Phạm Đức Nhì – Bài thơ “ Hai Người Lính “

(Họ là hai người lính ở hai bên chiến tuyến. Một người là bộ đội miền Bắc, người kia là lính thủy quân lục chiến của miền Nam. Cả hai cùng đóng quân tại vùng ranh giới Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, Quảng Trị.

Trong một buổi chiều tạm yên tiếng súng, họ cùng choàng vai nhau chụp chung một bức hình kỷ niệm.

Khoảnh khắc này được ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), ghi lại vào thời điểm tháng 4-1973. Hơn 40 năm sau, tác giả bức ảnh đã cất công đi tìm lại nhân vật của mình…)

HAI NGƯỜI LÍNH

(không biết tên tác giả)

Tôi với anh
hai mái đầu xanh
xanh như màu quân phục…
làng tôi sông Hồng nước đục
quê anh Vàm Cỏ lở bồi
mẹ nhớ tôi, hết đứng, lại ngồi
má mong anh, vào nhà, ra ngõ

Tôi đã ngỏ lời
vào một đêm trăng tỏ
trước lúc lên đường
ba lô anh
có kỷ vật người thương
đêm giở ngắm
trên đường hành tiến

Người này nói
anh đi bảo vệ quốc gia
người kia bảo
tôi vào nam cứu nước
tôi và anh
có bao giờ tính suy mất được
cho bản thân mình, cho mẹ, cho em
chỉ nghe kèn trống nổi lên
người hối thúc
đưa ta vào chiến trận

Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ
nước quê anh cá chết dạt bờ
người con gái quê anh, quê tôi
héo hắt đợi chờ
mình mê mải
với giấc mơ Bạo Chúa

Tôi và anh
hai mái đầu còn xanh
xanh như màu quân phục
Nào…!
hãy khoác vai nhau
ta cùng chúc phúc

Để tôi về ngoài ấy đắp đê
nước Vàm Cỏ
cũng đang gọi anh về
cùng cày cấy
nuôi mẹ già anh nhé

Mê muội qua rồi
chia tay trên lối rẽ
gửi cho nhau
lời xin lỗi muộn màng
một cánh mai tươi
một nén hương vàng
ta về
tặng những người đồng đội
ta bá vai nhau
để những người kia xóa tội
dưới suối vàng
Họ…!
chắc cũng đã ôm nhau…!

Hai người lính không vũ khí đứng sát vai nhau, hưởng cái cảm giác yên bình, không còn đì đùng tiếng súng. Giữa 2 chiếc áo màu xanh không có làn ranh quốc – cộng. Chỉ có 2 khuôn mặt trẻ, 2 đứa con yêu của mẹ Việt Nam. Hai khuôn mặt tuy có chút phong sương (người lính TQLC ở miền Nam có vẻ “dày dạn” hơn) nhưng trông rất hiền, rất lính mà lại rất người, đã tạo cảm hứng để thi sĩ viết lên bài thơ chắc sẽ làm rung động nhiều trái tim ở cả 2 miền nam bắc.

Trước bài thơ dạt dào cảm xúc, thấm đẫm tình người này tôi muốn ngồi thật nghiêm trang, không nghiêng bên này, ngả bên kia để thưởng thức cái hay, cái đẹp của từng chữ từng câu và chia sẻ sự chiêm nghiệm của mình với độc giả.

TỨ THƠ CŨNG LÀ Ý

Anh bộ đội miền Bắc tâm sự với người lính miền Nam về viễn ảnh hòa bình trên quê hương sau ngày Hiệp Định Paris có hiệu lực, chấm dứt cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa Nam Bắc Việt Nam.

Tấm hình của hai người lính đã giúp cho tứ thơ “hiện thực” hơn, dễ “bắt” hơn và nhờ thế bài thơ sinh động hơn nhiều.

GIẢI THÍCH VÀ DIỄN DịCH

Vì ngôn ngữ thơ rất dân dã, giản dị và rõ ràng, người đọc có thể hiểu ngay từ cái liếc mắt đầu tiên nên tôi xin bỏ qua phần giải thích diễn dịch để đi thẳng vào phần phân tích và nhận định nghệ thuật.

PHÂN TÍCH VÀ NHẬN ĐỊNH NGHỆ THUẬT

Hình thức:

Bài thơ có hình thức khá mới. Vẫn còn phảng phất mùi Thơ Mới nhưng đã có nhiều thay đổi để loại bỏ những khuyết điểm của loại thơ này.

  • Số chữ trong câu: câu ngắn nhất 3 chữ, câu nhiều nhất 11 chữ. Ở khoảng giữa, từ câu 4 chữ cho đến câu 10 chữ, loại nào cũng được sử dụng. Có thể nói tác giả đã sắp xếp, thay đổi câu chữ hoàn toàn thoải mái và tùy hứng.
  • Vần: bài thơ có vần; vần gieo liên tiếp. Do số chữ trong câu thay đổi với biên độ rộng nên hội chứng nhàm chán vần, cái giọng ầu ơ của thơ mới gần như biến mất. Hơn nữa, có đến 3 chỗ bắt đầu đoạn mới tác giả đã “thoát vận” nên bài thơ có vị ngọt rất vừa phải đủ để đưa tứ thơ nhẹ nhàng trôi nhưng hoàn toàn không gây cảm giác nhàm chán cho người đọc.

Bài thơ đã rất thành công về mặt hình thức.

Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ thơ dân dã, đơn giản dễ hiểu. Tuy nhiên, có lẽ chưa sống và tiếp xúc với người miền nam nhiều nên đôi lúc anh nói về người lính miền nam nhưng lời lẽ lại rất đậm mùi “bắc kỳ”:

mẹ nhớ tôi hết đứng, lại ngồi

má mong anh vào nhà, ra ngõ

và:

ba lô anh

có kỷ vật người thương

đêm giở ngắm trên đường hành tiến

Cảm xúc:

Ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ lúc tôi, lúc anh, lúc Nam, lúc Bắc rất gần gũi và dễ cảm;  người đọc hiểu và chấp nhận ngay. Cảm xúc từ tứ thơ toát ra nhẹ nhàng nhưng cũng đủ để chảy thành dòng. Lần theo tứ thơ người đọc có thể cảm nhận trực tiếp tâm tình của tác giả mà hầu như không phải ngừng lại để lý trí làm công việc kiểm chứng.

Hồn Thơ

Ưu điểm lớn nhất của Hai Người Lính khiến tôi (và vài người bạn thường trao đổi chuyện văn chương) vấn vương với nó, yêu thích nó ngay từ lần gặp mặt đầu tiên là chất thơ, hồn thơ của nó. (Tôi không dùng từ cảm xúc vì theo tôi, thơ có đến 3 tầng cảm xúc mà chất thơ, hồn thơ ngự ở tầng cao nhất, sang trọng nhất.) Bình thường, với những bài thơ có hồn, tứ thơ phải chuyển động một lúc khá lâu thì hồn thơ mới “nhập”. Có khi phải gần đến cuối bài hồn thơ mới bất ngờ xuất hiện. Nếu bài thơ dài thì hồn thơ có khi nhập, lúc xuất chứ không liên tục. Hồn thơ của Hai Người Lính chính là cái giọng (không phải lời) hồi hộp, háo hức, sung sướng trước cái hạnh phúc lớn lao tự nhiên đổ ập xuống người mình. Cái hơi nóng của cảm giác háo hức tỏa ra ngay từ những câu thơ đầu tiên và vẫn giữ được nhiệt độ lúc ban đầu ấy cho đến câu thơ cuối cùng.

KẾT LUẬN

Để kết luận, tôi kính cẩn xin phép cố thi sĩ Huy Cận được mượn ý 2 câu kết bài thơ Ngậm Ngùi để diễn tả trái sầu và ước mơ của hai người lính.

Lúc ấy trái sầu chiến tranh đang trĩu nặng trên cổ mỗi người dân Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Với 2 người lính trong ảnh thì trái sầu ấy to và nặng hơn nhiều bởi họ trực tiếp gánh chịu gian lao và đối đầu với sống chết.

Và đây là 2 câu thơ của Huy Cận (được sửa chữa chút đỉnh):

Chúng ta hãy khoác vai nhau

Để cùng nghe nặng trái sầu rụng rơi.

Ước mơ của họ – được giã từ vũ khí trở về với cuộc sống thanh bình – hơn ai hết, đang cháy bỏng trong lòng.

Nhưng buồn cho 2 người lính và buồn cho dân tộc Việt Nam. Giây phút trái sầu rụng rơi quá ngắn ngủi, chỉ như một thoáng mơ qua. Bừng tỉnh dậy sau cái thoáng mơ ngắn ngủi ấy (27/01/1973), trái sầu vẫn trĩu nặng trên cổ mỗi chúng ta và trên cổ mẹ Việt Nam yêu dấu.

Texas 05/2015

PHẠM ĐỨC NHÌ

nhidpham@gmail.com

Nguồn http://t-van.net/?p=22182

This entry was posted in Tản Mạn, Văn Nghệ Kaki. Bookmark the permalink.

8 Responses to Phạm Đức Nhì – Bài thơ “ Hai Người Lính “

  1. dai vy says:

    Bài thơ này, người cầm súng hai bên không ai chấp nhận:
    Một bên bảo vệ quốc gia,
    Một bên vào Nam cứu nước.
    Hai ý này đã “chỏi”, và điều này ai cũng thấy rỏ.

  2. Bài thơ thật vô lý.
    Một bên bảo vệ quốc gia, một bên vào Nam cứu nước.
    Hai chiến tuyến khác nhau không thể đứng chung
    chụp ảnh được.

    • nguyen thi cu lan says:

      tại sao không vậy bạn???? họ đều là người việt nam, con hồng cháu lạc
      suy nghỉ của bạn quá viển dông…!!! hay suy nghỉ cho kỉ trước khi phát biểu,
      tấm hình nầy theo tôi rất ý nghĩa….

  3. minhhieu854 says:

    Kính thưa quý anh chị em. Sau ngày ký HĐParis 27-1-1973 vào những ngày đầu thì sự gặp gỡ giữa những người lính ở hai bên chiến tuyến khác nhau cũng thường xảy ra. Cá nhân chúng tôi lúc đó là đại đội trưởng ĐĐ4/52BĐQ cũng đã gặp gỡ ông Cao chính trị viên tiểu đoàn của Việt cộng vài lần, khoảng cách ranh giới giữa hai đơn vị đối đầu không quá 100 mét nên có nhiều việc phức tạp cần phải giải quyết nếu không sẽ xảy đến nổ súng. Tấm hình chụp được giữa hai người lính cũng chẳng có gì hệ trọng vào thời gian này.

  4. Cung anh Minh-Hieu.
    Cai ly cua anh dua ra thoat tien nghe rat vung. Nhung xem xet lai thi toi thay khong vung
    chut nao.
    Thoi gian hiep dinh Paris co hieu luc, don vi toi dang hanh quan khu vuc Tam-Quan toi
    deo Binh De. Don vi toi va phia bo doi ben kja khong he co giay phut than thien nao. CAC
    don vi khac cung khong hon gi. Neu co quan he em ai than mat, chac chan chi trong vong thang
    3/1973 ma thoi.
    Tam hinh nay ghi ngay chup la thang 4/ 1973 cho nen 2 phia doi dich chup chung hinh la rat vo ly.
    Xin thong cam.

  5. Anh Vu says:

    Anh Trần hoài Trung nói rất có lý. Sau ngưng bắn, nếu đôi bên có lên hệ xả giao thì sự liên hệ
    này chỉ đôi ba ngày. Chắc các anh không biết, tháng 2/1973 Trung-Úy BĐQ Trần-Thi-Vân đang
    giốc toàn lực đánh để chiếm lại Sa-Huỳnh, Quảng-Ngải cho VNCH. Và anh đã thành công.
    Tháng 4/73, hai địch thủ đứng chụp hình chung, thật là chuyện tếu.

  6. Van Hoa says:

    hiệp đinhParis được ký kết là ngày 27/1 1973 . Tôi nhớ ngày có hiệu lực chĩ sau ngày
    đó một hai ngày ( ngày 28/1 ? ).
    Tháng 3/ 1973, trung úy BĐQ Trần-Thi-Vân đã dùng toàn lực dánh trận Sa-Huỳnh, phía Nam Quảng-Ngải, sát với đèo Bính Đê, để lấy lại phần đất cho VNCH. TRUNG ÚY Vân đã thành
    công trận này.
    Tháng 3 năm đó, hai bên đã đánh nhau trời long đất lở, thế mà tháng 4 lính và bộ đội 2 bên
    lại thân mật chụp hình chung.Tiếu lâm quá phải không hở hai bạn :Nguyen thi Cu lan và
    Minh-Hiếu 854

  7. dai vy says:

    Chào tất ca các anh em.
    Tôi thấy tấm hình này thật vô lý.
    Tháng 3/ 1973 đơn vị của tôi hành wuân vùng Phù-Mỹ
    đánh nhau với bộ đội VC tưng bừng. Chính tôi bị thương
    khá nặng vào khoảng đầu tháng 3/ 1973.
    Tấm hình thân mật này giửa hai phe thật là tiếu lâm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s