùi” pháo kích khi đến Khe Sanh để họp cùng đại tá Lownds, chỉ huy căn cứ. Khi tướng Wesrmoreland đến nơi, CQ bắt đầu pháo kích. Khi ông lên trực thăng ra về và được 1 trực thăng thuộc loại “tàu rượt đuổi địch quân” hộ tống. Đạn súng nhỏ của CQ bắn trúng trực thăng hộ tống này và bị hư hại nhưng vẫn bay được.

Trận chiến tại Khe Sanh tạm lắng dịu vào cuối tháng 4, nhưng sau đó lại bùng nổ với những trận hỏa tập của CQ vào thượng tuần tháng 5/1968. (Biên soạn theo tài liệu của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, bản tin chiến sự hàng ngày của Tổng cục Chiến tranh Chính trị QL/VNCH phổ biến cho báo chí, hồi ký của đại tướng Westmoreland do nhà xuất bản Thế Giới phát hành, một số bài viết trong KBC…)

vietbao.com

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

2 Responses to Nhảy Dù VNCH-TQ Lục Chiến Mỹ Phản Công quanh Khe Sanh

  1. dai vy says:

    Hay wuá, lính dù và BĐQ đánh giặc hay thật là hay.

  2. le lien says:

    Ngẩm nghỉ, cuộc đời lính tráng của tôi thật may mắn.
    Từ cuối 1971 đến ngày 3o/4/75, tôi thuộc tiểu đoàn 2 / 41 / SĐ 22 bộ binh hành quân thường dồn dập, các trận to nhỏ đủ cả từ Bình Định lên Pleiku, vào Đức Cơ, trở về Bình Định, lên Bồng Sơn, Dệ Đức, Đèo Nhong Phù Củ . Trung đoàn 41 bị vây tại căn cứ Trà Quang Phù Mỹ, lại trở ra Bồng Sơn Tam Quang, đèo Bình Đê. Tại đèo Bình Đê tôi bị thương nhẹ, rời đơn vị 45 ngày rồi trở ra hành quân tiếp theo đơn vị cho tới ngày 30/4 quốc hận.
    Ngày nay tôi vẫn nguyên vẹn. THẬT MAY MẮN.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s