Nguyễn Thanh Khiết – Câu chuyện cuối năm

Thương phế binh VNCH với vết hoại tử.

N.V.Tiếp, TĐ 2 “trâu điên” của TQLC đã leo lên xe đò về Thủ Đức từ chiều hôm qua, anh gọi tôi bằng máy của Thế Minh và hẹn sáng mai, ngày 23 sẽ cùng nhau đưa ông Táo tại An Điền. Nhận tin làm tôi xót xa, anh mà đi từ Vũng Tàu về đến đó thì làm sao chịu nỗi với đám ruột già đã được thay bằng cao su sau ca phẩu thuật từ năm 1971 để cứu cái mạng, sau khi lãnh mấy mảnh phá của sơn pháo tại Hạ Lào trong cuộc hành quân Lam sơn 719. Trời ! ông tướng lại đòi đèo Minh (cụt) vác hai cái nạng gỗ cặp theo bên hông xe, chạy 50 cây số tới Rạch Bắp. Biết sao hơn, chúng tôi chẳng còn phương tiện nào khác để di chuyển tới An Điền, ngoài mấy chiếc xe cà tàng.

Không thể “lui binh hành” thì đành chịu chết, phải đánh tới bến vào cái mục tiêu mà mấy năm nay tôi, năm nào cũng phải dọn dường cho kịp lúc, cho kịp Cây Mùa Xuân sắp trổ bông trong cái chờ đợi suốt một năm của những người anh em từng một thời áo lính của tôi đang chống lưng vào tật nguyền, còn rơi rớt lại ở An Điền, Bến Cát, ở Rạch Bắp, An Lộc, ở tận cùng trong cái xã hội nhiễu nhương mà tình người bị quên lãng từ sau ngày “tan trận”.

Tôi phóng xe ra khỏi nhà từ 6 giờ sáng. Lựa một con đường và ăn chắc là sẽ không bị kẹt cứng xe cộ vào những ngày giáp Tết mà đi. Né trục lộ chính vào trung tâm SG tôi cắt ngang đường D 2 của khu Văn Thánh, băng qua Bình Triệu. Sài Gòn mờ trong sương sáng, quang gánh hai bên đường đã nhộn nhịp cho những ngày cuối năm, người ta bắt đầu chạy nước rút để mua, để bán. Và tôi chạy nước rút trên đường xa, để bè bạn, anh em mình không phải đợi chờ lâu thêm nữa. Ôi cái ngày 23 tết lu bu, chật vật.

Trong cái nhớ của những người xưa cũ, giữa những đổi thay không làm sao nhận ra được trên đất nước này ngày hôm nay, chúng tôi chọn một địa danh để hẹn nhau – Cầu Đò.

Cây cầu nối từ chợ Bến Cát vào An Điền, cây cầu chưa bị thay tên đổi họ, nối vào nơi mà 40 năm trước có những trận ác chiến nổi danh và làm rớt lại chỗ đó những thương binh loại 3 vĩnh viễn hay đệ tam nhân cấp dưỡng, thương tích trầm trọng, thoát chết mà di chứng làm oằn oại suốt đời.

Hạ sĩ 52 BĐQ, V. P. Dương còn một chân đang gát chéo trên yên xe, đợi tôi ở Cầu Đò cùng với Tiếp (trâu điên) và Minh (cụt). Một cái bắt tay, vồn vã dăm câu, chúng tôi hối hả đi về phía Rạch Bắp, nơi những anh em tôi, những gã mù, điếc, què quặt cũng đang đợi nhau.

Cường là cháu gọi L.V.Nhàn bằng chú, TPB trầm trọng nhất của nhóm anh em chúng tôi. Anh Nhàn đang ngày từng ngày chờ chết, điếc, mù, vô thức trong từng thao tác. Anh ấy từng dắt Cường đi ăn xin để kiếm sống sau những năm 75.. . Cha của Cường tử trận, ông chú đui mù thương tích đầy người, cõng thằng cháu mất cha đi trên những hoang tàn, đi trên cái lạnh lùng căm ghét của người thắng trận và đi trên cái tàn nhẫn của thù hằn sau cuộc chiến da vàng tang tóc. Thằng bé lớn lên trong tình thương đó. Bây giờ, nó cõng ông chú sắp chết đứng bên lề cuộc chiến, đứng đàng sau cuộc chiến, chờ đưa người thân cuối cùng về đất để biết chắc mẫm là mình mất tất cả trong chiến tranh tương tàn.

Vẫn căn phòng bé nhỏ nằm bên trục lộ chính đang được tráng nhựa mở rộng ra tại khu An Điền xương máu. Anh em chúng tôi ngồi quanh cái bàn có tách trà cùng dăm bánh mứt một ngày cuối năm. Tôi lắng nghe từng người anh em kể cho nhau những vui buồn trên cái thân phận tật nguyền của suốt 365 ngày chịu đựng.

Quanh tôi là 11 thương binh, những người còn sót lại sau cú tan hàng đau đớn, chỉ có 11 người mà tôi thân quen trong số hàng vạn, hàng triệu người phế binh như vậy, những người đã một thời vai áo lính, lầm lủi trong chiến tranh, từng cầm súng can đảm chiến đấu trong binh lửa cho tự do, cho đất nước được vẹn toàn, những con người chỉ biết chiến đấu giành giựt một chút ấm no cho xóm làng cho đồng bào cùng da vàng máu đỏ, chẳng chút hận thù với đối phương, họ hãnh diện kể cho nhau nghe, họ đã từng cứu thương binh bên phía địch trong một cuộc chiến ác liệt. Một câu chuyện bình thường mang đầy tính nhân bản, mà riêng họ, họ chỉ vỏn vẹn hiểu là mình làm gì, làm những gì mà giáo dục của xã hội, của gia đình, của học đường dạy cho họ phải làm, trong một tình huống bất cập chỉ có thể phản ứng bằng tính người và nó được thể hiện như vậy từ trong con người chân chất, từ một người lính, tại nơi phải bắn giết nhau mà tranh sống còn.

Quanh tôi là 11 phế nhân họ tựa vai nhau, sống cho hết khoảng đời bất hạnh còn lại. Nhiều khi tôi tò mò muốn biết họ nghĩ gì, có căm hờn, có nuối tiếc? Họ nhìn tôi, một thằng cũng có thời mặc áo lính, còn nguyên vẹn, chính họ đã đổ máu xương, mất một phần hay nhiều phần trên thân thể, mất thay tôi, đi chết thay tôi. Không có gì ngoài một cái cười mếu mó:

–         Chiến tranh mà anh, trời kêu ai nấy dạ.

Một câu trả lời không một chút căm phẫn, một câu trả lời nghẹn ngào cho thân phận, một câu trả lời làm nhức nhối lòng người.

Tôi trao cho những người anh em của tôi, từng người một, mỗi người một phong bì được trang trọng ghi rõ tên họ, trong đó một tờ giấy bạc ba chữ số từ nơi xa lắc mà bè bạn anh em tôi gom góp lại, tôi trao cho họ bằng tất cả tấm lòng:

–         Xin anh đừng nghĩ nó là một sự trả ơn, mà hãy coi đó là một chút tình với những người ngày nào đã đổ máu xương, một chút cho mùa xuân sắp đến, chân tình của những bè bạn, những da vàng máu đỏ như anh từ xa, xa lắm gởi về đây và nó là… tình người Việt Nam.

Những giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo của những người từng can trường coi cái chết nhẹ như lông hồng, những lời cám ơn nghẹn ngào không tròn câu của anh Hải (mù) làm lòng tôi se lại: “…đây là món quà mà đối với ông bà ởớc ngoài hay những người còn nguyên vẹn chân tay nó không lớn gì mấy, nhưng vi anh em chúng tôi đây là món quá rất lớn, có thể nhận món quà này tôi đùm bọc gia đình tôi cơm go được một năm…”

Trời ! những người anh em TPB của tôi sống khổ, bữa đói bữa no đến thế sao !

V.V.Sang, người phế binh cụt hai chân, hào sảng trong suốt câu chuyện bỗng nhắc một điều làm anh em khựng lại:

–         Có điều là chúng tôi từng viết thư tay gởi đi những hồ sơ cá nhân cho các hội đoàn nhiều lần, nhưng thư không bao giờ tới. Sau một lần bị gọi lên chất vấn, tôi mới hiểu ra ở địa phương hình như không muốn chúng tôi liên lạc với các hội đoàn hải ngoại.

Thêm câu chuyện của anh Tiếp kể giúp tôi rõ thêm vấn đề:

Anh có viết thư gửi ra nước ngoài không?

– Có

– Mấy lần

– Ba

Đưa ra ba cái thư trên bàn, người công an lạnh lùng hỏi:

–         Anh và những người này có quan hệ gì với nhau ?

….

 Và anh Sang kết luận: “thư gởi đi bao giờ cũng có ảnh, một cái thư dầy cộm được gởi từ những bưu cục địa phương bị giữ lại là chuyện không có gì khó hiểu”.

Tôi ngỡ ngàng:

–          À ra thế.

Anh Sang cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi :

–         Còn nữa, một số anh em gởi thư cảm ơn các ân nhân đã gởi tiền hay quà cho từ nước ngoài, thư loại này thường không thể tới được.

Tôi hỏi anh sao vậy, Sang tỉnh bơ:

–         Cái danh sách TPB của VNCH thì công an phải biết hết chứ, vậy anh gởi thư đi đâu? Cho ai? thế lực thù địch nào?… Tôi không biết các nơi khác thì sao chứ ở đây loại này là không thể, không bao giờ tới được.

Thế Minh buông một câu:

–         Triệt buộc… hết cờ.

Qua tuần trà thứ hai thì L.V. Anh, người phế binh một chân, rất nhẹ nhàng góp vào câu chuyện:

– Nói cho cùng thì anh em chúng ta vẫn là TPB của “bên thua trận”, cái còn lại là gìn giữ, giúp cho nhau trong những phút cuối đời là quí rồi, còn chuyện bên lề cuộc chiến thì tràng giang đại hải. cũng có khi làm đau lòng anh em mình

Như một lời tâm sự, nhưng anh làm giật mình cả đám:

– Tôi là TPB. Tới nay tôi vẫn còn giữ lá cờ VNCH, nhờ đó mà thằng con tôi sinh sau năm 75 mới nhìn thấy được lá cờ vàng ba sọc đỏ như thế nào và biết cha nó là ai.

–         Làm sao mà  anh còn giữ được lá cờ VNCH? anh em nhao nhao hỏi.

L.V.Anh từ tốn rút ví, nhẹ nhàng kéo ra một tấm thẻ bọc nhựa. Trên đó màu cờ vàng ba sọc đỏ vắt chéo rực rỡ. Tấm thẻ gần như mới cáu. Thế mới biết 40 năm nay anh gìn giữ nó cẩn trọng thế nào.

 

Tấm thẻ máu xương có con số III của quân đoàn 3, vùng ba chiến thuật như một dấu ấn làm những cựu binh từng một thời chiến đấu sửng sờ.

Tấm thẻ được đặt trên bàn. Màu cờ “thiêng liêng” nổi bật, 11 cái đầu chụm vào nhìn như một báu vật. Bốn mươi năm đã qua. Màu cờ của một quá khứ !

Quả thực đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, trong tất cả những loại thẻ mà tôi từng có, từng biết của thời trước, thời tôi còn là lính.

Buổi trưa, An Điền bụi đỏ mịt mù, hai bên đầu Cầu Đò đang được sửa chữa, những cổ máy nặng nề hoạt động ầm ỉ. Anh em chúng tôi chia tay nhau, mỗi người một lối, tôi đi phía Chơn Thành cùng Dương để về An Lộc, anh Tiếp chở Minh về hướng Sài Gòn chúng tôi bắt tay nhau không hẹn hò, nhưng bịn rịn. Bởi chúng tôi biết ở vào cái tuổi này, chuyện ra đi chẳng có chi bất ngờ và sớm muộn thì cũng phải đi.

Con đường dẫn về An Lộc tôi đi còn xa, chí ít phải trên 50 cây số nữa, rồi lại quay về… biết có kịp trong ngày không? Dù sao cũng phải thắp một nén nhang cho những người còn nằm đó, nơi mà tôi còn có những người quen không phải là những TPB mà là người đã chết, trong số họ rất nhiều người từng có lúc chiến đấu ở An Điền, tôi muốn khoe với họ.

Tôi vừa mới thấy một loại thẻ, cấp cho chiến sĩ QLVNCH, tấm thẻ mà người lính tử trận không thể có được, bởi nó chỉ dành cho những phế nhân và có một TPB đã giữ nó bên mình suốt 40 năm. “Thẻ hội viên Tổng Hội Phế Binh Việt Nam Cộng Hoà”.

 nguyễn thanh khiết

23 tháng chạp. Tết Giáp Ngọ.

Lời tạ ơn…năm cuối

Người gởi ta cành mai vàng nở rộ
làm vui ngày tết ở tuổi sáu mươi
ta còn chi trên quê hương cùng khổ
nước mắt cũng khô nói chi môi cười

người gởi ta nỗi lòng thân tầm gởi
trong cái buồn hiu lá rụng chiều đông
tết xa nhà, nhớ mẹ già đang đợi
thương bầy em còn mỏi ngóng bên sông

người gởi chi, gởi chi – gởi ta chi ?
câu thơ đứt ruột viết dọc đường đi
nhắc làm gì thời yên cương, tráng sĩ
thuở tù đày và mấy đứa đã đi

người gởi ta chút hương hoa ngày tết
cho lũ bạn bè mất cẳng, mất tay
câu hỏi han với những người đang chết
chết lụi tàn từ bữa thua trắng tay

cám ơn người, cám ơn thời áo lính
cám ơn máu xương trên đống tro tàn
cám ơn hồn thiêng sông núi điêu linh
cám ơn nỗi đợi – ngày mai trời sáng

mai ta khao quân mừng thằng ở lại
mừng thằng đui không nhìn thấy tóc tang
mừng thằng què chống nạng sống qua ngày
rót cho thằng liệt một chung rượu đắng

ta sẽ gọi người – gọi kẻ đi xa
đã gởi về đây mùa xuân héo nửa
trên mồ quê hương mọc đầy cỏ lạ
có những thằng với thương tích ngày xưa

nguyễn thanh khiết
22 tết Giáp Ngọ

Advertisements
This entry was posted in Những mảnh đời rách nát, Tản Mạn. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s