Phạm Văn Lương – Trường cũ, người xưa

 


Hoàng ngồi dựa nửa người trong chiếc hố trên ngọn đồi nhỏ, với súng carbine để trên đùi, còn người thì quấn chiếc mền poncho liner mỏng, mà chàng đã lượm được tại Pleiku khi tiểu đoàn đóng quân bảo vệ một đơn vị Mỹ. Hôm ấy, khi trời đang mưa lớn, Hoàng lái chiếc xe jeep chạy ngang qua một cái lều thì gió thổi tốc chiếc poncho che hết kiếng xe trước. Hoàng đành xuống xe gỡ ra vứt, nhưng tiếc nên bỏ sau ghế. Nó theo Hoàng từ đó.

Khi trận đánh đột ngột chấm dứt, Hoàng thẫn thờ nhìn con đường trước mặt. Xa hơn một chút là một dẫy nhà tôn, cách đều nhau, Nhà nào cũng có một hàng hoa dâm bụt đỏ, hình ảnh quen thuộc của Dalat. Một dẫy nhà khác, đóng cửa, ở phía trái. Dưới dốc, lại những dẫy nhà quay mặt nhìn nhau. Xa hơn về phía Bắc là nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đồ sộ, với một dẫy cửa sổ đều nhau, nhưng im lặng, như xa hẳn mọi người, xa cảnh thế tục. Trời xế chiều, xóm vắng, không một tiếng động, chỉ thỉnh thoảng có một vài tiếng gà gáy, một vài tiếng chó sủa vu vơ.

Thật khó ngờ, chỉ mấy phút trước chỗ Hoàng đang ngồi là bãi chiến trường, vang rền tiếng súng carbin của những người lính BĐQ trong đại đội, rồi tiếng vang khô khốc của AK bắn ngược chiều, cùng tiếng gầm thét của máy bay skyraider, xen lẫn tiếng nổ của đạn pháo binh 105 ly, hoà lẫn tiếng hô xung phong kéo dài như vô tận của những người lính khi thực hiện hành động mạo hiểm sau cùng của trận đánh. Chỉ cách đây ít, phút tiếng nổ gần của mấy trái bom napal, kéo theo vệt lửa chạy dài trước mặt, làm tai Hoàng muốn điếc.

Khi trận đánh bắt đầu, trong khoảnh khắc, Hoàng và những người lính như ngây dại. Trong đời lính mà Hoàng đã trải qua, việc xung phong chiếm một ngọn đồi như hôm nay cũng không phải nhiều. Hoàng cũng như những người lính, xung phong, tìm cái sống trong cái chết. Chỉ một giây cuối cùng, ngay sát mục tiêu, chỉ vài bước nữa thì Nhung, người mang cây trung liên, đã nhẩy vào chiếc hố. Nhưng mấy bước sau cùng đó, không bao giờ tới, vì Nhung đã lãnh nguyên một loạt AK, nằm gục bên bờ miệng hố. Tên VC, cũng chẳng khá gì hơn, lãnh nguyên băng đạn carbine. Chiến tranh bao giờ cũng bao gồm chết chóc, và nhiều khi vô nghĩa.

Lòng Hoàng chợt quặn lại khi nghĩ đến tang thương đang đổ đến Dalat của chàng. Tết mới qua được mấy ngày, ở thành phố nào, đồng quê nào cũng còn rộn tiếng cười, tiếng pháo. Năm nay, mùa xuân, của đất trời, vẫn tới không thay đổi. Vậy mà cả một làng, cả một đường phố buồn tênh, không thấy cả ngọn khói từ những chiếc bếp nấu cơm quen thuộc. Chàng ngước nhìn bầu trời trong xanh, đẹp đẽ, nhưng lòng buồn da diết, ngổn ngang. Chàng đang lo nghĩ cho an ninh của đơn vị vì cuộc chiến chưa yên, đồng thời lại phải lo nghĩ cho gia đình của mình, mặc dầu mới mấy ngày trước, Sang, cô bạn gái, tới khu Marie Curie, thăm Hoàng, cho biết,

“Anh cứ yên tâm đi, em gặp ba má rồi. Ông bà vẫn mạnh, chỉ lo cho anh. Em dấu hẳn, không cho biết anh về Dalat. Ba má nghĩ anh vẫn ở Pleiku. Chỉ một mình em biết anh ở đây, nên chỉ một mình em lo lắng. Mỗi lần tiếng súng lớn rộn ràng, tim em muốn ra khỏi lồng ngực, có người yêu là lính thật khổ…“

Hoàng thông cảm, giống như cuộc chia tay tại sân ga, tàu chạy, người ở lại là người buồn hơn. Chàng lại nhớ tới giây phút bất ngờ khi nhận lệnh trực tiếp của TĐT yêu cầu chàng thay thế đại đội trưởng cũ của Đại Đội 2 lúc trận đánh đang diễn ra. VC đã lợi dụng yếu tố bất ngờ, di chuyển ban đêm, lập tuyến phòng thủ gây thiệt hại cho ĐĐ2. Hoàng đâu có nhiều thì giờ nắm vững tình hình. Chỉ sau một thời gian rất ngắn chàng đã phải ra lệnh cho toàn đại đội dàn hàng ngang xung phong tiến chiếm mục tiêu.

Hoàng chợt nghe tiếng Hoành, người lính nấu cơm,

– “Alpha, hớp miếng cà phê cho ấm. Em vừa nhóm bếp ngay cạnh chiếc chuồng gà, gần nhà phía dưới chân đồi.

Vừa hớp xong ngụm cà phê đầu, Hoàng gọi ngay người mang máy,

– Anh mời mấy thẩm quyền tới cho tôi gặp một chút. Nhớ dặn họ cho canh gác ngay, không được chểnh mảng.

Ngồi một mình, nhìn qua ngọn đồi thấp và rộng, Hoàng thấy trường Đa Thành nhỏ xíu ẩn hiện xa xa. Mái ngói đỏ và tường màu vàng đưa Hoàng trở về với quá khứ trong khoảng khắc. Hoàng chép miệng, “Mình đã học hai năm tiểu học ở trường này. Ngày đó sao thấy nó lớn quá. Thế mới biết, mình đã thay đổi rất nhiều.”

Những hình ảnh thời ấu thơ lại thoáng hiện ra trong trí nhớ. Hoàng nhớ thầy Diễn, hiệu trưởng, thương Hoàng, lúc nào cũng cho đánh trống “une fois“ rồi trống “deux fois“,… Tuổi nhỏ, vô tư, được đánh trống cũng đủ vui rồi; chưa kể, những giờ ra chơi, trongđám lẫn lộn cả trai lẫn gái. Hoàng nhớ đến tên những người bạn cũ như Giàu, Cúc, Liên, thằng Lự, thằng Lượm, thằng Hồ… Trong đám con gái, Giàu mạnh nhất. “Cứ mỗi lần đùa là nó vật mình ra sân cỏ, phải chờ có người cứu mới chịu buông.” Giàu còn nói, “Tao cũng bắt mày nữa, lần sau thì đừng hòng, em ạ.” Nghĩ tới đây, Hoàng thầm cười, “Cái con nhỏ trịch thượng, còn gọi mình là em nữa chứ.”

Tiếng mấy người trung đội trưởng chào, mang Hoàng về thực tế. Chàng nói,

– Thôi, mình xuống phía đốc kia, ngồi đây không an toàn. Tôi có chút việc dặn dò các anh.

Khi mọi người an vị, Hoàng bắt đầu nói sơ lược lại cuộc tấn công của đại đội. Hoàng nhìn từng người trung đội trưởng,

– Các anh hành quân nhiều kinh nghiệm. Có bao giờ, các anh thấy quân số đại đội chỉ còn 43 người không? Lần này chúng ta lại mất thêm hai người nữa. Anh Nhung, xạ thủ trung liên, và Trung Sĩ Minh chết ngay cạnh tôi. Ngày rời Pleiku, chúng ta có 98 người, 4 sĩ quan. Nhưng quân số đại đội không giữ được lâu, mà đã bị hao hụt từng ngày. Hy vọng các anh em bị thương, nằm rải rác tại các quân y viện sẽ sớm trở về với chúng ta. Trong khi chờ đợi được bổ xung quân số, chúng tôi vẫn phải chiến đấu, và phải thắng. Không thắng đồng nghĩa với bị thương, với chết.

Để tạo thoải mái, chàng yêu cầu Hoành chia mỗi người uống một chút cà phê. Ai cũng khen. Hoàng cười nhỏ nhẹ,

– Giờ này, chẳng cần cà phê, gạo rang cũng vẫn ngon. Nhân đây, mời các anh ăn chút bánh kẹo để nhớ hương vị Tết. Món này thì bí mật. Tôi không thể nói xuất xứ.

Một trung sĩ, vui vẻ,

– Alpha tuy mới xuống đại đội, nhưng tụi tôi biết Alpha có số đào hoa nhất tiểu đoàn này từ những ngày còn ở Pleiku.

Mọi người đều cười. Hoàng trở lại công việc,

– Sau khi họp tại đây, trung đội 1 lục soát phía Tây. Mặt này nặng, VC từ phía Cam Ly, qua ấp Kim Thạch, lên nằm đồi đêm qua đấy. Sau khi trung đội lục soát, tối tập trung làm ba tổ, canh gác. Nếu có gì, tôi sẽ điều động lên lại ngọn đồi hồi chiều. Trung đội 2 cũng lục soát kỹ khu phía Nam, ngay cái nhà lầu mới, tại trường Đa Nghĩa. Trung đội 3, phía Đông, bên dẫy nhà phía bên kia đường. Tôi, cùng toán truyền tin và thêm mấy người thuộc trung đội chỉ huy, lục soát phía Bắc, phía tôi xuống trực thăng hồi sáng. Sau đó, 3 người gác phía Bắc, còn tôi, truyền tin, Hoành, nằm trên mấy chiếc hố ngọn đồi hồi chiều. Nếu VC tấn công, tôi sẽ kêu pháo binh yểm trợ, nhưng không điều động trung đội nào ban đêm nữa. Nếu trung đội nào không thể nào giữ được vị trí của mình, tôi sẽ hướng dẫn về lại đồi, chỗ tôi ở.

Cuối cùng, các anh ra lệnh thật nghiêm cho lính, không được vào nhà dân chúng, không được lấy gì, ngoại trừ nước uống tại các bể nước, phía ngoài. Các anh biết dân chúng đã khổ nhiều vì chiến tranh rồi, đừng làm họ khổ thêm nữa. Tôi nghe dân chúng oán thoán, các anh phải trách nhiệm với tôi. Tới khi có lệnh mới, bất cứ người dân nào muốn về nhà phải có lệnh của tôi. Ai trong đại đội muốn về nhà tới xin phép tôi trực tiếp.

Mấy người trung đội trưởng vui vẻ,

– Tụi tôi sẽ theo lệnh, Alpha.

Sau khi mọi người rải tán, Hoàng vẫn ngồi tại chỗ ngắm nhìn bầu trời trong xanh,. Một lúc sau, chàng quyết định di chuyển Ban Chỉ Huy Đại Đội tới cái chái của một căn nhà ngói rộng. Hoàng lại gọi truyền tin nhắc nhở các trung đội cho canh gác và cho nấu ăn. Vẫn chiếc súng carbine vắt ngang bụng, sau khi khẽ kéo khóa an toàn, chàng nằm xuống võng bắt đầu nghiên cứu bản đồ, chấm mấy vị trí tác xạ tiên liệu, rồi kêu truyền tin chuyển về tiểu đoàn.

Hoàng vừa xong việc thì một người lính dẫn hai người dân trạc tuổi tứ tuần, xin gặp. Chàng hỏi:

– Mấy bác ở đâu mà về đây?

– Tôi ở ngay dưới này. Tụi tôi về tưới mấy luống rau mới trồng. Nếu tôi không tưới ngay thì cây sẽ chết. Tôi chỉ cần nửa giờ. Một ông nói.

Hoàng nhìn hai người, không suy nghĩ, đồng ý,

– Tôi để hai bác tưới rau thôi nhé. Xong hai bác đi ngay dùm. Hy vọng ngày mai các bác tha hồ tưới.

Đã gần 5 giờ chiều. Hoàng đứng dậy, bước vòng qua mấy căn nhà, trở lại ngọn đồi hồi chiều để kiểm soát đơn vị và thám sát chung quanh. Nắng đã dịu, mấy cụm khói bếp đang lan tỏa trên mấy căn nhà của dân ở phiá Nam. Một vài người, ở cách xa vị trí đại đội đang phòng thủ nên không có ai ngăn cản, đã trở về nhà và nấu ăn.

Hoàng ghé xuống ngôi nhà mới ngay chân trường Đa Nghĩa. Đây là tiệm bán phân bón, thuốc trừ sâu lớn nhất vùng này. Khi thấy chàng hai người lính đang gác, khẽ chào rồi bước về phía sau. Hoàng ngồi trên hè, lót gạch bông bóng láng, ngó về 2 phiá con đường. Mùi thuốc pháo được dân chúng đốt đêm giao thừa còn phảng phất chung quanh. Một người lính tới chào Hoàng,

– Có một ông già, và một cô gái xin gặp Alpha.

Hoàng chặc lưỡi, cứ thế này thì đâm ra mình phải tiếp khách thập phương tới chúc tết mệt nghỉ. Ông già đi trước, cô gái xách chiếc giỏ nhỏ, theo sau. Cô gái hình như nhận ra Hoàng, cười thật tươi, khiến Hoàng bỡ ngỡ. Hoàng khẽ chào ông già,

– Chào bác, bác đi đâu vậy?

– Tôi ở ngay ngã ba dưới kia, muốn ghé về thăm nhà một chút. Từ sáng tới giờ tôi thấy trực thăng đáp ngay đó, rồi máy bay, tiếng súng đạn lớn nhỏ nổ, tôi lo lắng quá. Ông già vui vẻ.

Lúc này, Hoàng mới nhận ra cô gái, trạc tuổi mình,

– Ồ, hoá ra là Cúc. Xin lỗi bác. Cúc là bạn học của cháu thời tiểu học.

– Tôi nghe Cúc nói rồi. Hoá ra là ông. Cháu nó muốn đi với tôi để may ra gặp lại bạn cũ.

Thế mà đã mấy năm rồi mới gặp lại. Lần trước,chàng đi cùng Sang đi trên đường Minh Mạng thì gặp Cúc và Giàu. Nhân dịp này, Hoàng cũng giới thiệu Sang với những người bạn học của của mình. Hoàng nói với ba của Cúc,

– Thưa bác, thật tình cháu chưa thể để các bác về nhà, vì phải lục soát kỹ lưỡng. Để cháu hỏi xem lính lục soát khu nhà bác đã xong chưa. Nếu cháu để bác đi, lỡ, có gì xẩy ra, cháu thật áy náy.

Hoàng cho lệnh truyền tin,

– Anh hỏi thằng 3, lục soát khu phía Bắc chưa?

Tiếng máy sè sè, tiếng truyền tin trả lời,

– Xong rồi, Alpha.

 – Nói với thẩm quyền, cho lính dẫn giùm hai người về xóm đó. Hai người này chỉ về thăm nhà thôi. Tôi sẽ cho lính theo họ tới bây giờ. Hoàng lại tiếp.

Hai cha con Cúc, tò mò, ngạc nhiên khi thấy Hoàng kỹ quá. Ba của Cúc nói – Ông chỉ huy nghiêm nhặt quá.

Hoàng không trả lời ông chỉ nhìn Cúc, rồi nói,

– Cháu cho lính đưa bác về thăm nhà, khi nào xong nói họ đưa bác ra đường. Nhớ bác nhé. Lính của cháu là lính lạ, nên họ không phân biệt ai là ai, nhất là mới đánh nhau xong. Định cho một người lính đi theo dẫn đường, nhưng rồi Hoàng đổi ý,

– Để cháu và Cúc theo bác lên ngay ba cây thông trên đồi.

Tới cây thông, ba của Cúc mừng,

– Tôi nghĩ khu nhà mình tan tành, chứ ai ngờ…

Hoàng đỡ lời,

– Đời nào tụi cháu bắn đạn vào nhà, cực chẳng đã mà thôi. Cháu biết mọi người khổ nhiều rồi. Phải đắn đo chứ bác.

Chỉ còn hai người, Cúc đưa chiếc giỏ nhỏ cho Hoàng,

– Em mang theo một cặp bánh chưng và mấy miếng mứt cho anh,

Hoàng chọc Cúc,

– Lỡ em không gặp anh thì sao?

– Em nghĩ rồi, nếu không gặp anh thì em đưa cho ông chỉ huy. Ai mà chẳng được, mấy anh khổ quá mà.

Trời về chiều, ánh nắng dìu dịu, Cúc nhìn quanh, vết bom, đạn ngổn ngang, nhiều hố pháo binh còn trơ màu đất đỏ,

– Lúc máy bay thả bom, anh ở chỗ nào?

– Ở chỗ mình đang đứng chứ chỗ nào nữa.

– Trời đất, nguy hiểm thế hả anh? Cúc ngạc nhiên.

– Lúc trái bom napal thứ hai từ máy bay thả, em có thấy không? Hoàng vui miệng.

– Ai cũng thấy hết, dân đổ ra đường xem đánh nhau mà. Em và Giàu đều nghĩ tới và lo cho anh. Tội Giàu, nó nắm tay em thật chặt, nhắm mắt không dám nhìn, bom nổ xong, nó mới mở mắt. Tụi em biết anh có người lo rồi, nhưng tự nhiên cũng lo.

– Giàu có biết anh ở đây không? Hoàng hỏi.

– Tụi em biết hai ba ngày rồi, anh nhớ thằng Lự chứ, nó gặp anh ở đâu không biết, sau đó gặp ai cùng lớp ngày xưa nó đều báo cho biết. Gặp em và con Giàu, nó báo liền, “Nhớ thằng Hoàng học với mình không? Nó đi lính Biệt Động Quân. Tao thấy nó lái xe Jeep, trông oai lắm. Nó mặc bộ đồ rằn ri thật đẹp, nhưng vẫn còn sữa như ngày nào còn chơi nhẩy dây với bọn mình.”

Cúc chép miệng, nói tiếp,

– Mới ngày nào còn chơi u mọi, còn gọi nhau bằng mày tao. Thế mà giờ này lớn cả rồi. Cúc nhìn Hoàng châm chọc. Khi nào anh cưới vợ? Em và con Giàu chờ ăn đám cưới đấy. Anh tổ chức ở đây hay ở đâu?

Hoàng cười lớn,

– Cái cô này hay thật, thấy đó là đặt tên ngay, cưới với hỏi. Ai cũng sợ lính, nên không dám lấy chồng lính. Giờ này, tết nhất mà anh ở đây, mai ở đâu cũng chẳng hay. Nhất là loại lính như bọn anh, chỗ nào có tiếng súng là họ gởi tới. Sáng nay anh lên máy bay ở Pleiku. Khi máy bay đáp xuống thấy cái nhà vòm kiểu Thượng, anh mới biết đã trở về Dalat. Đời lính vui ít, buồn nhiều, đi đánh nhau, chứ đâu phải đi phép. Cũng may, mặt trận ở đây không không lớn bằng những thành phố anh đã ngang qua, như Pleiku, Ban Mê Thuột,…

Cúc có vẻ buồn,

– Súng nổ cả ngày mà anh nói không lớn. Thế nào mới là lớn đây? Em tưởng anh đi nhiều nơi vui lắm chứ.

Hoàng nhìn Cúc, hi Trường Cam Ly 1968

– Ở đâu mà cũng được gặp bạn bè, gặp người đẹp như em thì đời lính, bớt khổ.

Cúc nhìn Hoàng không chớp,

– Anh cho em uống nước đường, tụi em mà đẹp. Cô bạn của anh mới đẹp chứ. Con nhà giàu hả anh?

Khi Cúc đề cập tới Sang, Hoàng chẳng biết nói sao chỉ im lặng cười. Chợt thấy vài cái nệm còn vấy máu bỏ lại sau nhà dân được dùng cho VC bị thương nằm, Cúc chợt buồn hỏi,

– Không biết nhà em có sao không?

– Chắc không sao vì không có giao tranh ở khu vực nhà của em. VC từ hướng Cam Ly vào phía An Thạch, lên nằm ngay ngọn đồi này. Tụi nó nằm ngay vào những cái hố của quân Nhật bỏ lại. Bọn anh phải khó khăn lắm mới đánh bật nó ra. Vừa nói Hoàng vừa chỉ tay vào mấy chiếc hố, rải rác khắp đồi.

Một người lính tới gần nói nhỏ với Hoàng,

– Mình mới thu được một B40 mà bọn nó bỏ lại ngay trên bàn thờ. Tụi tôi phải lục kỹ lắm mới thấy, mới nhìn cũng tưởng cây đèn cầy.

Cúc tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy Hoàng và người lính cùng cười. Không muốn Cúc biết nội dung câu chuyện, chàng nói sang chuyện khác,

– Anh ta khen dân Dalat có duyên quá.

– Ngày xưa anh hiền như con gái. Sao bây giờ sạo quá? Bao giờ dân chúng mới được về, anh? Cúc đập vào người Hoàng nói,

– Có lẽ mai, nếu mọi chuyện yên lành. Anh mong dân chúng về sinh hoạt bình thường, ai muốn ngăn sông cấm chợ thế này. Chỉ có bọn VC mới đánh vào thành phố thôi.

Ba Cúc đang trên đường về, Cúc nhìn người lính vẫn theo sau, nói vội,

– Lúc nẫy em và ba lên đây, đường vắng tanh, không một bóng người. Vậy mà hai cha con em mới rời khỏi đường bước lên đồi thì đã có hai người lính xuất hiện. Ba em trình bày muốn xin gặp ông chỉ huy, còn em thì run lập cập. Hai người lính đã chỉ hướng cho cha con em. Mới đi được vài bước, em quay lại thì người lính đã biến mất. Khi tới gần đây, đột nhiên lại có người lính khác chận lại. Sao kỹ vậy anh?

Hoàng nửa đùa nửa thật,

Chắc họ thấy em dễ thương nên hỏi chứ gì?

– Lại dễ thương, thôi ông bạn cũ của tôi, đừng tán nữa. Tôi có người yêu rồi. Cúc đỏ mặt.

– Em và Giàu có người yêu, chứ có mười người yêu, anh cũng chẳng ngạc nhiên gì. Hoàng vui vẻ.

Cúc cười sung sướng, xen một chút e thẹn, mặt cô gái lại ửng hồng. Hai người nói chuyện cho đến khi ba của Cúc trở lại. Ông cảm ơn rồi nói,

– May mắn quá nhà vẫn như cũ, không có hư hỏng gì. Tôi xin phép mai quay lại.

Trước khi đi Cúc dặn dò,

– Mai em và Giàu thăm anh,

Hoàng cho người lính dẫn hai cha con người bạn cũ ra về. Nhìn ánh nắng chiều ngả trên vai, lòng Hoàng ngổn ngang, buồn vui lẫn lộn. Chàng ra lệnh cho các trung đội bắt đầu cho phòng thủ qua đêm, rồi ra lệnh không cho dân chúng về thăm nhà nữa. Nếu tình hình tốt đẹp, trưa mai mọi người có thể về thăm nhà và có thể ở luôn. Chàng nghĩ, “Chiến tranh vô lý, và buồn cười thật. Ai đời, nhà mình mà phải xin phép về thăm!”

Ngày mới bắt đầu. Khi mặt trời ửng hồng vượt khỏi chân đồi, Hoàng cho đơn vị tiếp tục lục soát rộng ra bên ngoài. Cứ 3 người thành một toán và toán nọ thấy toán kia. Khi dân muốn về thì không ngăn cản, nhưng hạn chế việc lộ diện. Nếu có tiếng súng thì các trung đội tự phòng thủ và chờ lệnh.

Thành phố Dalat như sống lại sau khi không còn tiếng súng, cũng như dân chúng đưọc tin Biệt Động Quân đã đánh đuổi VC ra khỏi thành phố. Từ đầu đường Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Phan Đình Phùng, dân chúng đổ xô về nhà tại Đa Nghĩa, Đa Thành, về tận khu Dòng Chúa Cứu Thế và khu canh nông Thánh Mẫu. Người đi bộ, người xe đạp, trẻ con, người lớn, người gồng, kẻ gánh. Có người gánh đôi thúng, chứa mấy con heo nhỏ nằm gọn gàng bên trong, trong khi hai người khác đẩy chiếc rọ chở con heo lớn. Chắc là heo mẹ! Hoàng buồn bã, than thở một mình, “VC tới đâu, cả heo cũng chạy loạn.” Rồi Hoàng chợt nghĩ tới nhà của mình, rồi nhớ tới Sang. Nhà Sang ở ngay trong phố, chắc không có gì. Chỉ sợ nhà mình, cũng nửa tỉnh nửa quê như vùng này. Nhất là khu chùa ở trên đồi đối diện nhà Hoàng hoang vắng. Nghĩ tới đây, lòng chàng nặng trĩu.

Hoàng nhận ra Cúc và Giàu ngay, khi hai cô này mỗi người xách một chiếc giỏ, tới gặp chàng. Hoàng đứng dậy, nhìn chung quanh, rồi mời hai cô gái ngồi. Giàu lấy chiếc bánh chưng từ giỏ ra tặng thì chàng từ chối lấy lý do là đã nhận của Cúc.

– Hôm qua là Cúc, hôm nay người khác, anh phải lấy. Còn đây, một con gà của hai đứa. Anh cũng phải nhận cho tụi em vui. Giàu nũng niụ,

– Còn thiếu mấy trái mận chín cây nữa chứ. Hoàng chọc Giàu.

-Mận đó giờ này để dành cho người khác rồi. Giàu bẽn lẽn.

Hoàng cảm động, như vậy hai cô đi thăm tiền đồn, ủy lạo chiến sĩ, đâu phải thăm bạn học cũ,

– Anh biết lấy gì tặng lại đây.

-Khi nào anh cho ăn đám cưới là huề rồi. Cúc cười.

 – Tất nhiên, khi nào cưới vợ, anh phải mời hai cô chứ. Nhưng biết có ngày đó hay không? Mà ở đây hay ở đâu? Lỡ đám cưới ở xa thì sao?

Khi Giàu hỏi Hoàng về chuyện tương lai của chàng với Sang, Hoàng không dấu diếm,

– Hai đứa quen nhau lâu rồi, nhưng anh không dám tiến tới. Anh đi hành quân liên miên, thôi để anh khổ đủ rồi.

Cúc chợt hỏi Giàu,

– Tao nhớ ngày xưa mày hay mang mận lên lớp, mà mận to nhất cây. Mang cho ai vậy? Có phải cho Hoàng không?

– Không Hoàng, còn cho ai nữa? Hoàng muốn chọc Giàu,

– Cho Hoàng cũng được có sao đâu? Giàu đỏ mặt.

Trời đã về trưa, hai cô gái nhìn nhau. Cuối cùng Giàu nói,

– Bây giờ tụi em phải về. Cảm ơn anh và các anh lính Biệt Động Quân chịu mọi nguy hiểm, chết chóc, cho tụi em an lành. Ai trong xóm của em cũng quý mến các anh. Họ ngạc nhiên khi thấy các anh, mặc rằn ri, nhưng lại quá hiền lành. Họ còn biết anh học trường Đa Thành, và là người Đalat. Tụi em sẽ rủ bạn bè cũ tới thăm. Mới ngày nào, anh như con gái, ai chọc cũng đỏ mặt. Thế mới biết, thời gian đã thay đổi biết bao.

Rồi vẫn giọng nửa đùa, nửa thật, Giàu nói,

– Em mà biết như thế này, chắc anh không thoát khỏi tay em.

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s