Bửu Thức – Những tháng ngày đen tối

Nguồn http://hung-viet.org

Trận chiến Khe Sanh – Tết Mậu Thân 1968 – Mùa hè đỏ lửa 1972 – Hiệp Định Paris 1973 – Mùa Xuân 30.4.1975

 Trận chiến Khe Sanh xẩy ra vào đầu năm 1968, mười ngày trước cuộc “tổng tấn công” đồng loạt ở Miền Nam Việt Nam. Cộng quân tự hào rêu rao trận đánh Khe Sanh là đòn nghi binh có mục đích thu hút và cầm chân lực lượng cơ động của quân đội Mỹ, hầu để lực lượng còn lại của chúng đánh chiếm toàn bộ các tỉnh thành miền Nam. Nhưng sự việc có xẩy ra như mong ước của cộng quân hay không? Xin thưa là không!

Qua nghiên cứu và theo suy nghĩ của tôi về những sự kiện xẩy ra vào thời điểm đó thì những mong ước của cộng quân đều tan thành mây khói. Cuộc tổng nổi dậy của cộng quân đã bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa đánh cho tan tác, một số lớn bỏ mạng tại chỗ, phần còn lại phải chạy trốn vào mật khu kể cả các mật khu thiết lập trên lãnh thổ Campuchia và do Sihanouk bảo trợ. Trong cuộc phản công để loại trừ quân cộng sản ra khỏi các tỉnh thành miền Nam, quân đội Mỹ chỉ tham dự các trận đánh ở Sài Gòn và Huế mà thôi. Thành thử ở mặt trận Khe sanh quân Mỹ mà thành phần chính là Thủy quân lục chiến Mỹ vẫn được tiếp tế vũ khí đạn dược lương thực đầy đủ và quân số luôn luôn được bổ sung mặc dù căn cứ bị địch vây hãm pháo kích liên tục suốt ngày đêm làm tổn thất khá nặng. Ban đầu rất có thể theo ý của cộng quân Khe sanh chỉ là điểm, còn cuộc tổng nổi dậy mới là diện. Nhưng sau thất bại của tổng nổi dậy, cộng quân đã đổi Khe sanh thành diện để mong biến Khe sanh trở thành một Điện biên phủ thứ hai hầu che lấp thất bại đắng cay của cuộc tổng nổi dậy. Sau 77 ngày bị vây hãm, với những trận mưa pháo liên tục, cộng quân vẫn nghĩ rằng quân Mỹ không thể nào chịu đựng nỗi và thắng lợi sẽ thuộc về họ. Nhưng căn cứ vẫn đứng vững. Quân Mỹ vẫn chờ đợi một cuộc tấn công cuối cùng bằng bộ binh của địch quân, nhưng đã không thấy xẩy ra. Quân dù Mỹ thuộc sư đoàn 1 Không kỵ đã từ ngoài tiến đánh giải vây Khe sanh và đã vào bắt taycác đồng đội TQLC của mình. Thế là căn cứ đã được giải toả. Cộng quân đã rút lui. Có lẽ vì bị tổn thất lực lượng quá nặng cần phải bổ sung để thực hiện các bước phiêu lưu “thí mạng” mới nhưng trong lúc nầy thì quả thật là “lực bất tòng tâm” nên đành phải thực hiện phương án “chém vè.”

Cứ điểm Khe sanh ở cách Quảng trị 63 km về phía Tây gần sát biên giới Việt-Lào. Muốn đến Khe sanh, phải đi theo đường 9 Nam Lào đến huyện Hương Hoá, rồi từ đó qua đèo Lao Bảo đi qua A Sao, A Lưới để đến Khe sanh. Với cuộc hành quân Lam Sơn 719, tôi đã có đi qua Lao Bảo, A Sao, A Lưới rồi đóng quân ở Khe sanh. Đây là vùng có nhiều đồi và núi thấp. Đất đỏ Bazan rất thích hợp cho việc trồng cà phê. Khi đơn vị đến đây tôi thấy các ngọn đồi phủ kín một màu xanh của cây cà phê. Có những cây đã có nhiều trái chín đỏ trông thật hấp dẫn. Thật ra đơn vị quân y của tôi lúc đầu theo bộ chỉ huy Lữ Đoàn I Kỵ Binh đến đóng quân trước tại Làng Vei, một cao điểm chiến lược cách Khe sanh 9 cây số. Phía trước mặt và bên tay trái của tôi là dãy Trường sơn hùng vĩ. Địch quân đã áp dụng câu “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” để ẩn núp. Dù ta có áp dụng “thế hỏa công” để đốt cháy Trường sơn cũng không thể thực hiện được.

Như tôi đã nói, trận chiến Khe sanh thật ác liệt. Cộng quân đã dùng pháo tầm xa, pháo tầm gần, cối 82 ly, tên lửa Kathíua dội bão lửa lên căn cứ, nhưng căn cứ vẫn đứng vững. Đấy là nhờ sự can thiệp có hiệu quả của lực lượng Không quân chiến thuật Mỹ và của các pháo đài bay chiến lược B52 rải thảm ở Khe sanh vọng về. Chiến tranh thật khốc liệt. Địch quân với quân số đến 20.000 bao vây một căn cứ có 6000 lính Mỹ và pháo 300 quả đạn trong một ngày (có lúc lên đến 1000 quả một ngày) trong suốt thời gian dài cả mấy tháng vẫn không chiếm được căn cứ. Địch bảo là nghi binh, là những quyết định của “đỉnh cao trí tuệ.” Thật là nói phét! Rõ ràng địch đã mất “cả chì lẫn chài,” nghĩa là thua luôn cuộc tấn công nổi dậy Tết Mậu thân và trận chiến Khe sanh.

Ông Hồ chí Minh vào thời kỳ 1965-67 đã già và yếu. Nếu tính theo tuổi khai báo thì lúc này ông cũng đã 76-77 tuổi. Tôi nói theo tuổi khai báo là vì Cộng sản thường có hai, ba lý lịch và có rất nhiều bí danh để dễ bề che dấu và ẩn núp. Hồ chí Minh cũng đã có ba, bốn bí danh. Con cái của họ cũng dấu mặt xoá bỏ tung tích bằng nhiều hình thức để đánh lận con đen, đánh lừa bàn dân thiên hạ. Hồ chí Minh già và yếu là vì hút thuốc quá nhiều nên bị viêm phổi mãn tính là cái chắc (bronchite chronique) rồi thì bệnh tiến triển nặng thêm với suy hô hấp mãn tính (insuffisance respiratoire chronique ) rồi thì lâu ngày thì phải đến giai đoạn cuối  cùng là Tâm phế mãn (Coeur pulmonaire chronique). Thành thử Ông Hồ vẫn hằng mong ước làm sao phải sớm đánh chiếm miền Nam trước khi ông chết. Ông thường nói: “Miền Nam trong trái tim tôi” là kích thích tinh thần chiến đấu của cán binh miền Bắc trước khi mở ra cuộc Tổng tấn công nổi dậy. Chúng ta phải nhận thấy đây là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với cộng quân. Đích thân Hồ chí Minh đã làm ra bài thơ giả bộ chúc Tết đồng bào miền Nam qua làn sóng điện của đài phát thanh, nhưng đó là tín hiệu tiến hành cuộc “Tổng tấn công nổi dậy toàn miền Nam.” Chúc Xuân đâu không thấy chỉ thấy người dân nằm chết la liệt dưới đạn pháo của cộng quân. Ba ngày Tết đã biến thành những ngày tang tóc. Cộng sản thật tàn ác. “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm.” Thật là một câu nói đầy ý nghĩa. Những ai còn mơ tưởng ở cộng sản hãy nhớ đến câu nói nầy và hãy mở con mắt ra.

Thế là hết! “Tiêu tán thoòn”! Canh bạc “Tổng tấn công nổi dậy” đã bị cháy túi. Cũng như trận chiến Khe sanh đã bị tiêu “đen”. Cộng quân gần đây có tổ chức những cuộc nói chuyện về trận Khe sanh. Sau một hồi nói vòng vo tam quốc các tướng tá và một nhà sử học của cộng sản kết luận: Mỹ rút quân ở Khe sanh là Mỹ đã thua. Đâu phải giản dị như vậy. Đâu phải như hai với hai là bốn. Phân tích, mổ xẻ một vấn đề, một sự kiện thì phải nhìn ở mọi khía cạnh, phải xem xét các yếu tố khách quan và chủ quan rồi mới đánh giá chính xác được. Làm việc như kiểu “mẹ hát con khen” thì thật là buồn cười. Cộng quân với quân số đông gấp ba, gấp bốn lần, với đủ loại đạn pháo và tên lửa trút xuống như mưa vào căn cứ liên tục ngày đêm kéo dài hàng tháng mà vẫn không dành được thắng lợi, thì làm sao mà tự cho mình thắng cuộc? Có lúc tôi tự hỏi: phải chăng là địch quân áp dụng “đòn gió”, giả vờ tấn công tiêu diệt căn cứ hoặc giả vờ bao vây căn cứ để tiêu diệt lực lượng tiếp viện của Mỹ một hình thức như “công đồn đả viện.” Nhưng xin thưa là không. Cộng quân không nghĩ đến phương án này. Vì phi pháo của lực lượng Mỹ đã tỏ ra rất có hiệu quả. Trước mặt cộng quân là hỏa lực của không quân chiến thuật. Sau lưng cộng quân là B.52 rải thảm. Cuối cùng chịu không nỗi phải rút lui, chỉ để lại một ít đơn vị ở phía tây và phía bắc căn cứ mà thôi. Điều này được chứng minh rõ ràng khi quân Mỹ từ hướng Đông tiến vào giải tỏa căn cứ đã không gặp phải một kháng cự nào đáng kể (Cộng quân không dám bao vây phía đông căn cứ vì sợ phi pháo đánh vào hai sườn và sau lưng của chúng.)

Phải đợi đến hơn ba năm sau Tết Mậu Thân và sau trận chiến Khe sanh cộng quân mới hồi phục, mới chỉnh đốn hàng ngũ để mở các mặt trận mới từ Đông Hà, Quảng Trị, đến Pleiku, Kontum, và Bình Long, An Lộc. Tôi nhận thấy cộng quân đã hiểu rằng ngoài lợi thế về quân số còn phải có nhiều vũ khí tối tân có tầm sát thương rộng lớn mới có thể giành được thắng lợi qua các trận đánh lớn với quân VNCH, cho nên kể từ thất bại Mậu thân và Khe sanh, cộng quân đã được trang bị đến tận răng do Nga- Tàu viện trợ.

Rồi đến mùa Hè đỏ lửa 72 (Mùa hè đỏ lửa là đầu đề của tác phẩm do nhà văn quân đội VNCH Phan Nhật Nam viết về những trận đánh lịch sử hào hùng của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân cộng sản.)

Vào mùa hè năm nầy, trận chiến xảy ra khắp nơi. Lúc đó tôi đang làm việc ở Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế. Như đã nói trước đây, thương binh được chuyển về liên tục bằng trực thăng ngày cũng như đêm. Phòng mổ lúc nào cũng rộn rịp, hoạt động 24/24. Các đồng nghiệp và tôi thay nhau mổ liên tục. Các toán gây mê và các toán phụ mổ làm việc không ngừng nghỉ. Thương binh nào vừa được mổ xong là được chuyển ngay qua phòng hậu phẫu để có phòng trống nhận thương binh khác. Sau khi viết tiến trình giải phẫu (protocole operatoire) của ca mình vừa mổ xong, thì lại tức thì thay áo mới, thay găng tay mới để vào mổ ca kế tiếp. Và cứ thế, chúng tôi tiếp tục công việc cho đến sáng hôm sau mới bàn giao cho toán trực mới. Thương binh đa số được chuyển về từ mặt trận phía tây Huế, một số ít thì từ Quảng Trị.

Dân chúng ở Huế hoang mang vì tình hình quân sự trở nên căng thẳng, khi nghe tin các căn cứ, các cao điểm gần Huế bị đánh phá và có nhiều thương vong. Nhưng sự kiện quan trọng hơn cả là Cộng quân mở ra ba mặt trận cùng một lúc: mặt trận Trị Thiên, mặt trận Bắc Tây Nguyên, và mặt trận Đông nam bộ (Bình Long, Bình Phước). Ban đầu địch dự tính mặt trận Đông nam bộ là chính yếu vì để gây tiếng vang ảnh hưởng đến Sài Gòn, nhưng sau đổi lại mặt trận Trị thiên là chính yếu. Vì Địch quân nghĩ đến vấn đề tiếp tế nhân lực, lương thực, vũ khí, đạn dươc… được thuận lợi hơn vì sau lưng còn có sự hỗ trợ của hậu phương miền Bắc. Hơn thế nữa, Mỹ cũng đang rút quân. Đến đầu năm 1972, lực lượng Mỹ chỉ còn có 95.000 quân (quân số cao nhất của Mỹ là 500.000), và Mỹ đã có kế hoạch “Việt Nam hoá chiến tranh.” Đó là những điều thuận lợi cho cộng quân khi đánh chiếm các tỉnh thành miền Nam hầu có lợi thế lúc ngồi vào bàn hội nghị.

Ngày 30/3/72 địch quân bắt đầu nổ súng ở mặt trận Trị Thiên. Sau ba ngày đánh phá ác liệt, địch quân đã chiếm đuợc một số cơ sở trong tỉnh Quảng Trị. Địch quân cũng vượt qua sông Bến Hải tấn công căn cứ Ái Tử và thị trấn Đông Hà. Quân Đội VNCH phải rút lui về cố thủ ở bờ nam sông Thạch Hãn. Tình hình chiến sự rất căng thẳng. Tôi nhớ Ba tôi có nói với tôi rằng: Bên mình bị thất bại nặng nề như vậy mà Ông Tướng Lãm bảo là không sao, quân ta vững như bàn thạch.” Đúng là một vị tướng bất tài (Sau đó Tướng Ngô Quang Trưởng phải đến thay thế).

Đầu tháng năm địch quân chiếm Cổ thành và thị xã Quảng Trị. Dân chúng chạy tán loạn theo quốc lộ 1 để vào Huế thì bị cộng quân nã đạn pháo tiếp theo giết chết nhiều thường dân, ông già, bà già, đàn bà, trẻ nhỏ… Đoạn đường này đã được gọi là “Đại lộ kinh hoàng” (cộng quân không dám đề cập đến). Quân VNCH được sự yểm trợ của phi cơ và pháo binh kể cả pháo đài bay B52 đã tái chiếm thị xã Quảng Trị và Cổ Thành sau 84 ngày chiến đấu ác liệt. Địch quân đã bị thiệt hại nặng nề, phải rút về bờ bắc sông Mỹ Chánh.

Về mặt trận Bắc Tây Nguyên: Địch quân cũng bắt đầu tung quân đánh phá mãnh liệt từ ngày 30/3/72 vào cùng thời điểm với mặt trận Trị Thiên nhằm mục đích phân chia lực lượng, không thể ứng cứu cho nhau được. Trong đợt tấn công đầu tiên địch quân đã đánh phá 5 tiền đồn của quân đội VNCH ở phía tây sông Poko thuộc tỉnh Kontum. Sau đó địch tấn công cứ điểm Charlie ở cao điểm 1049 do TQLC VNCH trấn giữ. Cứ điểm thất thủ, vì chỉ huy Trung Tá Nguyễn Đình Bảo bị tử thương. Từ ngày 3 đến ngày 13 tháng 5, địch tấn công thị xã Kontum. Con đường 14 bị địch quân cắt đứt, mọi di chuyển, tiếp tế cho Kontum đều phải thực hiện bằng không vận do trực thăng Chinôk đảm trách. Khoảng ba tuần lễ sau đó, quân VNCH được tăng viện và đêm 24 rạng sáng 25 tháng 5/72 đã tái chiếm thị xã Kontum. Cộng quân tự nhận thấy không còn đủ khả năng đánh đấm nữa vì một phần bị tiêu hao sinh mạng một phần vì khó khăn trong tiếp tế súng ống đạn dược và lương thực cho nên cộng quân chỉ chiếm giữ Dakto và Tân cảnh mà thôi. Đây cũng là lúc nhạc phẩm “Người ở lại Charlie” và “Anh không chết đâu Anh” do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác ra đời để ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của người lính VNCH đã vẽ nên những thiên hùng ca.

Mặt trận Đông nam bộ (Bình Long, Bình Phước) cũng vào khoảng thời gian của hai mặt trận kia. An Lộc (tỉnh lỵ của Bình Long) là điểm quan trọng của địch quân. An Lộc trước đây có tên là Hớn Quản, là môt vùng có rừng cao su bạt ngàn và là một tỉnh lỵ giàu có. Chiếm được An Lộc thì uy hiếp được Bình Dương (tỉnh lỵ của Thủ Dầu Một) và đường về tới Sài Gòn thì đã rộng mở. Thế cho nên địch quân muốn đánh phủ đầu thị trấn An Lôc ngay từ buổi đầu tiên với mưa pháo đủ các loại đổ ập đến thật bất ngờ, song An Lộc vẫn không bị thất thủ. Địch tăng cường độ pháo kích, có ngày có đến 8000 quả đạn pháo rớt xuống trên một diện tích chỉ có vài cây số vuông. Rồi với chiến thuật “tiền pháo hậu xung”, địch cho bộ binh tháp tùng xe tăng T54, PT76, để tiến chiếm thị xã. Nhưng các chiến sĩ VNCH còn lại đã cương quyết chiến đấu đến cùng. Chỉ huy trưởng của đơn vị đồn trú là ChuẩnTướng Lê Văn Hưng đã dùng súng chống tăng M72 bắn hạ những chiếc đi đầu đang định xâm nhập phòng tuyến. Sự kiện này đã làm lên tinh thần chiến đấu của chiến sĩ và mọi người đã cùng nhau bắn hạ những chiếc tăng còn lại. Sau 68 ngày bị vây hãm, An Lôc vẫn đứng vững và được Biệt Kích Dù đến giải tỏa. Đây là một trận chiến lớn với thắng lợi vẻ vang của quân dân miền Nam.

Mùa hè đỏ lửa hay là Chiến dịch Xuân Hè 72 (theo như cộng quân gọi) đã trải dài từ vùng hỏa tuyến cho đến vùng Đông Nam Bộ có Chiến khu D và Chiến khu Dương Minh Châu hỗ trợ phía sau. Bà Nguyễn thị Bình tuyên bố An Lộc sẽ là thủ đô của Chính Phủ Cách Mạng Lâm thời MNVN. Nhưng dù cho cộng quân đã xử dụng đến 40.000 quân với hàng đoàn xe tăng và một hỏa lực pháo binh có độ hủy diệt rất lớn chưa từng thấy cũng không chiếm được An Lộc như mong muốn. Trong khi đó, ở mặt trận Trị Thiên cộng quân chiếm được tỉnh Quảng Trị. Điều này đã làm cho địch quân thay đổi chiến lược là biến Trị Thiên thành mục tiêu chính yếu. Tuy rằng cộng quân đã dốc toàn bộ thực lực vào các trận chiến, kết quả thu được vẫn rất nhỏ nhoi. Họ đã tỏ ra mỏi mệt, vì vẫn không có kẻ thắng người bại. Lúc này là lúc cần phải ngồi vào đàm phán. Đó là lý do Hiệp Định Paris được mở lại.

Qua nhiều lần đàm phán gay go, có lúc Mỹ phải dùng không quân chiến lược B52 oanh tạc Hà Nội, phong tỏa các cảng biển, các cửa sông bằng mìn, thủy lôi, để gây áp lực tại bàn hội nghị. Cuối cùng Hiệp Định Paris được ký kết giữa bốn bên là Mỹ, Cộng sản Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ bù nhìn lâm thời miền nam Việt Nam, tại Paris vào ngày 27/1/73. Tổng Thống VNCH thời đó là Ông Nguyễn Văn Thiệu đã không chấp nhận một số điểm rất bất lợi cho VNCH, nhưng Mỹ cũng mặc kệ. Mỹ đã toàn quyền quyết định. Ngày 29/3/73 Mỹ rút toàn bộ lực lượng còn lại ra khỏi Việt Nam.

Sau khi Hiệp Định Paris nhằm chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, hai nhà thương thuyết Henri Kissinger và Lê Đức Thọ (CS Bắc Việt) cùng được trao giải Nobel Hòa Bình. Ban tổ chức trao giải Nobel Hòa Bình đã chơi “xỏ lá” Cộng Sản Bắc Việt Nam. Cộng sản đã biết điều này nên không đi nhận giải vì chủ trương của họ là gieo rắc chiến tranh, dùng chiến tranh để cướp lấy chính quyền. Họ đâu có mong muốn hòa bình. Thành thử đi nhận giải thì ăn làm sao, nói làm sao bây giờ!

Theo Hiệp Định Paris thì có một điều khoản thật bất lợi cho VNCH là quân Cộng sản Bắc Việt Nam được quyền ở lại miền nam Việt nam. Một hình thức ngừng bắn theo kiểu “da beo,” thì chả khác nào phải ở chung với một ổ rắn độc trong nhà, không biết rắn độc sẽ cắn chết mình lúc nào! Đấy, người bạn Mỹ của chúng ta là thế đấy, đến lúc vì quyền lợi của họ bị đe dọa thì họ bỏ rơi chúng ta một cách không thương tiếc. Theo tôi suy nghĩ thì chỉ việc Mỹ yểm trợ cho VNCH bằng phi pháo thôi thì quân đội VNCH, với tinh thần chiến đấu anh dũng sẵn có, thừa sức để đánh trả lại mọi mưu toan của cộng quân. Những trận đánh lớn trước đây như trận chiến tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, trận chiến giữ vững An Lộc trong suốt 68 ngày đã nói lên điều đó.

Nhưng người bạn Đồng Minh Hoa Kỳ đã không “fair play” chút nào cả, đã đi đêm với Cộng sản và đã bán đứng miền Nam cho Cộng sản. Thật là đắng cay! Và chuyện gì sẽ xảy ra đã xảy ra: Cộng quân vi phạm Hiệp Định ngừng bắn, xua quân đánh chiếm Phước Long, Cao nguyên và Nam Trung Phần.

Những ngày trong tháng 3/75 tình hình ở Huế yên tĩnh lạ thường. Các sinh hoạt của thành phố hình như muốn dừng lại. Phố xá cũng thưa người qua lại. Nét mặt người nào cũng đầy âu lo. Chợ Đông Ba cũng mất đi vẻ ồn ào náo nhiệt của mọi khi. Các cô gái trông coi các cửa hàng vải dùm cho mẹ, thường ngày vui vẻ bao nhiêu, thì nay cũng không cười nói gì nhiều. Chắc các cô cũng âu lo cho viễn ảnh tương lai của đất nước và của chính mình?

Tôi cũng vậy. Trong lòng cảm thấy buồn vô cùng vì tình hình chiến sự không mấy khả quan. Đi làm về là theo dõi tin tức chiến sự trên radio. Ăn cơm tối xong là chui vào hầm để nằm nghỉ, đề phòng bị pháo kích vì địch quân đang ở gần thành phố. Anh Chị tôi thì đã vào Sài Gòn từ sau Tết Mậu Thân. Chỉ còn Ba tôi và tôi ở nhà. Tôi cũng để cho vợ tôi vào Sài Gòn trước, vì nàng đang bụng mang dạ chửa mà chạy giặc thì khó khăn lắm. Các bạn bè quen biết của tôi thường mỗi chiều sau giờ làm việc hẹn nhau đến Câu lạc bộ thể thao để chơi quần vợt, bây giờ cũng vắng bóng. Sân banh chỉ còn lèo tèo vài người đến chơi mà thôi.

Quân y viện Nguyễn Tri Phương đóng trong đồn Mang Cá bên cạnh Tiểu Khu Thừa Thiên. Trong những ngày này, cộng quân pháo kích vào Tiểu Khu và vào Bịnh Viện làm cho tình hình trở nên bất ổn. Điều đó có nghĩa là cộng quân đang tiến đến gần. Rồi tin tức chiến sự ở Phước Long. Rồi tin về một sự rút lui chiến thuật được loan ra lại càng làm cho tình hình thêm tồi tệ. Quân Y Viện được chuyển sang Bệnh Viện Trung Ương Huế để tránh pháo kích. Tôi nhận thấy mọi việc chắc không xong rồi. Dân chúng hoang mang vô cùng. Thế cho nên dân chúng đã lần lượt rời bỏ Huế theo Quốc lộ 1 để chạy vào Đà Nẵng. Đó là vào những ngày 23/3/75 hay 24/3/75 nếu tôi không nhớ lầm. Binh lính cũng bỏ hàng ngũ về nhà đưa vợ con và gia đình đi vào Đà Nẵng. Thôi thì mạnh ai nấy làm. Trong 36 chước thì chước “dĩ đào vi thượng sách” là hay nhất, giống như phương án “chém vè” của cộng quân thường áp dụng! Rồi lâu lâu địch quân lại rót vài quả đạn pháo vào thành phố để đánh đòn tâm lý!

Bây giờ đến lượt tôi cũng “chém vè.” Mọi người đều ra đi. Bao năm qua những việc làm của cộng sản ở miền nam đã làm cho mọi người phải khiếp sợ, nào là thủ tiêu, ám sát, chôn sống tập thể người dân… Mỗi giai đoạn của lịch sử đất nước đều để lại những dấu ấn đau thương do cộng quân gây ra. Từ những năm 1939-1945 đến 1954 rồi đến 1975 và cả đến bây giờ nữa sau 38 năm nắm chánh quyền đội lốt “xã hội chủ nghĩa.” Đây cũng là giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử giữ nước và dựng nước của người dân Việt Nam chúng ta.

Ba tôi đã già và đã nghỉ hưu từ lâu. Ba tôi không đi, chỉ có một mình tôi ra đi mà thôi. Tôi sắp xếp công việc nhà và lên đường sau đó. Lúc này quốc lộ 1 tràn ngập người và xe cộ. Tôi không chọn hướng này mà chọn hướng ra biển theo tỉnh lộ đến cửa biển Thuận An. Đường đi không đông vì không có người đi bộ, chỉ có xe cơ giới. Tôi lên đường với chiếc xe Honda và lao đi vun vút vì trời đã về chiều. Nếu chậm trễ trời tối gặp phải du kích thì phiền lắm. Đến nơi thì trời đã nhá nhem, nhưng còn phải đi đò máy qua một đoạn sông nước nữa mới tới bãi biển. Đến nơi may mắn thay đã có một chiếc tàu Hải quân đậu sẵn để đón những quân nhân di tản theo đường biển. Tôi vội vàng lội xuống nước và mau chóng bám lấy tấm lưới thả xuống bên hông tàu để leo lên tàu với sự trợ giúp của binh sĩ Hải quân.

Thế là hết! Là chấm dứt những ngày tháng sống êm đềm nơi quê hương của mình đầy ắp những kỷ niệm của một thời hoa mộng. Từ đây mình phải xa rời giòng sông Hương với biết bao nhung nhớ khôn nguôi. Giòng sông như nguồn sữa hiền của Mẹ đã nuôi nấng khôn lớn biết bao đàn con. Từ giã Huế thương yêu với một tâm tư nặng trĩu trong lòng và tôi đã bật khóc khi nghĩ về một vận nước nổi trôi và những chuỗi ngày đen tối, đang và sắp xảy ra cho đất nước.

Bửu Thức

This entry was posted in Hồi ký chiến trường. Bookmark the permalink.

2 Responses to Bửu Thức – Những tháng ngày đen tối

  1. Pingback: QLVNCH: Bửu Thức – Những tháng ngày đen tối | CHÂU XUÂN NGUYỄN

  2. Anh Vu says:

    Đúng vậy, khi Mỹ phủi tay, bầu trời miền Nam bắt đâu đen tối.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s