Trần Ngọc Nguyên Vũ – Dòng Sông Tĩnh Lặng

Xin thắp một nén nhang lòng tưởng niệm cố Trung Tá Phi Công Lê Bá Định. Để nhớ lại một thời đã qua… Một đời đã qua!

Trần Ngọc Nguyên Vũ

*****

“Tịch tịch Lăng Gìa nguyệt”
Không không độ hải chu”

Thiền Sư Huệ Sinh

*****

Người khách lữ hành miệt mài đi trên con đường cái quan của đất nước, bắt đầu từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Vượt qua biết bao nhiêu những dòng sông lịch sử, từ Bạch Đằng Giang, Hồng Hà, tới sông Gianh, sông Bến Hải. Qua dòng Thạch Hãn, vượt đỉnh Trường Sơn ngược nguồn lên cao nguyên lần theo những dòng sông PoKor, Dakbla huyền hoặc. Rồi xuôi Nam tụ về 9 dòng Cửu Long Giang cuồn cuộn đổ ra trùng khơi biển cả. Ở mỗi nơi, khách đều dừng chân ngậm ngùi chiêm ngưỡng những dấu tích bi tráng của một thời. Nhưng cảnh vật còn đây mà Anh Hùng Hào Kiệt ngày xưa nào đâu thấy… Chỉ thấy sóng nước đang gầm lên khúc độc hành…

Ông ra chào đời và lớn lên vào “thủa trời đất nổi cơn gió bụi” (1). Lúc thiếu thời, ông miệt mài nấu sử sôi kinh, rèn luyện bản thân và tạo cho mình một gánh hành trang cần thiết để đi vào cuộc sống… Cũng như bao người trai cùng thế hệ “mầu tím hoa sim” với ông, thế hệ của những người đã

“… Bao năm mài gươm dưới nguyệt
Mà tưởng nghe hồn thép réo sông sâu.” (2)

Năm 1958 ông tình nguyện đầu quân vào quân chủng Không Quân, và được huấn luyện để trờ thành một phi công. Sau khi tốt nghiệp, ông về phục vụ tại Phi Đoàn 1 Khu Trục (tiền thân của PĐ Phượng Hoàng 514) đồn trú tại căn cứ không quân Biên-Hòa. Là một phi công tài hoa son trẻ và  nhiệt tình, ông cùng các bạn đồng lứa ôm trong lòng một hoài bão của những người lấy,

“Chí làm trai dậm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” (3)

làm phương châm cho cuộc sống. Chính những nguời như ông cùng các bạn  đã làm cho ngành Khu Trục trở thành những đơn vị tác chiến lừng danh của KLVNCH thời bấy giờ.

Hồi mới vào KQ tôi đã nghe danh ông cùng những tên tuổi như Phạm Long Sửu, Nguyễn Quang Tri, Lưu Kim Cương, Nguyễn Ngọc Khoa, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Hồng Tuyền, Nguyễn Văn Tường, Chế Văn nghĩa, Ôn Văn Tài, Nguyễn Văn Giang, Lê Văn Thảo, Huỳnh Văn Vui, Nguyễn Quốc Hưng, Nguyễn Quốc Thành, Lê Mộng Hoan, Lê Như Hoàn, Dan Hoài Bửu, Phạm Đình Anh, Lê Phước Cung, Trần Văn Việt, Phạm Đăng Cường,… nhưng chưa có dịp quen ông cho đến khi đi biệt phái PleiKu, bay cho MAC SOG yểm trợ Chiến Đoàn 2 Xung Kích ở KonTum, và B50 ở Ban Mê Thuột, tôi mới được hân hạnh gặp gỡ và quen biết  ông.

Tôi gặp ông cũng là do cái “duyên nghiệp” đưa đẩy. Lúc đó ông đang giữ chức vụ Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến của Căn Cứ 92 Chiến Thuật. Vì cùng là dân KT nên thỉnh thoảng ông hay ghé biệt đội thăm chúng tôi và chia sẻ những kinh nghiệm bay bổng. Qua những lần gặp gỡ đó, tôi thấy ở ông như đang có ngọn lửa ưu tư bập bùng trong lòng. Tôi vốn là người thích thơ văn, gặp ông cũng là tay sính văn chương thơ phú, cho nên tuy mới gặp mà đã như quen biết  tự bao giờ… Thủa ấy vào những ngày mưa dầm gió bấc, ông hay mời chúng tôi đến nhà ông. Có khi cùng ông ăn một bữa cơm thanh đạm gia đình, do bàn tay khéo léo của người vợ hiền sửa soạn. Hay những buổi tối đội mưa ghé thăm ông để được thưởng thức một chén chè đậu đen ngọt đậm tình người. Hoặc những buổi chiều mây dông đen kịt kéo về phủ kín cả bầu trời phố núi, ngồi bên ấm trà sen thơm ngát, cùng ông bàn chuyện thơ văn…

Ông nói chuyện rất có duyên, hiểu biết nhiều, lại thêm giọng nói trầm ấm, đằm thắm và lôi cuốn làm cho người nghe phải cảm mến. Qua những buổi trà đàm cùng ông, ông thường nói về nghệ thuật uống trà của kẻ sĩ. Ông nói uống trà không cần phải cầu kỳ qúa như Trà Đạo của Nhật Bản, hay lối pha trà kiểu cách của người Tầu, nhưng cũng không qúa giản dị mà để mất đi cái “lễ” đối với trà. Uống trà là phải uống cả cái hồn trà, cũng như đọc thơ văn hay nghe nhạc là phải cảm nhận được cái hồn của văn thơ và nhạc. Mà hồn văn thơ hay hồn nhạc là gì nếu không phải là tâm tình của tác gỉa hòa lẫn vào câu thơ, lời văn hay khúc nhạc mong gởi đến người nghe đó sao. Hồn trà cũng vậy, có phải là hồn của người pha trà gởi vào trong ấm trà, bình trà để khi rót ra, tức là rót cả tâm tình của mình vào ly vào tách để mời khách đó hay sao. Cho nên khi uống trà, người uống có thưởng thức được vị trà, và cảm nhận được tâm tình của người pha trà mới gọi là tri âm, tri kỷ…

Nghe ông nói dù chưa uống trà nhưng tôi đã thấy đâu đây thoang thoảng hương trà đậm tình tri kỷ bốc lên… Trong số những văn nhân thi sỹ Đông Tây kim cổ, ông thích nhất Tô Đông Pha, và Hàn Mặc Tử. Với Tô Đông Pha, ông thích cái hào khí của một kẻ sĩ quấn lấy gót chân của thi nhân trên những chặng đường đầy ải. Với Hàn Mặc Tử, ông cảm nhận được cái phong thái phiêu diêu, lãng đãng ẩn sau những cơn đau đớn tột cùng của thân xác thi nhân. Hình như qua cuộc đời thăng trầm đầy những sự đau đớn, oan khuất và đọa đầy của những nhà thơ tài hoa nhất mực ngày xưa này, mà ông đã tìm được chân diện mục của chính mình chăng… Ông có một lối sống ung dung tự tại. Ông cho rằng mọi chuyện xẩy ra đều là do duyên sanh, tương tác, tương hợp, tương tức, nên tất cả mọi chuyện đều không có tự tánh, nó liên kết với nhau mà thành. Có chuyện này xẩy ra, mới nẩy ra chuyện khác. Không cần mong mà cũng chẳng cần phải chờ đợi. Bởi nó đến rồi đi như mây trời, gió núi… Một lối sống rất thiền trong triết lý “Cư Trần Lạc Đạo” của vua Trần Nhân Tôn, vị đệ nhất tổ thiền phái “Trúc Lâm Yên Tử” của Việt nam.

Không phải vô cớ mà từ một Phi Đoàn Phó của phi đoàn Phượng Hoàng 514, một phi đoàn khu trục lừng danh của Không Lực VNCH, cùng với hàng ngàn giờ bay cá nhân, qua các phi vụ bình Nam phạt Bắc, ông lại thu mình ngồi mai danh ẩn tích trong cái văn phòng nhỏ bé, trên ngọn đồi của căn cứ 92 Chiến Thuật đèo heo hút gió này. Cái văn phòng vỏn vẹn chỉ có dăm ba nhân viên, và một người lính văn thư ngày ngày ngồi đợi ông đọc xong giấy tờ từ trên gởi xuống để cho vào sổ lưu…

  …Cho đến ngày ông bước ra khỏi cái văn phòng nhỏ bé đó để về làm phi đoàn trưởng phi đoàn Thái Dương 530, quy tụ những anh hùng hào kiệt từ các nơi đổ về, hợp cùng với phi đoàn quan sát Black Cat của Thiếu Tá Võ Công Minh, các phi đoàn trực thăng Lạc Long của Thiếu Tá Lê Văn Bút, và Sơn Dương do Thiếu Tá Vĩnh Quốc làm Phi Đoàn Trưởng, cùng các  đơn vị kỹ thuật của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Sung, tạo nên cái sườn cho Không Đoàn 72 Chiến Thuật, dưới quyền chỉ huy của chiến lược gia lỗi lạc của KQ là Trung Tá Nguyễn Văn Bá, mà chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, Không Đoàn tân lập này đã vươn mình như Phù Đổng,  lập được nhiều thành tích đáng kể, và đã góp phần vào cuộc chiến thắng lẫy lừng  của toàn quân vào mùa Hè năm 72…

…Ông làm Phi Đoàn trưởng PĐ Thái Dương 530 chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, rồi lên làm Liên Đoàn Trưởng LĐ72 Tác Chiến thay Tr/Tá Trang được thuyên chuyển về Nha Trang. Ít lâu sau, tôi cũng rời phi đoàn để lên phòng Huấn Luyện KĐ, thay thế Th/Tá Hưng đi làm sĩ quan liên lạc trực thăng bên Hoa Kỳ. Tuy ở phòng huấn luyện nhưng tôi vẫn thường xuyên về PĐ bay cùng anh em… Trong khoảng thời gian này, khi bay những phi vụ hành quân, chúng tôi đã nhiều lần phát giác ra dấu vết của những con đường mòn do địch quân khai phá xuyên qua vùng núi đồi trùng điệp của miền Tây Nguyên. Có những đoạn rộng thênh thang đủ cho xe tăng và molotova của địch di chuyển. Những phi tuần trưởng có uy tín của phi đoàn như Nguyễn Văn Huynh, Phạm Văn Thặng, Vũ Công Hiệp, Bạch Diễn Sơn, Hoàng Mạnh Dzũng, Nguyễn Hoàng Mai, Lê Thuận Lợi, Vũ Văn Thanh đã nhiều lần viết những bản báo cáo tỷ mỷ gởi lên ông và Trung Tá Bá để trình lên thượng cấp, nhưng không lần nào thấy hồi âm…

Riêng chỉ có ông và ông «Bá Chủ» là những người chia sẻ ưu tư cùng chúng tôi. Ông tỏ ý lo ngại không biết đất nước này rồi sẽ đi về đâu… Ông lo ngại cho những người lính trẻ đầy nhiệt tình và lòng qủa cảm, sẵn sàng hy sinh cho đại cuộc,  đang bị buộc chân, cột tay, dấn thân vào một cuộc chiến không có lối thoát… Ông tâm sự với chứng tôi là chúng ta cần phải làm một cái gì đó để thoát ra khỏi tình trạng này, dành lại quyền làm chủ chiến trường, để sớm đem lại cuộc sống thanh bình cho đất nước. Nếu không thì cuối cùng chúng ta sẽ phải lãnh một hậu qủa vô cùng thảm khốc… Câu nói này đã để lại trong tôi những ray rứt suốt cả cuộc đời… Và cũng vì câu nói này mà định mệnh đã đẩy tôi cùng Phạm Văn Thặng, Trần Kim Long, Trần Văn Phúc, và Trần Cao Chánh bên BĐQ vào một khúc ngoặt của lịch sử…

..Vào khoảng cuối mùa Xuân năm 1971, Trung Tá Khoa, sếp cũ của tôi hồi ở BĐ83, bất thần bay lên Pleiku để gặp Trung Tá Bá và ông. Không ai biết được chi tiết về cuộc gặp gỡ bí mật của những con người coi núi Thái Sơn nhẹ như chiếc lông hồng này. Buổi trưa hôm đó tôi được gọi lên trình diện ông và Trung Tá Bá để nhận lệnh thành lập một phi đội đặc biệt. Tôi trình ông một danh sách 4 người gồm có tôi cùng Phạm Văn Thặng, Trần Kim Long và Trần Văn Phúc, để ông làm SVL di chuyển.

Sáng hôm sau ông đưa chúng tôi ra tận chỗ chiếc trực thăng đang quay máy chờ. Ông nắm chặt tay tôi nói qua cánh gió của cánh quạt quay vù vù trên đầu: «Toi»  cùng anh em về trong ấy gặp anh Khoa, công việc chưa biết ra sao, nhưng ở ngoài này «Moi» và ông Bá chủ sẽ phải gồng mình chờ đợi…» Nghe ông nói tôi lặng người đi như vừa chạm phải dòng điện… nhìn vào mắt ông, tôi thấy trong tận cùng sâu thẳm nơi đáy mắt của ông, như đang bốc lên ánh men say của khúc «Tống Biệt Hành.» Chúng tôi nhẩy lên phi cơ, chiếc trực thăng bốc mình khỏi mặt đất, quay một vòng như để chào tiễn biệt, rồi chúi mũi lao về phía trước.

Ngồi trên phi cơ nhìn xuống, tôi thấy dáng ông nghiêng ngả trên sân bay, giơ tay vẫy… Tôi thấy lòng mình trùng xuống, qua tiếng quạt gió của phi cơ, tôi nghe như có tiếng gầm thét vọng về từ một dòng sông định mệnh…

…Nhưng ý trời chưa thuận chiều theo lòng người nên mọi chuyện đã không thành. Sau một thời gian nằm chờ tại Tân Sơn Nhất, chúng tôi lại trở về đơn vị cũ. Lúc đi không có rượu Bồ Đào, chén Dạ Quang đưa tiễn; lúc về cũng âm thầm như cơn gió thoảng, không để lại  dấu vết gì, mà chỉ để lại cái âm hưởng hào hùng của tráng sĩ qua những vần thơ: «Một nhát dao bay ngàn thủa đẹp – Dù sai hay trúng cũng là dư.» (3)

o O o

Sau mùa Hè năm 1972, khi Đại Tá Bá đổi về vùng 4 làm Chỉ Huy Trưởng căn cứ 40 chiến thuật, thì ông được điều lên làm Không Đoàn Trưởng KĐ/72/CT. Cùng quãng thời gian này, Sư Đoàn 6KQ được thành lập, dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phạm Ngọc Sang. Tôi được cử làm Tham Mưu Phó Chương Trình Kế Koạch của SĐ… Hai năm trước đó, cũng là do cái «Duyên» đưa đẩy khiến cho tôi được gặp ông và ông «Bá Chủ» trong một hoàn cảnh đặc biệt. Bây giờ thì cái «Duyên» đó đã hết, tất cả lại bung ra như mây như mưa bay khắp bốn phương trời…

Với ông thì cái «Duyên» đưa ông đến ngồi ở văn phòng Tâm Lý Chiến nơi đèo heo hút gió, đến một Phi Đoàn Trưởng Khu Trục, rồi Liên Đoàn Trưởng LĐ72/Tác Chiến, tới một Không Đoàn Trưởng KĐ72/CT lừng danh vùng trời biên trấn cũng đã hết.  Ông lại ung dung cùng gia đình ngất ngưởng ngồi trên chiếc xe đò xọc xạch,  từ PleiKu xuyên qua Quốc Lộ 19, đánh một vòng ngao du sơn thủy, đắm mình vào với khung cảnh kỳ tú của non xanh, nước biếc, nhuộm thắm tâm hồn người nghệ sĩ. Rồi qua đèo đổ dốc xuôi Nam về miền biển, ngày ngày chăm lo cho những cánh chim non, đào tạo cho Không Lực VNCH những phi công ưu tú trẻ tuổi, để sau này tung vào cuộc chiến.

o O o

Tháng Tư năm 75, lịch sử lại một lần sang trang. Câu nói của ông ngày nào như một lời tiên tri nay đã ứng nghiệm. Cuộc đời ông lại rẽ vào một khúc ngoặt nghiệt ngã của cuộc bể dâu… Sau mười năm bầm dập trong chốn lao tù, ông bước ra khỏi nơi cá chậu chim lồng, trở về với nhân thế. Ông đã lặng người trước sự phá sản đến tột cùng của quê hương, và của những mảnh đời bất hạnh. Sóng gió ầm ầm nổi lên cùng những câu hỏi quay cuồng trong đầu… Than vãn ư? Có cần thiết lắm không khi quanh ông đầy những tiếng oán than. Trách móc ư? Trách cái gì và trách ai đây khi tất cả mọi người đang ngụp lặn trong cơn ba đào của cuộc sống. Nhưng đó là cái phong độ hào sảng của một chinh nhân trong ông. Nó không cho phép ông làm những chuyện thường tình đó. Thái Dương 530, căn cứ Cù Hanh, Pleiku 1972

Thế còn là một thi nhân thì sao? Có lẽ nào ông không có những cảm xúc, rung động gì sao? Có lẽ nào ông không cảm được hồn của người pha trà đã rót hết tâm tình của mình vào ly trà hội ngộ mừng ông trở về đó hay sao? Và ông đã ngửa cổ uống cạn ly trà tri kỷ, uống cạn cả những ân tình đọng trong đáy mắt của người pha trà. Ông đã trở về như người về trong cõi thơ và nhạc:

“Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Từ kiếp nào xưa tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm» (4)

Chỉ có thế thôi, và cũng chỉ mới có ngần ấy thôi mà cũng đã đủ làm những giọt nước mắt của người pha trà ràn rụa tuôn ra như dòng suối tưới lên những héo úa, mỏi mòn của người bạn đời sau bao năm chờ đợi… Rồi như một kẻ sĩ bất phùng thời, ông lại ung dung hòa mình vào với dòng đời xuôi chảy, sắn tay vén ống thu dọn những đổ nát của xã hội nhân quần:

Ta về dạy dỗ đàn con trẻ
Đạo lý vuông tròn của tổ tiên
Tu bổ ngôi đền thờ Quốc Tổ
Vun bồi công đức thủa Hùng Vương.

Ta về lợp mái nhà loang lổ
Sửa bức tường nghiêng đắp lại nền
Cuốc xới khu vườn hoang phế cũ
Cho mầm hạt giống mới vươn lên.

Ta về lật quãng thời gian cũ
Đếm bước ngày xưa phủ bụi đường
Ai có vì ta mang hệ lụy
Cúi đầu ta nhận hết đau thương.

Ta về gây lại nong tầm cũ
Dệt nốt cho em tấm lụa vàng
se kết đường tơ còn dang dở
Cho nàng áo mới đón Xuân sang.

Cũng kể từ đó, ông bắt đầu xây dựng lại cuộc sống cho gia đình. Ông dậy con cái rất nghiêm minh, để sau này chúng trở thành những người hữu ích cho nhân quần, xã hội. Ông luôn luôn giữ cho mình cái tiết tháo của một kẻ sĩ. Rồi ông lại ung dung cất bước đi cho trọn quãng đường trần… Suốt cuộc đời ông trong cuộc sống, ông đã trải qua biết bao nhiêu những thăng trầm, chìm nổi… Từ một chinh nhân và thi nhân bồng bềnh theo cơn gió bụi, tới một tha nhân đắm chìm trong cõi vô thường. Cho đến những ngày tháng cuối cùng nơi trần thế, nằm trên giường bệnh, chịu đựng sự hành hạ đau đớn đến tột cùng của thân xác, như để trả cái nghiệp của “Nhân Duyên” do “Vô minh và Hành” gây ra. Gột rửa hết những “tạp niệm” tích lũy từ vô lượng kiếp. Buông xả  những cái “chấp” do “Ái Thủ Hữu” bám vào. Ông để lộ ra cái “Tâm” thanh khiết và trong suốt của một hành gỉa đã “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” mà bước ra khỏi vòng «Sanh, Lão tử»… Rồi tìm về một dòng sông tĩnh lặng… nơi có con thuyền vượt bến mê, con thuyền «Bát Nhã» đưa ông qua bờ, về cõi vĩnh hằng cao diệu vợi. (Mùa Xuân năm Giáp Ngọ)

Chú thích

(1) Chinh Phụ Ngâm
(2) (3) Thơ Vũ Hoàng Chuơng
(4) Thơ Tô Thùy Yên   

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s