Lê Chánh Thiêm – Trận Hải Chiến Midway

I. Dẫn nhập.

Thế chiến thứ hai xảy ra chỉ trong vòng 6 năm nhưng đã để lại cho nhân loại nhiều thiệt hại đáng kể trên nhiều lĩnh vực. Ngoài sự tàn phá về vật chất và chết chóc, thế chiến này còn sinh ra chủ nghĩa Cộng sản, một thảm họa khôn lường và những di hại to lớn của nó vẫn còn đến ngày nay, nhân dân nhiều nước đang còn phải gánh chịu biết bao thảm trạng, hơn 80 triệu dân Việt Nam là điển hình. Nếu chỉ kể về quân-sự, so với thế chiến thứ nhất, các trận chiến xảy ra giữa hai bên ác liệt hơn, quy-mô hơn, cho nên con số thiệt hại cũng to lớn gấp bội. Những trận đánh nẩy lửa đã được ghi vào quân sử; các chiến-lược, chiến-thuật rất khác so với trước; buộc các chiến-lược-gia phải thay đổi chiến-thuật, chiến-lược, đường lối “điều binh khiển tướng”… cho các cuộc chiến sau nầy cũng như sáng-chế quân-cụ sao cho phù-hợp với chiến trường. Riêng về hải chiến, từ vùng biển Bắc Âu đến Thái Bình Dương (TBD), đã có nhiều trận nổi tiếng xảy ra, có trận mang tính “quyết định chiến trường” mà đề tài đang bàn đến là một: trận hải chiến quần đảo san hô Midway ở Thái Bình Dương.

Sau khi đã làm chủ một số chiến-trường ở châu Âu, Bắc Phi và một số nơi khác, các chiến lược gia quân sự và chính phủ của khối Trục quan-niệm rằng muốn thắng trận, khối Trục phải đánh bại Mỹ. Phần Nhật chịu trách nhiệm chiến-trường châu Á, ngoài lục-địa rộng lớn còn có đại dương mênh-mông, đang có Hải-quân Mỹ hiện-diện. Nếu muốn chiến-thắng, Nhật phải đánh bại Hải-quân Mỹ mà Hạm-đội TBD là lực-lượng nòng cốt của Hải-quân Hoa-Kỳ tại khu-vực nầy, Nhật cần phải tiêu diệt. Do vậy, các chiến-lược gia quân-sự Nhật một mặt ráo-riết nghiên-cứu chiến lược, mặt khác theo-dõi mọi hoạt động của Hải-quân Mỹ. Trong ý đồ “tiên hạ thủ vi cường”, họ quyết-định phải ra tay trước: sau khi tập kích thành công vào Trân Châu Cảng (TCC), Nhật “cần phải trừ khử” sự hiện-diện của quân-đội Mỹ tại châu Á với việc làm tiên quyết là đánh chiếm căn cứ Mỹ ở Midway.

II. Vị-trí của Midway và tầm quan trọng của trận chiến.

Sau khi bất ngờ tấn công vào Trân Châu Cảng cũng như chiếm được nhiều vùng đất thuộc địa ở châu Á từ tay Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…, giới lãnh-đạo quân-sự Nhật quyết định tiêu-diệt Hải quân Mỹ tại Midway để hoàn-tất ý-đồ thôn-tính toàn cõi Á châu. Trận hải chiến Midway thường được nhắc đến do tầm mức quan-trọng, trận chiến mang tính một mất một còn, theo đúng kế-hoạch chiến-tranh của hai bên và nhất là đã chôn vùi không biết bao nhiêu sinh mạng do tham-vọng điên-cuồng của đế-quốc Nhật mà thiệt hại nằm về phía họ. Trận Midway đã làm nhụt nhuệ khí của quân Nhật nói riêng, của phe Trục nói chung để rồi sau đó chiến tranh kết thúc, cứu vớt nhân loại thoát khỏi vòng binh đao.

Hải chiến Midway là trận chiến thứ nhì trong 6 trận “hải chiến hàng không mẫu hạm” trong thế chiến hai. Đầu tiên là trận chiến biển Coral, từ ngày 04-5 đến 08-5-1942 giữa Hải quân Nhật với Hải quân Hoa Kỳ và Australia. Trong nỗ lực củng cố phòng thủ Nam TBD, Nhật quyết định chiếm Port Moresby (thuộc New Guinea) và Tulagi (Đông Nam quần đảo Solomon), Nhật gọi là Chiến dịch MO, dưới sự chỉ huy của tướng Shigeyoshi Inoue. Hoa Kỳ đã nắm được kế hoạch của Nhật nhờ nắm được hệ thống tín hiệu tình báo (signals intelligence – chặn và phá mã thông tin của đối phương) nên phái 2 HKMH và các tuần dương hạm, do Đô đốc Frank J. Fletcher chỉ huy để chặn đứng cuộc tấn công của Nhật. Trận thứ ba là trận Đông Solomom (còn gọi là trận Quần đảo Stewart), từ ngày 24-8 đến 25-8-1942 tại phía Bắc Quần đảo Santa Isabel, Solomon. Trận thứ tư là trận Quần đảo Santa Cruz, từ ngày 25-10 đến 27-10-1942 tại Quần đảo Santa Cruz, Solomon. Trận thứ năm là trận biển Philippines (người Mỹ gọi là “The Great Marianas Turkey Shoot, Trận bắn Gà tây vĩ đại ở Quần đảo Marianas”), từ ngày 19-6 đến 20-6-1944 tại biển Philippines do Tướng Raymond A. Spruance chỉ huy, Hạm đội 5 Hải quân Hoa Kỳ quần thảo với gần 60 chiến hạm lớn nhỏ của Nhật. Trận chót là Hải chiến Vịnh Leyte, Philippines, từ 23-10 đến 26-10-1944, diễn ra trong vùng biển Philippines gần các đảo Leyte, Samar và Luzon, còn được gọi là “Trận chiến biển Philippines lần thứ hai”, được coi là trận hải chiến lớn nhất trong Chiến tranh Thế giới thứ II, cũng là trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử Hải chiến thời cận đại.

Sau khi tập-kích vào TCC vào ngày 7-11-1941 gây cho Mỹ nhiều thiệt hại cũng như một số chiến thắng dễ dàng trên vài chiến trường khác tại châu Á, người Nhật tự hào với huyền thoại là “đạo quân bất khả chiến bại”. Với tham vọng “bá chủ châu Á” (trong chính sách “Đại Đông Á”) sau khi tham gia vào khối Trục, Đô Đốc Yamamoto cùng với các giới-chức quân-sự Nhật đã bàn định kế-hoạch tiến chiếm các mục-tiêu quân-sự, đánh đuổi sự hiện-diện của Âu, Mỹ tại Á Châu. Trong ý đồ nầy, đội quân của Nhật do Tướng Yamashita chỉ huy, đã tấn công Tân Gia Ba, nơi quân của tướng Anh là Tomoyuki Yamashita Percival đang trấn giữ, với chiến thuật là “tràn ngập, truy kích và củng cố”. Hàng ngàn binh sĩ Anh tử trận cùng với 2 chiến hạm Prince of Wales và Repulse bị bắn chìm, sau đó buộc tướng Percival phải đầu hàng. Sau khi chiếm Tân Gia Ba, mặt trận Thái Lan cũng rơi vào tay quân Nhật. Theo đà chiến thắng đó, Yamamoto chủ xướng và chỉ huy trận hải chiến Midway, quyết tiêu diệt hải quân Mỹ tại TBD, cắt đứt sự hiện diện hay tiếp vận của hải quân Mỹ tại vùng TBD và một phần Ấn Độ Dương (AĐD).

Khi thế chiến hai chấm dứt, theo nhiều chuyên gia nhận định về hai biến cố nầy, cuộc tập kích vào TCC của Nhật đã “buộc Mỹ phải nhảy vào vòng chiến” và trận hải chiến Midway được cho là trận chiến then chốt mang tính “quyết định chiến trường”, đã “làm cho Nhật bại trận” sau nầy. Cả hai cuộc chiến đều do Nhật chủ động, ra tay trước nhưng đều mang lại hậu quả không thuận lợi cho Nhật. Lần đầu, Nhật đã “đánh thức gã khổng lồ đang ngủ” (awaken a sleeping giant) (1), buộc Mỹ nhảy vào vòng chiến; lần sau, chuốc lấy thảm bại tại chỗ. Căn cứ Midway cách TCC hơn 1.000 hải-lý, nằm giữa hải trình nối châu Mỹ và châu Á, với diện-tích chỉ có 4.7 km2 nhưng là một vị-trí chiến-lược vô cùng quan-trọng, là lá chắn bảo vệ TCC, là một căn-cứ Hải-quân quan-trọng của Hoa-Kỳ, là tiền đồn quan-sát và bảo-vệ hải-trình nối liền hai đại-lục, là chốt bảo vệ hải trình huyết mạch của quân Mỹ.

Người ta thường “nhớ” đến trận tấn công vào TCC hơn là “biết” trận hải chiến Midway vì nhiều lý do. Thứ nhất, trận tấn công bất ngờ của quân Nhật, một đất nước nhỏ, nghèo đánh vào quân đội Mỹ, một nước lớn, giàu mạnh. Thứ nhì, trận TCC là trận có tổn thất rất lớn về nhân mạng và vật chất, những hình ảnh về các tổn thất đập vào mắt mọi người, đã ghi vào tâm khảm họ với những hình ảnh khó phai. Thứ ba là ngoài các mưu tính “liều lĩnh” của giới chỉ huy quân phiệt Nhật cộng với tinh thần chiến đấu cũng như sự tuân theo thượng lệnh của quân đội Nhật cao, đã tạo nên yếu tố bất ngờ, nhất thời đem lại chiến thắng, vì thế được các nước hiếu chiến cho đó là bài học đặc biệt, là tấm gương cho họ bắt chước. Trận đột kích bất ngờ vào TCC của quân Nhật kéo dài 2 giờ với tổn thất ghi nhận khá lớn: phía Mỹ có 188 máy bay bị phá hủy, 155 máy bay hư hại, 2.345 quân nhân và 57 thường dân thiệt mạng, 1.247 quân nhân và 35 thường dân bị thương, 5 thiết giáp hạm, 2 khu trục hạm bị đánh chìm, 3 thiết giáp hạm, 3 tuần dương hạm, 1 khu trục hạm và 3 tàu khác bị hư hại. Về phía Nhật có 4 tàu ngầm bỏ túi bị đánh chìm, 1 tàu ngầm bỏ túi mắc cạn, 29 máy bay bị bắn hạ, 55 phi công và 9 thủy thủ tàu ngầm bị tử thương và 1 bị bắt sống. Tuy nhiên, trận TCC chỉ là một trận chiến được một số nhà quân sự cho là một cuộc “tự sát tập thể” của một đội quân mù quáng hy sinh cho một tham vọng điên cuồng của cấp chỉ huy, một trận đánh lén hơn là theo bài bản, có kế hoạch, công khai, theo lẽ thường, bởi lúc đó, Mỹ đang đứng ngoài vòng chiến, vị Đại sứ Nhật trao tối hậu thơ (ultimatum) khai chiến sau khi phi cơ của họ đã xuất kích tấn công Hải Quân Mỹ. Người Nhật đánh giá sai về quân đội Mỹ: tuy thất bại ở TCC nhưng thực lực của quân đội Mỹ rất đáng kể. Trận hải chiến Midway sau nầy mới cho quân Nhật thấy rằng quân đội Mỹ không dễ bị đánh bại như họ tưởng và giấc mộng bá chủ châu Á của họ khó thành sự thật.

Tưởng cũng cần biết thêm, biến cố Nhật tấn công TCC xảy ra cũng do từ quyết định của tổng thống Mỹ: “Tổng thống Roosevelt ra lệnh tập trung Hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu cảng, thay vì tại bờ biển phía Tây nước Mỹ như trước” (ở các hải cảng: Seattle, Monterey, Oakland, San Francisco, San Diego). Việc thay đổi vị trí đóng quân này khiến người Nhật tưởng rằng Hoa Kỳ đang sửa soạn gây hấn với Nhật. Họ coi việc Mỹ tập trung Hải quân tại quần đảo Hawaii như là “một mũi dao chĩa vào trái tim Nhật” nên việc tấn công TCC bỗng trở thành một “nhiệm vụ cấp thiết” hơn bao giờ hết.

Nhân đây, ta cũng nên xem lại việc dùng từ ngữ “trận chiến” trong biến cố Trân Châu Cảng năm 1941. Cuộc tấn công TCC không thể gọi là một “trận” vì chỉ có phía Nhật bất ngờ tấn công và phía Mỹ không biết trước sẽ bị tấn công. Trước đó, Mỹ và Nhật cũng chưa khai chiến hay là kẻ thù của nhau nên Mỹ không đề phòng. Việc tập kích TCC là chủ trương chính của Yamamoto xuất phát từ sau quyết định của vị tổng thống thuộc đảng Dân Chủ của Mỹ. Yamamoto phái sĩ quan hành quân của mình là Phó Đề đốc Kuroshima đem một lá thơ đến Bộ Tham Mưu Hải quân tại Ðông Kinh trình bày lý do nên đánh TCC, có đoạn viết:

-“Sự hiện diện của hạm đội Mỹ tại Hawaii là một mũi dao găm cắm vào cổ họng chúng ta. Nếu chúng ta chính thức tuyên chiến với Mỹ thì chiến dịch Ðông Nam Á sẽ rất dễ bị (Mỹ) tấn công vào cạnh sườn”.

Tóm lại, hải chiến Midway đều được hai bên cho là quan trọng, một trận chiến then chốt một mất một còn. Phía Nhật cho là đánh Midway thì bắt buộc Mỹ phải cứu viện, khi đó, Nhật sẽ chặn đánh quân cứu viện, như vậy, chỉ cần một trận mà Nhật có thể tiêu diệt toàn bộ quân Mỹ tại Thái Bình Dương. Phía Mỹ thì cho là Midway là tiền đồn của Mỹ, vị trí có thể kiểm soát hải trình từ chính quốc để tiếp tế cho các căn cứ Mỹ ở châu Á cũng như liên lạc với Úc châu, bảo vệ và tăng cường các cánh quân đồng Minh tại Á châu, vì thế phải bảo vệ đến cùng. Do vậy, hai bên chuẩn bị kỹ càng với bao nhiêu tính toán, cân nhắc và theo dõi địch thủ sát nút.

USS midway 2

HKMH USS Midway CVB-41 năm 1975 khi yểm trợ cho VNCH để di tản người Việt tỵ nạn Cộng Sản.

III. Sơ-lược về hai vị chỉ-huy.

Trận hải chiến Midway được chỉ huy bởi hai danh tướng của hai nước. Phía Nhật là Đô Đốc Isoroku Yamamoto, Tư-lệnh Hạm đội Liên hợp Nhật, một trong ba tên trùm đầu-sỏ quân sự của Phát-xít Nhật. Hải quân Hoa-Kỳ được chỉ huy bởi Đô-Đốc Chester William Nimitz, một danh tướng Hải quân Mỹ, người được nhiều chuyên gia quân sự gọi là “kỵ-sĩ trên biển-cả”. Chúng ta chỉ lướt sơ lược cá nhân 2 vị chỉ huy và đi sâu vào chủ đề là trận hải chiến Midway.

1. Đô-Đốc Isoroku Yamamoto.

Yamamoto ok

Isoroku Sadayoshi (Cao Dã Ngũ Thập Lục) là tên chào đời của Đô Đốc Isoroku Yamamoto (Sơn Bản Ngũ Thập Lục), sinh tại làng Kushigun Sonshomura, thuộc quận Niigata trên đảo Hokaido, Nhật. Ông là con của ông Takano Sadayoshi {Cao Dã Trinh Cát, một samurai cấp thấp của Hội Samurai Nhật, đồng thời giữ chức giáo học cho phiên chủ phiên Nagaoka} và bà Mineko, con gái một trại chủ nuôi bò sữa. Ngày 4-4-1884, ông Takano Sadayoshi đang ngồi chơi cờ với một người bạn thì một đứa con của ông chạy đến báo tin vợ đang đau đẻ, cần một cô đỡ. Ông Sadayoshi sai đứa con đi tìm cô đỡ, vẫn tiếp tục chơi cờ bởi lúc đó ông đã già rồi và đứa con sắp sinh là đứa con thứ bảy nên ông không hào hứng về chuyện có thêm con nầy cho lắm. Khi bà vợ bảo ông đặt tên cho con, ông nói: “Năm nay ta đã 56 tuổi rồi, hãy gọi nó là Năm-Mươi-Sáu” (tiếng Nhật, Isoroku có nghĩa là 56).

Lớn lên, Isoroku Yamamoto ghi danh vào Học viện Hải-quân Nhật tại Etajima, Hiroshima vào năm 1901, tốt nghiệp vào năm 1904 với cấp-bậc Thiếu-úy dự-bị Hải-quân. Năm sau, ông tham-dự trong cuộc hải chiến Nga – Nhật. Trong trận nầy ông bị mất 2 ngón tay trên bàn tay trái. Từ năm 1919 đến năm 1921, ông theo học tại Harvard University, Hoa-Kỳ. Từ 1926 đến 1928, ông là Tùy viên Hải Quân tại tòa Đại sứ Nhật ở Washington DC. Trong những thời gian ở Hoa-Kỳ, ông bỏ nhiều thì giờ chu du khắp nước Mỹ với mục-đích tìm hiểu Hoa Kỳ nhiều hơn để cần dùng mai sau.

Năm 1937, Yamamoto điều động phi-cơ Nhật ném bom tàn-phá Nam-Kinh, Thượng-Hải (Trung Hoa). Năm 1939, ông được chỉ định làm Tư-Lệnh Tập Hợp Hải-quân Hoàng-Gia Nhật. Trong nhiệm vụ nầy, ông chủ trương và nghiên cứu chiến-lược để năm 1941, quân Nhật tập kích thành-công vào căn cứ Hải quân Mỹ ở TCC. Với tham vọng làm bá chủ châu Á trong chính sách “Đại Đông Á”, Yamamoto cùng với các giới-chức quân-sự cùng chính-phủ Nhật đã hoạch định kế-hoạch tấn chiếm các mục-tiêu quân-sự, đánh đuổi sự hiện-diện của Âu, Mỹ tại Á Châu. Trong ý đồ nầy, Yamamoto chủ xướng và chỉ huy trận Midway năm 1942 nhưng đã chuốc lấy thảm bại ê chề để rồi năm sau, ông bị đối phương sát hại. Vào ngày 18-4, trong một cuộc thị-sát Guadalcanal, phía Bắc quần đảo Salomon, Đô-Đốc Yamamoto bị phi-cơ Mỹ phục-kích bắn hạ, ông bị tử thương, kéo theo nhiều sự thảm bại liên tiếp để rồi nước Nhật phải đầu hàng vô điều kiện sau đó với quân đội đồng minh.

Về chức vụ, Yamamoto từng là Tư-lệnh hạm đội I, rồi Tổng chỉ-huy quân-đội Nhật tại Đông-Dương (1940), giữ chức vụ cao nhất trong Hải quân Hoàng-Gia Nhật. Ông còn đóng góp trong việc thiết-kế các kiểu mẫu để chế-tạo HKMH cho Hải quân Nhật. Ông được Nhật-Hoàng Hirohito tặng huân-chương “Húc nhật trùng quang” (ánh sáng mặt trời mọc), một huy-chương cao quý nhất của Hoàng-gia Nhật.

2. Đô-Đốc Chester William Nimitz.
(Xem chi tiết trong bài: ĐÔ ĐỐC CHESTER W. NIMITZ, “KỴ SĨ TRÊN BIỂN CẢ”)

Nimitz.1942

Đô-Đốc Chester W. Nimitz sinh ngày 24-2-1885 tại Fredericksburg, Texas; được chính phủ Mỹ cử làm “Tư-Lệnh Hạm Đội TBD” sau vụ Nhật tập kích vào TCC. Ông tuyên thệ nhậm chức vào ngày 31-12-1941. Nimitz tốt nghiệp hạng thứ 7 trong 114 khóa sinh tại Học viện Hải-quân ở Annapolis vào năm 1905. Sơ lược về thăng cấp trong Hải quân Mỹ: Nimitz được gắn Hải Quân Thiếu-úy (Ensign) ngày 7-01-1907; không mang cấp Trung-úy (Lieutenant Junior Grade), vì được đặc cách mang Đại-úy (Lieutenant) ngày 31-01-1910, được gắn cấp Thiếu Tá (Lieutenant Commander) vào 29-8-1916, thăng cấp Trung Tá (Commander) ngày 01-02-1918, mang cấp Đại-tá (Captain) ngày 02-6-1927, không mang Phó Đề Đốc {Rear Admiral (lower half), 1 sao)} do được đặc cách lên Đề Đốc {Rear Admiral (upper half), 2 sao} ngày 23-6-1938, không mang Phó Đô Đốc (Vice Admiral, 3 sao) do được thăng cấp đặc cách lên Đô Đốc (Admiral, 4 sao) ngày 31-12-1941; mang Thủy sư Đô Đốc (Fleet Admiral, 5 sao) vào ngày 19-12-1944 sau khi được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn theo luật định (2). Ông mãn phần ngày 20-2-1966 tại San Francisco, được an táng tại Golden-Gate National Cemetry, gần thành phố San Francisco, California.

Trong quân ngũ, ông được thượng cấp từ quân-đội đến chính quyền tin tưởng, đến độ sau vụ TCC, Tổng-Thống Franklin Roosevelt gởi đến Bộ trưởng Bộ Hải Quân Mỹ là Frank Knox chỉ thị như sau:

-“Ra lệnh cho Nimitz đến Trân Châu Cảng và ở đó cho đến khi chiến thắng” (Tell Nimitz to get the hell to Pearl Harbor and stay there until the war is won).

Trước khi lên đường đáo nhậm, Đô-Đốc Chester W. Nimitz còn nhận một mệnh lệnh nặng nề mà không dễ thực hiện từ Bộ trưởng Bộ Hải-quân Frank Knox:

-“Bảo-vệ an-toàn cho nước Mỹ, bảo-vệ hải trình từ Mỹ đi Hawaii, đến Midway, đến Australia, ngăn chận quân Nhật mở rộng hoạt động ở TBD và khôi phục ý-chí đã bị lung lay của Hạm đội TBD”.

IV. Các cuộc chiến khởi đầu trước trận Midway.

Là một sĩ-quan ưu-tú, nhiều năng-lực khác thường cùng với tính táo bạo, Nimitz đã có những thành-tích đáng kể trong suốt đời quân-ngũ. Những ý niệm về chỉ-huy, chiến thuật, chiến-lược trong ông sớm manh-nha khi cuộc chiến bùng nổ. Ông đã có những dự định về điều-binh, khiển tướng… trong ước mơ nếu được thượng cấp tin tưởng và giao cho ông chức vụ quan-trọng. Chiến trường TBD là nơi để ông thực-thi hoài-bão của mình, được một số nhà quân-sự cho là “con kình-ngư được dịp vùng-vẫy trong biển xanh”. Trước trận Midway, Nimitz đã tung ra những đòn bất ngờ xuống quân đội Nhật và thu được thắng lợi.

1. Tấn-công quân Nhật trên quần đảo Marshall.

Trận chiến “ra mắt” và cũng là trận chiến mở màn cho chiến-dịch Midway trong chức vụ mới là cuộc tấn công vào các căn cứ Nhật trên quần đảo Marshall. Nghiên-cứu tình-hình cùng những tin-tức tình-báo nhận được, Đô Đốc Nimitz đi đến một quyết-định táo-bạo. Sớm ngày 1-2-1942, ông ra lệnh cho 37 phóng-pháo-cơ, 6 máy bay chiến-đấu xuất-phát từ Hàng-không Mẫu-hạm (HKMH) Yorktown cùng với 9 phi-cơ phóng ngư-lôi trực chỉ mục-tiêu là quần-đảo Marshall và Gilbert do quân Nhật chiếm đóng trước đó. Đây là cuộc chiến xem như có một bên: chỉ có quân Mỹ tấn công, quân Nhật chỉ đỡ đòn do hoàn-toàn không đề phòng vì tưởng rằng Hải quân Mỹ đã “hoàn toàn kiệt quệ sau trận TCC”. Chiến thắng nầy của Hải quân Mỹ, ngoài việc được phát đi trên hệ thống truyền thanh trên nước Mỹ còn được phát ra toàn thế giới, đã làm nức lòng dân chúng Mỹ, vực lại tinh thần cho quân đội Mỹ sau “nỗi nhục TCC”, đem lại niềm tin tưởng vào quân đội Mỹ cho các nước đồng minh.

2. Oanh kích các căn cứ trên đất Nhật.

Vào cuối tháng Hai năm 1942, thêm một hành-động táo bạo khác, Đô Đốc Nimitz lại cho Không quân của Hải quân Mỹ tập-kích các căn-cứ Nhật trên đảo Oake và Manlan. Quân Nhật đồn trú tại đó đang ngủ say vì không ngờ rằng quân Mỹ dám đánh vào các đảo gần đất Nhật như vậy nên đã lơ-là việc phòng-thủ. Các căn-cứ trên đảo nầy trở thành biển lửa, quân trú phòng làm mồi cho bom đạn Mỹ. Phi-cơ Mỹ vùng-vẫy trên bầu trời, hoàn thành nhiệm-vụ mà không gặp sức kháng-cự nào, không bị thiệt hại nào đáng kể.

3. Oanh tạc Tokyo.

Trận chiến thứ ba cũng là một hành-động táo-bạo khác khi Nimitz “dám” cho phi-cơ oanh kích Tokyo, trung-tâm đầu não Nhật, nơi chỉ-huy cuộc chiến. Đây là lần đầu tiên phi-cơ Mỹ tấn-công vào lãnh-thổ Nhật. Sáng ngày 18-4-1942, Trung-Tá James H. Doolittle dẫn đầu phi-đội North-American B-25B Mitchells gồm 16 chiếc phóng-pháo-cơ B-25, một loại phóng-pháo-cơ hạng trung, cất cánh từ HKMH USS Hornet (3) (cùng với USS Entreprise CVN 65) đang ở cách Tokyo đến 668 hải-lý đang trên đường hướng về đất Nhật, bay đến mục-tiêu. HKMH USS Hornet cùng với HKMH USS Entreprise CVN 65 khi đó đang cùng hoạt động chung một khu vực.


Để đánh lừa, phân-tán sự chú-ý của Nhật, Nimitz ra lệnh ba chiếc trong số 16 phi-cơ đó bay đến 3 thành-phố khác trên đất Nhật là Osaka, Yokohama và Kyoto. 13 chiếc còn lại do Trung-Tá James Doolittle chỉ-huy, trực chỉ Tokyo. Trong sự bất ngờ, các phi-cơ Mỹ đã trúthàng trăm tấn bom đạn xuống “trái tim” của Nhật rồi ung-dung bay đi, tạo nên cú sốc lớn cho quân dân Nhật và sự ngạc-nhiên cho cả thế-giới, gieo nỗi kinh hoàng đầu tiên cho dân chúng Nhật. Đây là “đòn bất ngờ” chưa từng có cho Nhật, cũng là niềm kiêu-hãnh cho quân-đội Mỹ, là tấm gương can-đảm, táo-bạo cho quân-lực các nước dù bạn hay thù. Vì quãng cách quá xa nên các phi cơ thi hành phi vụ này không đủ nhiên liệu để trở về các HKMH Mỹ, một phần do kế hoạch thay đổi vào phút chót từ các tình huống bất ngờ xảy ra so với dự trù nên sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các phi cơ này phải đáp tại nhiều nơi trên đất Tàu. Các phi công, một số được dân Tàu che chở trước sự truy tìm của quân Nhật đang chiếm đóng nước Tàu, một số khác bị bắt và bị quân Nhật trả thù một cách dã man.

4. Tấn công đảo Turachi.

Vào ngày 2-5-1942, Thủy-quân Lục-chiến Nhật đổ bộ lên đảo Turachi mà không gặp kháng cự nào. Hai hôm sau, trong khi quân Nhật đang ăn mừng thắng lợi thì phi-cơ Mỹ xuất phát từ HKMH Yorktown bay đến oanh-kích dữ dội. Quân Nhật bị thiệt-hại nặng-nề: ngoài số đông quân trú phòng thương vong còn có 2 tàu vận tải, 2 tuần-dương-hạm, 1 khu-trục-hạm bị đánh chìm và một số khác bị hư hại nặng.

Sau các cuộc tấn-công chớp nhoáng nói trên vào quân Nhật của Hải-quân Mỹ, các tướng lãnh và các chiến-lược-gia hai bên đã dốc tâm nghiên-cứu chiến-thuật, chiến-lược mới cho phù-hợp với tình thế. Về phía Nhật, Yamamoto và các tướng Nhật ban lệnh cho thuộc cấp theo-dõi, truy-lùng, bám sát các tàu chiến Mỹ. Phía Mỹ cũng thế, Đô Đốc Nimitz cho rằng Nhật chưa bị thiệt hại HKMH nào, phải tìm cách diệt bớt tàu chiến Nhật, đó là các mối nguy cho hạm đội Mỹ. Nimitz chỉ thị 2 HKMH Yorktown và Lexington lặng lẽ theo-dõi hạm-đội Nhật, ngoài việc thu thập tin tức tình báo và thám không qua việc giải mã các tin tức quân Nhật đánh đi và nhận được, sẽ được đề cập đến ở phần sau.

Nh hoang Hirohito 2

Nhật Hoàng Hirohito chào thần dân khi họ đón chào ông.

5. Trận đánh đảo san hô:

Trong khi HKMH Tường-Phong, một trong các HKMH chủ-lực của Nhật đang tuần-tiễu trên biển thì bất ngờ bị phi-cơ Mỹ tấn-công dữ-dội, hạm trưởng ra lệnh cho phi-cơ lên nghênh chiến vì họ không phát giác được phi cơ Mỹ trước đó. Khi đó, 2 HKMH của Mỹ là USS Yorktown và USS Lexington lại xuất hiện và các phi-cơ trên đó bay lên “làm thịt” chiếc Tường-Phong. Sau 20 phút chiến-đấu, HKMH Tường-Phong đã đi vào lòng đại-dương, mang theo tất cả các thủy-thủ Nhật còn đang say men chiến-thắng. Đây là lần đầu, quân Mỹ đánh chìm HKMH đối phương.

Đến đêm đó, khi biết Hải quân Nhật rút lui, Đô-Đốc Nimitz ra lệnh truy-kích. Hai hôm sau, hạm-đội Mỹ và Nhật gặp nhau trên quần-đảo san-hô. Hai hạm đội cách xa nhau mấy trăm hải-lý, cùng biết vị-trí đối phương, các vị chỉ huy tung toàn-bộ lực lượng không quân trên đó chọi nhau trên bầu trời vì hai bên cùng thấy nhau. Đây là trận không chiến ác liệt nhất của hai bên kể từ khi Mỹ tham chiến. Phía Nhật, chiến đấu với tinh thần liều lĩnh, cảm tử; phía Mỹ, với vũ khí tối tân và chiến thuật khá, khả năng tác chiến của phi công cao. Tàn cuộc chiến, thiệt hại được ghi nhận khá lớn cho cả hai bên, bất phân thắng bại.

Trận đánh trên đảo San-hô làm Nhật nản chí, từ bỏ các ý định điên cuồng đã có. Đây cũng là thắng lợi có tính chiến-lược cho Mỹ và đồng-minh, làm các quốc gia thuộc phe Đồng-minh tin-tưởng hơn vào chiến thắng chống khối Trục, nhất là đập tan huyền thoại của dân Phù-tang cho rằng quân Nhật là đội quân “bất khả chiến bại”.

Tuy thành công trong các cuộc tấn-công nói trên nhưng Đô-Đốc Nimitz vẫn biết rằng đó chỉ là những thắng lợi nhỏ, mang tính khích-lệ lòng quân-sĩ hơn là làm nghiêng cán cân hai bên. Thật vậy, lực-lượng Nhật chưa bị thiệt-hại bao nhiêu, vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương… đã lọt vào tay quân Nhật, họ vẫn liên tục mở các trận đánh ở các nơi khác và các tướng lãnh Nhật vẫn còn say men chiến thắng, cảm thấy “chưa vừa lòng” nên Nhật quyết-định mở thêm những mặt trận mới. Đô-Đốc Nimitz còn biết tham-vọng của Nhật là định chiếm quần-đảo Salomon, New Ghiné, uy-hiếp Australia, chờ đợi các biến-chuyển mới để có các kế-hoạch thôn-tính khác sau đó.

V. Diễn-tiến trận Midway.

1. Các ý niệm chiến thuật và các chuẩn bị ban đầu:

Khi chiến-dịch tấn-công quần đảo Marshall đang ở cao điểm thì Đô-Đốc Chester W. Nimitz cũng đã chuẩn bị cho chiến-dịch Midway. Nimitz tin rằng trước sau gì Nhật cũng sẽ tấn-công Midway để làm tê-liệt Hải-quân Mỹ ví đó là vị trí vô cùng quan trọng. Ông quan niệm rằng “nếu để Nhật chiếm Midway thì hải trình phía Đông, tuyến giao-thông sinh tử của Mỹ sẽ bị cắt đứt, việc liên lạc, tiếp tế từ Mỹ đến Hawaii, Midway, Australia… sẽ chấm dứt, Mỹ không còn căn-cứ trú quân để kiểm-soát hải-trình huyết-mạch và quan-trọng, nhất là các hoạt-động của Mỹ sẽ bị Nhật biết được”. Do vậy, ông đã dốc tâm nghiên-cứu chiến-lược hợp lý để áp-dụng ngỏ hầu mang lại chiến-thắng nếu có giao tranh. Ông ra lệnh cho thuộc cấp theo-dõi, ghi nhận, báo cáo… mọi hoạt động của quân Nhật lên thượng cấp cùng với việc chỉ thị cho các chuyên-viên nghiên-cứu tin-tức tình báo, thám không gia tăng hoạt động. Các ghi nhận phải được gởi ngay “bất cứ lúc nào” đến các chuyên gia phân-tích khi họ nhận được, trong mục-tiệu tối hậu: phải chiến-thắng trước quân đội Nhật.

Jap Ad Tojo

      Đô Đốc Tojo, thần tượng của Hải Quân Hoàng Gia Nhật

Về phần Đô Đốc Yamamoto, ông đã vạch ra kế hoạch để đánh chiếm Midway từ lâu. Vào tháng 4-1942, Yamamoto đưa kế-hoạch tác-chiến của mình trình lên thượng cấp ở Đông Kinh nhưng bị bác-bỏ. Thế nhưng sau khi Tokyo bị 13 oanh-tạc cơ Mỹ bỏ bom, Bộ Tham-mưu Nhật bèn chấp-thuận kế-hoạch mà Yamamoto đệ trình trước đó. Hội đồng quân lực Nhật đưa ra “mệnh-lệnh thứ 18” mang tên “Tác-chiến Mihao”: tấn công căn cứ Midway. Kế hoạch dự trù sẽ tấn công vào tháng 6-1942 nhưng dự trù thì được thành hình vào tháng 5-1942.

Thời-gian đó, phía Nhật rất bận rộn với nhiều chỉ thị, mệnh lệnh cho nhiều chiến-trường ở nhiều nơi, các mật lệnh, điện báo được gởi đi, nhận được liên-tục. Trong những mật mã Nhật chuyển đi mà Mỹ bắt được, Nhật dùng nhiều lần ám hiệu “AF”. Hai chữ nầy được các sĩ-quan tình-báo Mỹ tại “đơn vị Mật mã

Hypo” của ĐĐ Nimitz tại TCC nghiên-cứu và dự đoán nó ám chỉ đảo Midway. Jasper Holmes, một sĩ quan trẻ của Hải quân Mỹ nghĩ ra một mưu kế và trình bày cho ban giải mã Hypo để có thể xác định chính xác vị trí của AF mà Nhật thường dùng. Bằng cách sử dụng dây cáp ngầm dưới biển, Holmes yêu cầu các chỉ huy căn cứ Midway gửi qua radio một tin gởi về tổng hành dinh ở TCC nói rằng “nước uống đang cạn ở Midway vì nhà máy lọc nước bị hỏng”. Tin này phải được gửi bằng kiểu mật mã thường mà họ cho rằng người Nhật dễ dàng biết cách giải mã. Ngày 10-5, khi đề nghị này được các sĩ quan tình báo trình lên, Đô Đốc Nimitz chấp-thuận. Các sĩ-quan quân-báo Mỹ bèn ra “đòn nhử” địch: Trưa hôm đó, từ căn-cứ Midway, một điện tín do Mỹ phát đi với nội-dung “Nước uống tại căn cứ Midway đang cạn vì thiết-bị cất lọc nước bị trục-trặc”. Quân Mỹ cố tình dùng mọi cách cho quân Nhật nhận được một cách dễ-dàng điện báo nầy. Thế là phía Nhật đã mắc mưu, cá đã ăn câu: hai ngày sau, thám-không của Mỹ thu được một điện-báo của Nhật đã mã hóa bằng JN-25 (4): “AF gặp phải những vấn đề về nước ngọt, lực lượng tấn công phải sắp sẵn kế hoạch về vấn đề này”. Điện báo nầy cho thấy chắc-chắn rằng “AF” là mật danh của đảo Midway. Từ đó, Đô Đốc Nimitz biết rõ ý đồ của Yamamoto: “Midway đã trở thành mục-tiêu của Nhật”, trước sau gì Nhật cũng sẽ tấn-công Midway.

Tưởng cũng cần biết thêm, ngoài đơn vị mật mã Hypo của ĐĐ Nimitz còn có “OP-20-G” là đơn vị mật mã riêng của Đô Đốc Ernest King, thượng cấp của Nimitz tại Washington D.C. Trong vụ nầy, OP-20-Glại lại đoán “AF” là quần đảo Aleut (ở tiểu bang Alaska) nhưng ĐĐ Nimitz lại tin vào dự đoán của thuộc cấp và nhận định của chính ông. Và ông đã không lầm.

Jap ImperialJaNavy

Logo của Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản (Imperial Japanese Navy).

Thời gian lưu trú trên đất Mỹ và sau bao nghiên cứu về quân đội Mỹ cùng chiến trường châu Á, Đô Đốc Yamamoto ý thức rằng muốn thắng Mỹ ở châu Á, quân Nhật phải dựa vào ưu-thế của Hải quân và Không quân với các phi-đội cảm-tử “Thần-Phong”, đánh vào các hạm đội Mỹ. Theo nhận định, Yamamoto cho rằng: “Chỉ cần tấn-công vào Midway là Mỹ phải dốc toàn bộ lực lượng để bảo-vệ nơi nầy. Nếu như Mỹ tăng viện, Nhật sẽ dốc toàn lực để tiêu diệt lực-lượng Mỹ”. Và nếu như vậy, chỉ cần một trận là Nhật có thể tiêu diệt hoàn toàn Hạm đội TBD của Mỹ mà hạm-đội TBD là linh-hồn của Hải-quân Mỹ.

Thật ra, Yamamoto hiểu rất nhiều về Mỹ. Ông từng theo học tại Đại học Harvard, từng là Tùy-viên Hải-quân của sứ-quán Nhật tại Washington D.C., trong lòng ông không bao giờ quên câu nói của Thủ-Tướng Anh, Sir. Winston Churchill:

-“Nước Mỹ là một cái nồi súp-de (5) cỡ bự, chỉ cần đốt lửa ở dưới, nó sẽ sinh ra một năng-lượng khổng-lồ”.

Tuy nhiên, sau khi tấn-công TCC, ông đã phát-biểu một cách lo-lắng:

-“Tôi e rằng những gì chúng ta đã làm đã đánh thức gã khổng lồ đang ngủ và làm cho hắn có những quyết định khủng khiếp” (I fear all we have done is to awaken a sleeping giant and fill him with a terrible resolved).

Dầu vậy, sau chiến-thắng TCC cũng như các chiến thắng của quân Đức tại các mặt trận Âu Châu, Phi châu… và của quân Nhật tại nhiều mặt trận ở Châu Á, ông ta tin rằng chỉ cần một trận Midway nữa là Hải-quân Mỹ sẽ kiệt quệ, khó có thể phục-hồi, mà nếu có phục-hồi thì cũng rất lâu. Yamamoto cho rằng khi quân Mỹ bị tổn thất nặng, chiến trường châu Á mặc sức cho quân đội Nhật tung-hoành, làm mưa làm gió.

Từ tham vọng điên rồ đó, Yamamoto quyết-định tung vào trận Midway một lực-lương hùng-hậu chưa từng có: 8 HKMH trong đó có 4 chiếc Xích-Thành, Gia-Hạ, Phi-Long, Thương-Long (Hiryu, Kaga, Soryu, Akagi) là những HKMH nổi tiếng hạng nhất của Nhật, 4 khu-trục-hạm hạng nặng, 700 phi-cơ các loại, chuẩn bị một số lớn quân để tấn-công lên đảo và chận đánh quân tăng viện Mỹ. Ngoài ra, phần lớn quân chủ-lực của Nhật được ông ta trải dài theo hải trình các nơi hạm đội Mỹ có thể đi qua. Với chiến thuật như vậy, Yamamoto quyết tâm tiêu-diệt quân Mỹ với ý chí “một mất một còn”.

Navy_Logo BHQ

                                            Logo của Bộ Hải Quân Mỹ

Về phía Mỹ, lực-lượng ít hơn nhiều: chỉ có 3 HKMH: ngoài chiếc Enterprise (Big E) còn chiếc Yorktown bị hư hại trong trận đảo San-hô vừa mới sửa-chữa lại, 20 tuần-dương và một số khu-trục hạm. Về không quân, số máy bay ít hơn rất nhiều so với Nhật. Về hậu cứ thì rất xa, việc tiếp tế khó khăn, các hoạt động dễ bị Nhật phác-giác, theo-dõi. Đô-Đốc Nimitz hơn ai hết hiểu rõ thực lực của mình nên đã bàn cùng Bộ Tham Mưu những kế hoạch tác chiến phù hợp với quân tình của ông đang chỉ huy. Thêm vào đó, với lòng quyết tâm, ông không hề sợ-hãi. Ngoài ra, một yếu tố vô cùng quan trọng mà bất cứ vị chỉ huy nào cũng mong ước trước khi “vào trận”, đó là “biết mọi tin tức về quân địch”. ĐĐ Nimitz may mắn có được điều nầy: “mọi hoạt động của quân Nhật ông đều biết rõ” qua các tin tức của quân Nhật chuyển cho nhau mà các đơn vị tình báo, thám không của ông nhận được qua việc “giải” được các mật mã của Nhật. Trước khi vào trận, ông gởi đến thuộc cấp một công-điện với nội dung:

-“Trận nầy cho các bạn cơ-hội để giáng cho quân thù những đòn nặng-nề. Các bạn sẽ dâng lên cho Tổ-quốc chúng ta những cống-hiến to lớn”.

Jap Ad Chuichi Nagumo

Phó Đô Đốc Nagumo, một trong những vị chỉ huy trực tiếp trận Midway.

Ông đã chỉ thị cho ngành quân báo hoạt-động tích-cực hơn để theo-dõi địch quân, chỉ thị cho quân trú phòng Midway tăng cường cảnh-giác, theo-dõi mọi hoạt động quanh mình, đưa cả 3 HKMH và quân chủ-lực ẩn nấp một nơi kín đáo cách Midway hơn 200 dặm, sẵn-sàng chờ xuất kích theo lệnh. Các chuyên gia quân sự không hiểu vì sao Nhật không phát giác được sự vắng mặt của các tàu chiến “chủ lực” của Mỹ, giống như khi tấn công TCC, số chiến hạm Mỹ ở TCC cũng không đậu tại đó như thường lệ theo như người Nhật ghi nhận.

2. Diễn-tiến trận ác chiến Midway.

Phía Nhật, Yamamoto chỉ-định Phó Đô-Đốc Nagumo trực-tiếp chỉ-huy mặt-trận, còn ông chỉ huy tổng quát. Phó Đô-Đốc Nagumo phán-đoán tình-hình và cho Yamamoto biết ý định như sau:

-“Quân địch vẫn chưa biết ý đồ của chúng ta, không thấy có hạm đội Mỹ ở quanh đây. Sau khi tiêu-diệt xong căn-cứ trên đảo Midway cùng với máy bay và công-trình quân-sự trên đó, chúng ta sẽ đón đánh hạm đội tăng viện của Mỹ và sẽ tiêu-diệt nó”.

Phía Nhật cho rằng thực lực của Mỹ không đáng kể, ngay cả có sự hiện diện của 3 HKMH Mỹ là Enterprise, Hornet và Yorktown nên việc 3 HKMH Mỹ có mặt hay không cũng không thành vấn đề. Hơn nữa, bị tập kích bất ngờ lúc rạng đông, thời gian mà binh lính lơ-là hơn do mệt mỏi suốt đêm qua, quân Nhật tin chắc Mỹ sẽ bị tổn thất nặng nề, giống như họ đã tấn công TCC cũng vào lúc bình minh. Ngoài ra, trong những ngày trước ngày Nhật dự định tấn-công, Nhật không thấy 3 HKMH của Mỹ ở gần Midway. Thật ra, cùng với 3 HKMH vừa kể, Đô-Đốc Nimitz còn có 76 chiến hạm thiện chiến khác trong tay, một lực lượng hùng hậu hơn phía Nhật lầm tưởng, nhất là tinh thần quyết chiến của quan quân Mỹ ở mọi đơn vị.

Lúc 3 giờ sáng ngày 4-6-1942, theo lệnh của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo, 108 máy bay Nhật cất cánh từ một HKMH trong tiếng hoan-hô vang trời, lao về hướng Midway cách nó 240 miles (386 km). Thế nhưng quân Nhật không biết một điều là Nhật đã bị Mỹ giám-sát chặt-chẽ từ lâu, mọi động tĩnh của Nhật đều không qua mắt được quân-đội Mỹ. Khi phi-cơ Nhật cất cánh, phía Mỹ đã biết ngay mà Nhật thì tin là Mỹ không biết. Phía Nhật hoàn toàn bất ngờ khi phi-cơ Nhật chưa tới đảo thì phi-cơ trinh-sát Mỹ đã thả pháo sáng trên đảo, phi-cơ Mỹ dưới đất cất đã chuẩn bị sẵn, cất cánh đón đánh, cùng với mạng lưới phòng-thủ bằng súng cao-xạ trên đảo nhả đạn tới tấp vào phi-cơ Nhật đang lao đến do được hỏa châu soi sáng.

-“Đợt không kích đầu tiên của Nhật vào Midway hoàn-toàn bị quân địch bẽ gãy”, theo báo-cáo của sĩ-quan chỉ-huy Nhật. Đợt nầy, lực lượng tấn-công của Nhật gần như bị tiêu-diệt hoàn toàn.

P-38 5

P 38 của Hoa Kỳ, loại phi cơ đã phục kích giết chết Đô Đốc Yamamoto.

Tuy thế, các vị chỉ huy Nhật không từ bỏ ý định, họ bèn chuyển qua kế-hoạch khác. Đến 7 giờ sáng, theo lệnh Đô Đốc Nagumo, các phi-cơ Nhật có nhiệm-vụ tuần phòng quanh bầu trời mà các HKMH Nhật đang chạy để chống tàu Mỹ phải đảm nhận tiến-hành đợt không kích thứ nhì. Các máy bay tuần phòng nầy được lệnh PĐĐ Nagumo trở về các HKMH, phải tháo bỏ ngư-lôi đang mang trên phi-cơ, đeo bom vào để cùng với các phóng-pháo-cơ còn lại khác tấn công vào Midway. Đến 8 giờ sáng, phi-cơ trinh-sát Nhật phát-giác hạm đội Mỹ chỉ còn cách hạm-đội Nhật có 200 hải-lý. Phát-giác nầy làm cho Tướng Nagumo bối-rối vì ông nhận biết rằng mọi dự định trước đó của ông là sai lầm. Do vậy, đến 8 giờ 30, ông ta lại ra quyết định mới, một quyết định trái ngược với lệnh vừa ban ra:

-“Rút hết các máy bay đang bay đi tấn-công Midway trở về HKMH, trút bỏ bom ra và đeo ngư-lôi vào để tấn-công các HKMH Mỹ”.

Đến lúc nầy, các quân nhân trên các HKMH Nhật hoàn toàn mệt-mỏi do đã làm việc quá nhiều. Lúc 9:18 sáng, các phi-cơ Nhật đã trở về đủ trên các HKMH trong khi hạm đội Nhật trực chỉ về phía hạm đội Mỹ. Hai phút sau, 15 phóng ngư lôi tuần tiễu cơ của Mỹ phát giác các HKMH Nhật. Thế là từ xa, các phóng ngư lôi cơ nầy lao vào các HKMH Nhật. Cùng lúc đó, nghe tin HKMH Nhật có mặt, 30 máy bay phóng pháo Mỹ cũng nhập vào cuộc chiến. Các phi-công Mỹ đã anh-dũng chiến đấu đến độ sau khi tan trận, chỉ còn 6 chiếc sống sót trở về căn-cứ.

Trong khi Nhật dốc toàn lực để đối-phó với các tuần-tiễu-cơ của Mỹ thì các oanh-tạc-cơ của Mỹ trên hai HKMH đồng loạt cất cánh, nhắm vào các HKMH Nhật. Phía Nhật thì không hề hay biết điều nầy vì trước đó họ không biết các HKMH Mỹ ở đâu nên không biết các phi-cơ Mỹ đang xuất-kích. Hơn nữa, họ không có kế-hoạch trước để đối-phó với nguy-cơ bị quân Mỹ tấn-công. Ngoài các phi-cơ trên HKMH ra, các phi-cơ Mỹ từ căn cứ Midway cũng được huy-động để tiêu-diệt các HKMH Nhật.

Jap cruiser Mikuma sinking 6 June 1942

                     Thiết Giáp hạm Nhật bị phi cơ Mỹ tấn công bốc cháy

Khi chiếc phi-cơ Nhật đầu tiên cất cánh cho đợt dự định tấn-công mới thì họ thấy phóng pháo-cơ Mỹ đang nhắm vào hạm đội Nhật lao tới. Trên không trung, từng đoàn, từng đoàn phi-cơ Mỹ như đám mây đen che kín bầu trời nhắm vào 4 mục-tiêu là 4 HKMH Nhật. Phía Nhật hoàn-toàn bị động: các phi-cơ Nhật bị tấn-công ngay từ đầu, từ các chiếc đã cất cánh đến những chiếc chưa kịp cất cánh, không có hành động kháng cự nào trước tinh thần quyết chiến của các phi công Mỹ.

Đang bị thiệt hại bởi phi cơ Mỹ tấn công, các HKMH lại bị một vố đau khủng khiếp hơn nữa. Các vị chỉ huy Hải quân Nhật đã phạm phải một sai lầm vô cùng to lớn, vô phương cứu-vãn. Cũng chính sai lầm nầy đã chôn vùi chính họ, chôn vùi luôn tham vọng của người Nhật. Vì lệnh thay đổi liên tục và gấp rút, binh sĩ làm việc nhiều nên quá mệt-mỏi, vì vậy, số bom và ngư lôi mà họ gỡ ra trước đó quá nhiều, đã không đưa xuống hầm tàu kịp thời mà được chất thành đống trên sàn tàu hay cạnh các hầm chứa máy bay. Tai-nạn đến với họ khi bị các phi-cơ Mỹ bỏ bom vào các HKMH Nhật, số bom đạn chất thành đống này là lò thuốc nổ khổng lồ, khi bị kích hỏa bởi bom đạn phi cơ Mỹ bắn vào, nó nổ tung. Sau vài giờ, các chiếc HKMH Nhật đã từng là niềm tự-hào của Hải-quân Nhật vỡ tung, vĩnh-viễn đi vào lòng đại-dương tức khắc, mang theo tất cả quân trang quân dụng, quan quân trên nó cùng với lòng kiêu-hãnh của họ mà không kịp hô “Thiên-Hoàng Vạn tuế!” (Tenno Heika Banzai) như họ từng làm. Trong khi trên các HKMH Nhật phải lo đối phó với hỏa hoạn, tổn thất do bom và ngư lôi của họ nổ tung, các phi cơ Mỹ tha hồ trút bom, bắn phá các HKMH và chiến hạm hộ tống mà không gặp bất cứ sự kháng cự nào. Ngoài ra, bộ quân của Nhật được rải dài để “đợi tiêu diệt quân Mỹ tăng viện” cũng bị oanh tạc nặng nề do phía Mỹ biết trước từng vị trí Nhật ém quân chờ đợi.

3. Tổn thất hai phía.

Trận chiến Midway có ý-nghĩa lịch-sử nầy đã kết-thúc vào ngày 7-6-1942. Phía Mỹ thiệt hại 150 máy bay, 307 quân-nhân thiệt mạng, 1 khu-trục hạm bì đánh chìm, HKMH Yorktown bị tàu ngầm Nhật đánh chìm không lâu sau cuộc hỗn chiến nầy trong lúc được trục vớt vào cùng ngày 7-6. Về phía Nhật, sự thiệt hại to lớn không thể tưởng: ngoài việc 4 HKMH hàng đầu của Nhật là Akagi, Kaga, Soryu và Hiryu, 12 tuần-dương hạm bị đánh chìm, 253 máy bay cùng 3.500 sĩ-quan và binh-sĩ trên đó đã tan thây, trận Midway còn xóa bỏ huyền thoại của quân-đội Nhật là “đoàn quân bách chiến”, đã gióng lên tiếng chuông “báo tử” trên chiến-trường vùng TBD của quân-đội Nhật. Ta hãy nghe các lời bình-luận về trận Midway của các “ông lớn” sau khi tàn cuộc hải chiến.

Thủ-Tướng Anh, Sir. Winston Churchill phát biểu:

-“Trận hải chiến Midway đã làm xoay chuyển ưu-thế quân Nhật ở TBD, là bước ngoặc khiến cho thời oanh-liệt xưa của địch quân không bao giờ trở lại được nữa”.

Tư-lệnh chiến-trường, Đô Đốc Nimitz khiêm nhường hơn:

-“Trận chiến đảo Midway, những tổn-thất mà quân Nhật phải gánh chịu còn nặng nề gấp 10 lần nỗi nhục mà quân Mỹ phải chịu đựng ở TCC”.

Còn Đô-Đốc Yamamoto, người chỉ huy quân Nhật, sau khi kết-thúc trận chiến cũng phải mở miệng:

-“Tôi phải tạ tội với Thiên-Hoàng!”.

Một sĩ-quan thuộc cấp của Nimitz tham dự trận chiến nói:

-“Thắng lợi nầy là công lao của Tư-Lệnh Nimitz nhờ sự mạnh-dạn, quyết-đoán, thông-minh và thiên-tài chỉ-huy của ông”.

HKMH Hiryu của Nhật bị tấn công ngày 5-6-1942

Jap Hiryu burning 1

HKMH Hiryu của Nhật bị phi cơ Mỹ bắn cháy.

4. Ảnh hưởng của cuộc chiến

a. Ảnh hưởng trực tiếp:

Để đánh giá một cuộc chiến, đòi hỏi phải phân tích thật tỉ mỉ vì ngoài tính thiện chiến của quân sĩ còn liên quan đến cả chiến lược, chiến thuật. Theo như phần đầu đã nói, “trận Midway là trận chiến quyết định cho chiến trường Thái Bình Dương” tuy rằng Hoa Kỳ chưa thể thắng Nhật vào lúc trận chiến Midway kết thúc. Dẫu vậy, trận nầy đã giúp Hoa Kỳ từ trạng thái thất thế (sau tổn thất tại TCC) sang trạng thái cân bằng và sau đó không lâu chiếm thế thượng phong, gây thiệt hại nặng cho lực lượng Nhật khiến không thể hồi phục lại được, rút ngắn chiến tranh Thái Bình Dương, tuy rằng Hải quân Nhật còn gan lì tiếp tục chiến đấu một thời gian nữa. Nhận ra sự bất ổn của Nhật nên chỉ 2 tháng sau trận Midway, Mỹ tấn công Guadalcanal. Nếu không có thắng lợi ở Midway, người Mỹ không thể sớm mở mặt trận mới sớm như thế hoặc có thì cũng không thành công như họ đã đạt được ở trận Guadalcanal, tạo nên ảnh hưởng sâu rộng trong tiến trình chiến tranh, cùng với việc lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương đã làm nền kinh tế Nhật đi đến chỗ đình trệ vào tháng 1-1945.

USS Midway 2010 7

HKMH USS Midway CVB-41 nay là Bảo tàng viện neo tại San Diego, California.

Việc Mỹ loại 4 hàng không mẫu hạm của Nhật ra ngoài vòng chiến trong trận nầy là một tổn thất không thể thay thế được, Nhật đã không thể bổ sung đủ 4 chiếc khác mãi cho đến đầu năm 1945. Về không quân, Nhật bị thiệt hại số phi công mà nước Nhật phải huấn luyện trong nhiều năm, một nan đề Nhật khó giải quyết. Trong thời gian đó, Hải quân Hoa Kỳ đã đưa vào phục vụ hàng chục mẫu hạm lớn nhỏ mới đóng và vô số mẫu hạm hộ tống, vô số phi công mới huấn luyện được đưa vào tham chiến. Như vậy, trận Midway đã gây thiệt hại lâu dài cho Hải quân Nhật và rút ngắn thời gian mà hải quân Nhật có thể chiến đấu trong những điều kiện có lợi. Đây là một tai họa cho Đế quốc Nhật khi họ muốn tiến hành những chiến dịch quy mô hơn để chống lại Hoa Kỳ.

Trận Midway là một đòn chí tử đánh vào quân Nhật và phe Trục. Chương trình huấn luyện phi công của Nhật trước chiến tranh đào tạo ra các phi công với phẩm chất rất cao nhưng với số lượng ít. Tại Midway, Nhật mất rất nhiều các phi công thiện chiến nầy chỉ trong một ngày mà chương trình huấn luyện đào tạo trong một năm. Trong các trận chiến sau này (trận Guadalcanal vào năm 1942, trận Đông Solomon, trận Santa Cruz) không quân của Hải quân Nhật không gượng dậy được bởi bị tiêu hao lực lượng. Các nhà hoạch định chiến lược của Nhật đã dự đoán sai lầm và không lượng được sức mình cho một cuộc chiến tranh lâu dài và liên tục. Nhật đã không bổ sung cho những thiệt hại về tàu bè, phi công, thủy thủ, binh lính, súng đạn, trang thiết bị, tiếp liệu từ hậu phương v.v… Mặt khác, sự mất cân đối này trở nên tồi tệ hơn khi các máy bay chiến đấu thế hệ sau của Hoa Kỳ tỏ rõ tính ưu việt trước máy bay của Nhật. Đến giữa năm 1943, sau thiệt hại ở Midway và quần đảo Solomons đã làm kiệt quệ lực lượng không quân của hạm đội Nhật. Tệ hơn nữa, Nhật vẫn giữ các phi công điêu luyện ở lại chiến đấu, làm suy yếu năng lực huấn luyện đội ngũ phi công mới; trái lại, Hải quân Mỹ cho các phi công xuất sắc của họ trở về huấn luyện để dạy lại cho quân nhân mới về các kỹ năng trong chiến đấu.
Nimitz 7

Đô Đốc Nimitz (trái) đang bàn luận chiến sự với ĐĐ Ernest J. King trên chiến hạm Mỹ.

b. Ảnh hưởng chiến lược:

Ảnh hưởng của trận Midway cũng được đánh giá bằng nghiên cứu ngược lại: giả sử các chiến hạm của Hoa Kỳ bị quân Nhật tiêu diệt. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nếu như vậy, sự bại trận của Hoa Kỳ tại Midway đã có thể kéo dài cuộc chiến tại Thái Bình Dương, làm chậm sự khởi đầu của chiến cuộc hao mòn toàn diện. Nếu như vậy, với chỉ 2 hàng không mẫu hạm còn khả năng chiến đấu (chiếc Saratoga và Wasp), Mỹ buộc phải ở thế phòng ngự chiến lược cho đến cuối năm 1942. Khi đó, quân Nhật có thể tiếp tục tiến đến New Hebrides (sát Australia), cắt đứt liên hệ của Hoa Kỳ với Australia, đồng thời hoàn tất việc xâm chiếm New Guinea, khống chế hải trình từ Mỹ đi Đông Á, Úc châu. Một điều nữa, nếu thất bại ở Midway có thể dẫn đến việc cách chức những tướng lĩnh tài giỏi và quan trọng, như Nimitz và Spruance. Các chiến dịch tấn công trên Thái Bình Dương sẽ bị trì hoãn đến cuối năm 1943, khi các mẫu hạm thế hệ Essex và Independence có mặt với số lượng thích đáng. Đây là những thất bại vô cùng to lớn cho Mỹ và đồng minh sau nầy. Cũng giả thiết như thế, nếu Hoa Kỳ thua trận, các cuộc hành quân đổ bộ Bắc Phi, Địa Trung Hải, Normandy chưa chắc đã xảy ra và nếu có cũng chưa chắc sớm như thực tế đã xảy ra.

Jap cruiser Mikuma sinking 6 June 1942

         Tuần dương hạm Mikuma của Nhật bị bắn cháy.

Tuy nhiên, theo nhiều nhận định, dù Hoa Kỳ thua trận Midway đi chăng nữa, cuối cùng thì Nhật vẫn sẽ thua Hoa Kỳ trên mặt trận Thái Bình Dương khi so sánh tương quan về tiềm lực quân sự, kinh tế, quân số và kỹ năng chiến đấu của 2 quân lực, nhất là hải quân. Hâu phương của quân Mỹ là một kho tiếp liệu vô cùng to lớn có thể đáp ứng được những nhu cầu cho chiến trường, với đội ngũ nhân viên ưu tú và tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Quân đội Mỹ cùng với nguồn tiếp viện từ người Mỹ cho quân đội đồng minh trong các mặt trận vào cuối thế chiến đã làm nghiêng cán cân quân sự để thế chiến chấm dứt, cho ta thấy nhận định nầy không sai lầm.

VI. Cái chết của Yamamoto:

1. Kế hoạch “ám sát Yamamoto”

Sau khi thất trận hải chiến Midway, quân Nhật nhận thêm một đòn đau khác nữa, đó là cái chết của vị Tư lệnh “thần tượng” của họ: Đô Đốc Yamamoto. Trước đó, trong chiến-tranh, một quy luật tuy không có văn bản chính-thức nhưng thường được các nước thi-hành là không được ám-sát cấp chỉ-huy đối phương. Thế nhưng trong thế-chiến thứ hai thì khác hẳn. Thủ-Tướng Anh Winston Churchill, các Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt, Dwight David Eisenhower đều đã từng bị khối Trục uy-hiếp mạng sống. Vì thế, Đô-Đốc Nimitz quyết-định: “Hạ sát Đô Đốc Yamamoto là việc phải làm”. Ông nói:

-“Trong những ngày một mất một còn như thế nầy, không còn đạo-nghĩa, luật-lệ gì để nói nữa. Chính Nhật đã đầu tiên vi phạm quy-định chiến-tranh. Dù là tướng lãnh hay binh sĩ, đều là mục tiêu của họ hạ sát hợp pháp”.

Phico P38 Lightning 4

Phi cơ P-38 của Quân lực Mỹ, “thủ phạm” đã hạ sát Yamamoto

Chiều ngày 14-4-1943, tổ mật mã tình-báo quân đội Mỹ bắt được một bức điện mật mã cao-cấp của Nhật đánh đi theo “kiểu số” (4), được Nhật gọi là “điện mật mã màu tím”, có độ mật rất cao. Sau 2 ngày 2 đêm nghiên-cứu, các chuyên-viên quân-sự Mỹ đã tìm ra mã khóa, biết được nội dung bức điện, nói về thời gian và địa-điểm đi thị-sát các đơn-vị Nhật của Đô-Đốc Yamamoto:

-“Tướng quân “GF” (tức Yamamoto), 8 giờ sáng ngày 18-4 sẽ dùng 2 phi-cơ công kích Lục quân với 6 phi-cơ chiến-đấu hộ-tống, từ Rabaul (7) đi thị sát Ballali và quần đảo Bougainville. Phi-đội sẽ hạ cánh xuống Ballali lúc 9:45 phút sáng”.

Mãi đến ngày nay, nhiều chuyên gia quân sự vẫn chưa hiểu tại sao người Nhật làm như vậy, một hành động vô cùng nguy hiểm trong lúc chiến trận đang hồi khốc-liệt. Trong thời chiến mà tiết lộ tỉ-mỉ lộ trình của thượng cấp như vậy là điều tuyệt đối không nên làm. Có nhận định cho là “Nhật chủ-quan rằng mật mã JN-25 của họ khó bị giải mã được”, người thì cho là “Nhật cho rằng Mỹ bị họ giám-sát mọi hoạt-động nên chủ quan, khinh địch”. Sau khi chiến tranh chấm dứt, người ta mới biết rằng “quân báo thám không Mỹ đã đọc được hầu hết những tín hiệu, tin tức của quân Nhật đánh đi và do đó biết trước được kế hoạch và hoạt động của quân Nhật”. Do biết trước mọi đường đi nước bước của quân Nhật nên sự thất bại của của Nhật là điều không thể tránh khỏi. Trong một lá thư gửi cho thống đốc Dewey của New York, tướng George Catlett Marshall, Jr., Tham Mưu trưởng Liên quân Mỹ, đã viết:

-“Trận đánh biển San hô đã được đặt căn bản trên sự giải thích mật mã của hải quân Nhật, do đó số chiến hạm ít ỏi của chúng ta đã được bố trí vào đúng chỗ và đúng lúc. Hơn nữa, chúng ta đã có thể tập trung lực lượng ít ỏi của chúng ta để chặn sự tiến quân của địch tại đảo Midway”.

Ông còn viết:

-“Các chiến dịch tại Thái Bình Dương phần lớn được hướng dẫn bởi tin tức mà chúng ta thâu thập được về các sự phối trí của hải quân Nhật. Chúng ta biết rõ được sức mạnh của họ tại mỗi căn cứ…chúng ta kiểm soát được được sự di chuyển hạm đội của họ…và chúng ta chỉ việc ra lệnh cho tiềm thủy đỉnh chờ sẵn tại địa điểm thuận lợi nhất để tấn công”.

Yorktown burning

HKMH USS Yorktown bị phi cơ Nhật tập trung tấn công.

HKMH Yorktown của Hải quân Mỹ bị tấn công bốc cháy nhưng nó không chìm
khi trận chiến đang diễn ra. Yorktown bị chìm sau đó, do bị thủy lôi Nhật tấn công.

Trở lại vấn đề, bản mã được đệ trình lên Đô-Đốc Nimitz. Sáng sớm ngày 15-4-1942, Thiếu-Tá tình-báo Edwin Layton mang mật điện đến văn-phòng của Nimitz. Sau khi trao mật điện, ông ta nói:

– Thưa Tư-Lệnh, có tin về “ông bạn của chúng ta” rồi!

Sau khi xem xong mật điện, Nimitz hỏi:

-“Anh thấy nên làm thế nào? Có nên hạ sát không?”.

Edwin Layton thưa:

-“Ngài hiểu rõ tâm-lý người Nhật, ngoài Nhật Hoàng ra thì Yamamoto là thần tượng của họ. Nếu trừ khử được Đô Đốc Yamamoto thì ít nhất cũng làm sa sút tinh thần của Hải quân Nhật và sẽ làm cho cả nước Nhật bối rối”.

Nimitz hỏi lại:

-“Tôi muốn biết là họ có thể đưa ra một Yamamoto khác không?”.

Edwin Layton cười:

-“Thưa Tư-Lệnh, điều đó cũng giống như thí dụ Ngài bị họ hạ sát thì làm sao có thể tìm được ngài Nimitz thứ nhì?”.

Nimitz cũng cười theo:

-“Chúng ta thử xem!”.

Quyết-định hạ sát Yamamoto được gởi về Tòa Bạch-Ốc lúc 11 giờ trưa ngày 17-4-1942. Tổng thống Roosevelt và Bộ trưởng Knox bàn bạc và cân nhắc. Đang tại bàn ăn, vị Tổng Tư Lệnh của quân đội Mỹ ra quyết-định:

-“Ra lệnh bắn hạ máy bay Yamamoto!”.

Quyết định được gởi đến cho Đô-Đốc Nimitz.

Theo dự định của Yamamoto, tại đảo Rabaul, nơi ông sẽ chủ tọa một cuộc họp quân sự để thảo các kế hoạch tiếp tục cuộc chiến đấu với hải quân Mỹ. Cuộc họp này rất quan trọng, bởi vì sau khi thất trận Midway, 4 mẫu hạm bị Mỹ đánh chìm là tổn thất về vật chất to lớn nhưng tổn thất tinh thần cũng không kém vì hải quân Nhật nói riêng cùng toàn thể quân đội Nhật nói chung tiêu tan mộng chiến thắng, không còn huyền thoại là đoàn quân “bất khả chiến bại” nữa. Sau hải chiến Midway, quân đội Nhật phải rút lui khỏi Guadacanal, Yamamoto dự đoán Mỹ có đủ thì giờ để mở các cuộc tấn công mới, và sẽ chiếm dần từng đảo một để đẩy lui quân Nhật. Từ đây, quân Nhật phải đương đầu với quân Mỹ, bất cứ từ phía nào. Ông biết rằng các sĩ quan cao cấp Nhật chỉ trích, đổ lỗi cho nhau trong các thất bại vừa qua của Nhật, Yamamoto rất lo ngại trước thái độ nầy của họ, vì vậy ông quyết định phải đích thân đi thăm các căn cứ và binh sĩ Nhật, thăm viếng các tiền đồn hải quân xa nhất để gây lại niềm tin và tinh thần chiến đấu cho những binh sĩ chưa hết bàng hoàng về những thất trận quan trọng vừa qua và cũng để xoa dịu các sĩ quan Nhật đối chọi nhau mặc dù ông biết chuyến đi của ông rất nguy hiểm. Yamamoto cũng muốn gặp tướng Hyakutake, vị chỉ huy Quân đoàn 17 của Nhật trong trận Guadacanal thuộc quần đảo Solomon. Theo kế-hoạch, ngày 18-4-1943, Yamamoto sẽ đến Ballale và Buin thuộc quần-đảo Bougainville ở Nam Thái Bình Dương (gần Papua New Guinea) để thị-sát quân đội Nhật đang đồn trú tại đây. Trong đoàn Yamamoto đi thị-sát, có 2 chiếc Mitsubishi G4M (người Mỹ gọi là Betty) chở các sĩ quan cao cấp Nhật, được hộ tống bởi 6 phi-cơ chiến-đấu Mitsubishi A6M3 Zero Model 22 (người Mỹ gọi là Zero) loại chiến đấu cơ “số một” thời đó. Đô-Đốc Nimitz phái 18 chiếc P-38 cất cánh từ căn-cứ Henderson, Guadalcanal “phục-kích” (ambush) Yamamoto trên không-trung với nghiêm lệnh:

-“Bằng mọi giá, phải triệt hạ phi cơ chở Yamamoto” (destroy Yamamoto’s aircraft “at all costs”).

Trong cuộc họp phân chia trách nhiệm tại Guadalcanal do Đô-Đốc Mitscher chủ trì, Thiếu Tá John Mitchell thuộc Phi-đội 339 của Phi-đoàn 13 thuộc Lục-quân Mỹ được chỉ định đảm-trách công-tác nầy. John Mitchell chọn những phi công tài giỏi nhất trong Phi đội mà ông từng biết được khả năng của họ và tất cả các phi công rất hãnh diện khi được tham gia vào một công tác quan trọng như vậy. Mitchell được trao một bức điện tín:

“Hoa Thịnh Ðốn. Tối Mật.

Bộ trưởng Bộ Hải quân gửi sĩ quan chỉ huy tại phi trường Henderson.

Ðô Đốc Yamamoto cùng với Ðô Đốc tham mưu và 7 tướng Nhật khác đã rời Truk sáng nay để thanh tra căn cứ Bougainville. Yamamoto và phái đoàn di chuyển trong 2 chiếc Betty và có 6 chiếc Zero hộ tống. Có thể có thêm phi cơ hộ tống theo nghi lễ danh dự từ Kahili. Yamamoto tới Rabaul vào lúc 16:00 và nghỉ đêm tại đó. Sáng sớm sẽ rời đi Kahili và tới nơi khoảng 9:45. Sau đó Yamamoto sẽ lên chiếc tiềm thủy đỉnh để thanh tra các đơn vị hải quân của đô đốc Tanaka.”

“Sáng ngày 18-4, phi đội 339 có các phi cơ P.38 phải bay tới và tiêu diệt Yamamoto và đoàn tùy tùng bằng mọi giá. Các thùng xăng trừ bị sẽ từ Port Morseby tới nơi vào chiều ngày 17-4. Tin tình báo cho biết Yamamoto rất đúng giờ. Tổng thống coi cuộc hành quân này cực kỳ quan trọng. Thông báo kết quả ngay tức khắc về Hoa Thịnh Ðốn.

Frank Knox,

Bộ trưởng Bộ Hải quân”.

“Tài liệu tối mật này không được sao chép lại và cũng không được lưu giữ; mà phải tiêu hủy ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ”.

2. Trận không chiến ngắn ngủi.

P-38 là loại phi-cơ có 2 động cơ, thân đôi, trang-bị 4 súng đại liên 50 và 1 đại bác 20 ly, bay xa, bay nhanh và tích hợp cho không chiến, phục kích, được chọn cho công tác nầy. Theo dự trù, toán chiến đấu cơ của Thiếu Tá John Mitchell phân chia thành 2 nhóm: nhóm 4 phi-cơ gọi là “phân đội sát thủ” (killer section) gồm có Đại-úy Thomas G. Lanphier Jr. là trưởng toán, Đại-úy Rex T. Barber, Đại-úy Besby F. Holmes và Đại-úy Raymond K. Hine có nhiệm-vụ triệt-hạ phi-cơ chở Yamamoto; nhóm 14 chiếc còn lại do Thiếu Tá John Mitchell chỉ huy, bay ở cao độ 6.000 mét để “dụ địch”, với nhiệm vụ hộ-tống, bảo-vệ cho 4 chiếc “săn mồi” của Đại Úy Lanphier. Phi đội phải giữ im-lặng vô-tuyến tuyệt đối, hạn chế đến mức tối đa trong việc liên lạc với nhau để khỏi lộ bí mật. Các phi công trong toán công tác nầy rất can-đảm vì họ biết rằng họ chỉ có 18 chiếc máy bay, có thể họ bị hơn 80 máy bay Nhật đang đậu tại phi trường Bougainville tấn công để bảo-vệ cho Yamamoto nếu cần. 18 chiếc phải đối mặt với 80 chiếc, một hành động không phải “dũng cảm” là gì?

Đến sáng sớm hôm 18-4-1943 thì việc gắn thêm các thùng xăng phụ vào 18 chiếc P.38 hoàn tất vì các máy bay này không đủ xăng bay về vì quá xa nên phải có bình xăng phụ. Ðúng 7 giờ 20, chiếc P.38 đầu tiên cất cánh. Có 2 chiếc bị trục trặc kỹ thuật phải bỏ lại nên chỉ có 16 phi cơ P.38 bay về hướng đảo Bougainville. Cũng vào sáng hôm đó, đúng 6 giờ, Yamamoto khởi hành tiếp cuộc thanh tra từ đảo Rabaul trên chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M “Betty” sơn sọc mầu xanh lá cây để ngụy trang, có Thiếu tá Ishizaki là thư ký riêng của Yamamoto, Đô Đốc Quân y Takata và viên sĩ quan tham mưu Tobana cùng đi. Trên chiếc Mitsubishi G4M “Betty” thứ hai có Tham Mưu trưởng của Yamamoto là Đô Đốc Matome Ugaki, Đề Đốc Kitamura và sĩ quan viễn thông là thiếu tá Muroi. Đô Đốc Yamamoto và Đô Đốc Matome Ukagi đều ngồi vào chỗ của phi công chính, còn phi công phụ đảm trách việc lái máy bay. Hai phi cơ chở các Đô Đốc bay sát nhau, còn 6 chiếc Zero thì 2 chiếc bay hai bên trái, 2 chiếc bay bên phải và 2 chiếc còn lại bay bên trên và lùi lại phía sau, có nhiệm vụ hộ tống. Lúc 9 giờ 30 sáng, khi bay gần đến đảo Bougainville thì tất cả đoàn bay thấp xuống, vào khoảng 2.000 bộ. Lúc nầy cũng là lúc đoàn phi cơ của Thiếu Tá John Mitchell vừa bay tới nơi, thời gian đúng y như tính toán chi ly của người Mỹ.

Khi vừa thấy toán máy bay của Thiếu Tá John Mitchell ở trên cao, toán 6 phi-cơ Zero của Nhật vội lao đến để tấn công, trúng vào kế “dụ địch” của phi-công Mỹ, không còn chiếc nào ở lại bảo vệ 2 chiếc chở các nhân vật quan trọng nhất cần bảo vệ, quên đi nhiệm vụ chính của họ. Đến lúc đó, 4 phi-cơ trong toán của Đại-úy Thomas Lanphier Jr. vội tăng tốc-độ: đang bay dưới thấp bèn vọt lên cao, phóng nhanh như những con diều hâu lao đi bắt mồi, bất ngờ đón đánh 2 phi-cơ chở các vị Đô Đốc Nhật. Thấy phi cơ Mỹ xuất hiện, hai chiếc phi cơ nầy vội lao nhanh xuống sát rừng già để tìm sự an toàn, bay quanh co như để tránh đạn và hạ thấp hẳn xuống gần sát đầu các ngọn dừa, cách mặt đất khoảng 200 bộ. Đại-úy Rex T. Barber thấy 2 chiếc Betty sọc xanh lá cây đang hạ thấp xuống rừng già, ông lao xuống đuổi theo. Khi chiếc máy bay chở Yamamoto bay dưới tầm của chiếc P.38, ngang họng súng của mình, Rex T. Barber vội khai hỏa ngay, lửa liền bùng lên sau loạt đạn, khói đen bốc lên khi cánh phi cơ trúng đạn và bốc cháy. Chiếc phi cơ chở Yamamoto mất tốc độ và bay chập choạng, Barber bay trờ tới và nhả thêm một loạt đạn nữa, chiếc phi cơ chở Yamamoto rung lên, đụng phải một cành cây và gẫy gục, chúi xuống đất, rồi chồm lên một lần nữa trước khi nổ tung tại khu rừng gần Kahili ở Bougainville thuộc quần đảo Salomon ngay từ đợt tấn-công đầu tiên của quân Mỹ. Đô Đốc Yamamoto bị đạn bắn trúng đầu và vai, chết ngay khi trúng đạn, xác ông bị cháy đen, văng ra ngoài khi chiếc phi cơ nổ tung sau khi rơi xuống đất.

Ðô đốc Ukagi ngồi trên chiếc phi cơ thứ hai, đã chứng kiến từ giây phút đầu đến giây cuối cùng của danh tướng Yamamoto, và đã viết lại trong nhật ký như sau:

-“Bỗng nhiên không thấy báo động mà máy phi cơ gầm lên rồi phi cơ lao xuống rừng già, ở độ cao khoảng 200 bộ. Không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra cả. Rồi phi cơ của tôi bay là ngay bên trên cánh rừng già và chúng tôi trông thấy các chiến đấu cơ hộ tống bay vọt lên ngăn chặn các phi cơ tấn công của địch, mang dấu hiệu Lockheed Lightnings. Phi cơ địch đông hơn gấp ba lần phi cơ Nhật và phá vỡ được vòng phòng thủ của các phi cơ Zero và tiến lại phía phi cơ chở chúng tôi. Hai phi cơ của chúng tôi vội quay hướng bay khoảng 90 độ để tránh phi cơ địch, một chiếc rẽ sang hướng phải và một chiếc quay sang trái”.

“Vài phút sau tôi không nhìn thấy phi cơ chở đô đốc Yamamoto nữa, nhưng cuối cùng tôi xác định được vị trí của nó cách xa về bên tay phải. Tôi kinh hoàng trông thấy phi cơ đó bay rất chậm ngay trên ngọn cây và những ngọn lửa màu cam mau lẹ tràn ra bao trùm hai cánh và thân máy bay. Rồi phi cơ tuôn ra những làn khói đen dầy đặc, và hạ thấp xuống mãi, chỉ cách chúng tôi khoảng bốn dậm. Khi phi cơ của tôi vượt bay lên, tôi có dịp quan sát toàn thể khu rừng. Chiếc Betty chở Yamamoto hoàn toàn mất dạng trong khi khói đen dầy đặc tuôn lên từ cánh rừng già. Tất cả chỉ xảy ra trong khoảng chừng hai mươi giây và tôi biết rằng thế là hết rồi!”

Sau đó, Đô Đốc Ukagi không còn dịp quan sát nữa. Đại úy Thomas Lanphier Jr. phóng tới tấn công phi cơ chở ông ta. Phi công chở Đô Đốc Ukagi vội đổi hướng bay nhưng Đại Úy Lanphier khai hỏa và một phần đuôi của chiếc Betty chở Ukagi bị vỡ tung, chiếc Betty rơi xuống biển. Hai Đô Đốc Matome Ukagi và Kitamura và các sĩ quan khác trên chiếc Betty thứ hai đều bị thương nặng nhưng được các tàu tuần của Nhật phóng lại cứu cấp và đem được ra ngoài chiếc phi cơ Betty bị phá hủy. Ngoài ra, còn có thêm 3 chiếc Zero của Nhật nữa bị bắn hạ.

Trận không chiến xảy ra chỉ trong 2 phút 47 giây ngắn-ngủi, toán quân Nhật bị quân Mỹ tiêu diệt một cách chóng vánh, trong đó có vị Tư lệnh cao nhất của Hải quân Nhật tại khu vực Thái Bình Dương. Hải quân Nhật tại Bougainville vẫn nuôi hy vọng Yamamoto thoát chết. Đại Tá Yasuji Watanabe lấy một phi cơ bay lượn qua lại nơi máy bay chở Yamamoto bị rơi, viết hàng chữ “Hãy vẫy khăn mặt nếu vẫn còn sống” vào mảnh giấy và quấn quanh những trái banh tennis và ném xuống đất nhưng chẳng có ai vẫy khăn trả lời cả. Tuy nhiên, xác của Yamamoto được tìm thấy một cách tình cờ: Một toán quân Nhật do Trung Úy Hamasuna chỉ huy đi tuần phòng thường lệ, được thổ dân cho biết họ thấy sự việc và dẫn đường vào nơi máy bay bị nạn. Hanasuna thấy xác của Yamamoto văng ra ngoài xác máy bay, bị cháy đen. Mọi xác chết đều bị cháy đen, trừ xác của Đô Đốc Takata còn nhận diện được. Các thi hài được chở về căn cứ Nhật ở Bougainville, sau đó được hỏa thiêu. Ðại tá Yasuji Watanabe đem hộp cốt tro của Yamamoto về Truk, sau đó cũng chính Wantanabe mang về Ðông Kinh trên một tàu chiến.

3. Tang lễ Yamamoto.

Sau khi xác của Đô Đốc Yamamoto đem về căn cứ Truk, nét đau đớn hiện hẳn lên mặt từng nhóm sĩ quan Nhật, họ đứng nghiêm trên những chiến hạm, đưa tay chào hiệu kỳ của Đô Đốc Yamamoto khi lá soái kỳ được từ từ hạ xuống trên soái hạm Musashi đang đậu trong vịnh. Lúc đó, phía Mỹ cũng chưa dám chắc là Yamamoto bị giết chết vì nghi có thể ông ta chỉ bị thương. Ba hôm sau, nhận được tin tro cốt của Yamamoto được chiếc Vũ-Tàng chở về Nhật, khi đó phía Mỹ mới chắc rằng Yamamoto đã bị hạ và họ vui với chiến công nầy, loại trừ được một đối thủ đáng gờm.

Khi tro cốt của Yamamoto được đưa về tới Đông Kinh và sau khi thống nhất ý kiến, cái chết của Yamamoto được loan báo. Vào một đêm, Đài Phát thanh Tokyo, bằng một giọng trầm buồn, xướng ngôn viên tuyên-bố trên làn sóng phát-thanh:

-“Đô Đốc Yamamoto khi đang làm nhiêm vụ chỉ huy chiến lược ở mặt trận thì gặp máy bay địch và đã anh dũng hy-sinh một cách vẻ-vang”.

Tại Nhật, cốt tro của Yamamoto được tách ra làm hai phần để được tổ chức hai tang lễ. Trong lịch sử, ngoài Đô Đốc Horatio Lord Nelson của Anh quốc tử trận ngày 21-10-1805 tại trận Cape Trafalgar thuộc Tây Ban Nha trước đó, đến tang lễ Yamamotyo, chưa bao giờ có quang cảnh cả một nước nào để tang một người như vậy. Hầu như toàn thể dân chúng thủ đô Ðông Kinh đổ ra đường tham dự tang lễ của Yamamoto tại Công Viên Hibiya, trừ Nhật Hoàng không tham dự vì thân phận Ngài được đặt cao hơn sự sống chết của người đời, không tham dự tang lễ của bất cứ ai. Tất cả mọi nhân vật quan trọng trong chính phủ cùng dân chúng đau buồn dự tang lễ và rồi lặng lẽ đi đến nghĩa trang Tamabuchi, trong số đó có nàng ca kỹ Kikuji khóc âm thầm đi theo dòng người đó, nơi đó, tro cốt của Yamamoto được đặt bên cạnh ngôi mộ của Đô Đốc Tōgō Heihachirō đã chôn trước đó. Yamamoto là người thứ 12 được làm lễ quốc táng trong suốt lịch sử của nước Nhật, là vị Đô Đốc thứ nhì sau Đô Đốc Tōgō Heihachirō, anh hùng trong trận chiến ở Mãn Châu & eo biển Đối Mã, người đã chôn vùi hạm đội Nga trong trận chiến năm 1905. Còn tại quê hương ông, người ta cũng tổ chức tang lễ rất long trọng với một phần tro cốt của ông, giống như nhiều nơi khác trên nước Nhật: mọi người ngậm ngùi tiếc thương trước cái chết của ông, cầu nguyện cho linh hồn ông đươc an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng theo quan niệm lễ giáo của con cháu Thái Dương thần nữ.

Người bắn hạ Yamamoto là Đại-Úy Rex T. Barber, cư dân Terrebonne, Oregon, thuộc Phi-đội chiến-đấu 339. Sau khi không ngừng bắn vào chiếc phi-cơ chở Yamamoto cho đến khi nó rơi hẳn xuống đất, Đại Úy Rex T. Barber quay trở lại phụ với đồng đội để hạ các phi-cơ Nhật còn lại trong đoàn của Nhật trong khi ông còn phải chống lại các phi-cơ Zero hộ-tống của Nhật tấn công. Trở về căn cứ, người ta thấy phi-cơ ông bị 104 vết đạn từ phi-cơ Nhật bắn ra. Sau khi về hưu từ Không quân Mỹ năm 1961 với cấp bậc Đại Tá, ông là một chức sắc trong nhà thờ, rồi đắc-cử chức Thị trưởng của thành phố quê nhà, Culver, Oregon. Ông mất ngày 26-7-2001, thọ 84 tuổi tại Terrebonne, tiểu-bang Oregon.

10 Capt Barber1959

Đại Tá Rex T. Barber (hình chụp năm 1959), người đã bắn hạ
Đô Đốc Yamamoto của Nhật vào năm 1942, khi đó Barber còn là Đại Úy.

Mãi đến ngày 13-6-1975, ông Kenji Yanagiya, phi-công Nhật cuối cùng, người sống sót trong trận phục kích Yamamoto hôm đó kể lại sự việc ông chứng kiến trong một cuốn băng. Ông kể rằng “các chiếc P-38 từ phía sau bên phải các chiếc Betty’s bay tới và bắn rơi chiếc phi-cơ chở Yamamoto”. Tài liệu này hiện đang được lưu giữ trong Bảo tàng viện Đô-Đốc Nimitz tại Fredericksburg, Texas.

Đô-Đốc Mineichi Koga, người kế nhiệm trong chức vụ của ông Yamamoto đã phát biểu:

-“Chỉ có một Yamamoto và không có ai có thể thay thế ông ta”.

Sau trận Midway, quân đội Mỹ lấy lại tinh thần chiến đấu, chuẩn bị các trận đánh mới để giải tỏa áp-lực của Nhật và dần dần chiếm lại các vùng đất đã rơi vào tay quân Nhật trước đó. Trong những thời gian sau trận Midway, quân đội Nhật dần đi vào từ thất bại nầy đến thảm bại nọ để rồi cuối cùng phải đầu hàng vô điều kiện sau khi hai quả bom nguyên-tử Mỹ thả xuống Quảng Đảo (Hirosima) và Trường Kỳ (Nagasaki).

VII. Hàng Không mẫu hạm USS Midway CVB-41.

Để kỷ-niệm chiến-thắng mang tính lịch-sử nầy, Bộ Quốc-phòng và Bộ Hải Quân Mỹ đã đặt tên cho một chiếc HKMH mang tên USS Midway CVB-41 cũng như lấy tên Đô-Đốc Nimitz đặt cho chiếc HKMH khác là chiếc USS Nimitz CVN 68. Được đóng tại Công-ty đóng tàu Newport News Shipbuilding ở Newport News, Virginia, khởi công ngày 27-10-1943, hạ thủy ngày 20-3-1945, bà Bradford William Ripley, Jr. là mẹ đỡ-đầu. USS Midway CVB-41 ra khơi nhận nhiệm-vụ vào ngày 10-9-1945, hậu cứ ở Norfolk, thuộc Virginia.

USS Midway 2010 4

 

Cờ Việt Nam Cộng Hòa được treo trên cột kỳ đài chiến hạm ngang với cờ Mỹ
trong ngày Lễ Tưởng Niệm 35 năm ngày chiến hạm này đón người Việt di tản,
vào năm 2010, tại San Diego, California.

Sau khi vào vùng biển Caribbean, USS Midway CVB-41 tham dự chương trình huấn luyện cùng Hạm đội Đại-Tây-Dương. Đến tháng 9-1947, USS Midway phóng thí-nghiệm hỏa-tiễn German V-2, là lần phóng thí-nghiệm hỏa tiễn đầu tiên trên dàn phóng di-động. Đến ngày 29-10-1947, USS Midway CVB-41 gia-nhập vào Hạm đội 6, hoạt-động vùng Địa-Trung-hải. Ngày 6-2-1955, USS Midway CVB-41 gia-nhập Hạm Đội 7 hoạt-động vùng Tây Thái Bình Dương đến ngày 28-6-1955. Vào ngày 8-12-1958, USS Midway lần đầu tiên phóng hỏa-tiễn không-đối-không Sparrow 3. HKMH Midway trở lại Viễn Đông vào ngày 6-3-1965, xuất phát các phi vụ yểm trợ miền Nam Việt Nam đánh quân Bắc Việt xâm lăng, yểm trợ quân-đội Mỹ đang tham chiến tại chiến trường miền Nam.

Vào ngày 17-6-1965, khi hộ tống các phóng pháo cơ tấn công Yên-Phụ, Bắc Việt, Trung-Tá Louis C. Page và Đại-Úy Jack E. D. Batson, bay chiếc F-4B Phantom VF-21 cất cánh từ HKMH Midway đón đánh 4 chiếc Mig-17 của Bắc Việt, mỗi người bắn hạ một chiếc Mig của Việt Cộng, chiến thắng đầu tiên trên vòm trời Bắc Việt của quân lực Mỹ. Trở về Alameda trong vùng Vịnh San Francisco ngày 23-11-1965 để tân trang, USS Midway trở lại chiến-trường Việt Nam vào 18-5-1971. Các phi-cơ trên HKMH Midway, cùng với phi-cơ trên các HKMH USS Coral Sea (CV-43), USS Kitty Hawk (CV-63), USS Constellation (CV-64) đã oanh-tạc Bắc Việt từ Thanh-Hóa, Đồng Hới, Vinh đến Hòn Gai, Quảng Khê, Cẩm-Phả, Hải Phòng mãi đến cuối mùa Hè 1972. Ngày 5-10-1973. HKMH Midway sang đóng tại Căn cứ Yokosuka, Nhật. Ngày 19-4-1975, HKMH Midway, cùng với các chiến hạm USS Coral Sea, USS Hancock, USS Enterprise, USS Okinawa trực chỉ gần bờ Việt Nam trong cuộc triệt thoái khỏi miền Trung của QL.VNCH để yểm trợ theo thượng lệnh, khi cần. Trong ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay CSBV 30-4-1975, một số phi cơ của Không quân VNCH đã đáp xuống HKMH Midway để di tản tìm tự-do mà nổi bật nhất là Thiếu Tá Lý Bửng, với một chiếc L19 mà chở đến 8 người, đã đáp xuống HKMH Midway an toàn, trước sự kính phục của bao người, nhất là các quân nhân Mỹ hiện diện lúc đó, và sau nầy mỗi khi nghe kể lại.

USS Midway 2010 3(1)

Lễ Tưởng niệm tổ chức vào ngày 30-4-2010 trên boong chiếc USS Midway CVB-41.

Liên quan cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất, vào ngày 2-8-1990, Iraq xâm lăng nước láng giềng Kuwait, quân Mỹ chuyển đến Saudi Arabia, bắt đầu cho cuộc Hành quân mang tên “Desert Shield” để bảo vệ các nước trước sự xâm lăng của Iraq, USS Midway CVB-41 được lệnh trực chỉ vùng Vịnh. Ngày 15-11-1990, USS Midway CVB-41 tham dự cuộc hành quân “Sấm sét Khẩn cấp” (Operation Imminent Thunder) và 8 ngày sau đó, chiến hạm này tham dự cuộc tập trận quy mô với 1.000 TQLC Mỹ, 16 chiến hạm với hơn 1.100 chiến đấu cơ. Trong khi đó, LHQ ra lệnh hạn kỳ cho Iraq rút quân khỏi Kuwait là ngày 15-01-1991.

Lúc 9 PM ET (giờ miền Đông Hoa Kỳ) ngày 16-1-1991, sau khi đáo hạn mà Liên Hiệp quốc đưa ra nhưng Iraq không thi hành, trên chiếc USS Midway, Tổng-thống George H.W. Bush (cha) đọc diễn văn cùng quốc dân Mỹ thông báo cuộc chiến giải-phóng Kuwait khỏi ách xâm lăng của Iraq bắt đầu. Diễn văn của TTY Bush vừa dứt, Hải quân Mỹ phóng 228 hỏa tiễn từ USS Midway và USS Ranger CV-61 vào trận địa, khai diễn cuộc chiến tranh Vùng Vịnh I với chiến dịch mang tên “Bão tố sa-mạc” (Desert Storm). Sau đó, hơn 100 hỏa tiễn Tomahawk được phóng đi, tấn công địch quân để tiêu diệt các mục tiêu và yểm trợ cho cuộc chiến để đến lúc 9 PM ET ngày 27-2-1991, Tổng-Thống Bush tuyên-bố Kuwait được tự-do, cuộc chiến chấm dứt với chiến thắng thuộc về Liên-quân vào nửa đêm hôm đó.
Cuộc chiến vừa chấm dứt, USS Midway CVB-41 rời Vịnh Persian vào ngày 11-3-1991 trở lại Yokosuka. Vào tháng 8-1991, USS Midway CVB-41 khởi hành từ Yokosuka trở lại Trân Châu Cảng. Tại đây, USS Midway CVB-41 trao lại nhiệm vụ cho chiếc USS Independence và trở về North Island Naval Air Station ở San Diego vào ngày 11-4-1992, trong buổi lễ vinh danh với diễn giả chính (main speaker) là ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Dick Cheney. Trở về Hoa Kỳ, USS Midway CVB-41 đầu tiên, được neo tại Navy Inactive Ship Maintenance Facility, ở Bremerton, tiểu-bang Washington. Đến ngày 30-10-2003 bắt đầu cuộc hành trình từ Washington về San Diego, California để dùng như một bảo-tàng lịch-sử. Trên đường về, USS Midway CVB-41 ghé đậu (was docked) tại Charles P. Howard Terminal thuộc Oakland, California để sửa chữa. Vào ngày 10-01-2004, chiến hạm này neo tại Bến (Pier) Broadway, gần downtown San Diego và mở cửa đón công chúng vào xem vào ngày 6-6-2004. Trong năm đầu tiên, USS Midway CVB-41 chào đón 879,281 quan khách đến viếng, một con số kỷ lục.
Năm 2010, đánh dấu 35 năm ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, cũng là ngày 3.073 người Việt Nam được di tản từ Sài Gòn ra hàng không mẫu hạm Midway để đến định cư tại Hoa Kỳ, môt buổi lễ long trọng được tổ chức đúng ngày 30-4-2010 trên chiếc USS Midway CVB-41 nay là 1 Bảo tàng Viện đang neo tại bến cảng San Diego do Viện Bảo tàng này tổ chức. Thành phần tham dự ngoài những người trong số 3.073 người Việt đi tản qua Mỹ bằng chính chiến hạm này còn có những cựu chiến binh từng phục vụ trên chiến hạm này, những quan chức thành phố San Diego, những người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản khắp nơi về dự, các quan khách thuộc nhiều sắc dân khác.

Lễ khai mạc bắt đầu vào lúc 12 giờ trưa với nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ, hai bài quốc thiều được trình tấu do ban nhạc diễn hành của hai trường trung học Bolsa Grande và La Quinta ở quận Cam. Lần đầu tiên lá cờ Việt Nam Cộng Hòa được kéo lên song song với lá quốc kỳ Hoa Kỳ phất phới trên ngọn cao chót vót của chiếc HKMH.

Giám đốc viện bảo tàng Midway bày tỏ lòng hân hoan được đón tiếp các cựu chiến binh phục vụ trên chiến hạm Midway 35 năm trước cùng một số người Việt có mặt trong đoàn người di tản vào hôm ấy. Giới lãnh đạo chính quyền thành phố San Diego ca ngợi tinh thần tìm tự do của người Việt Nam từ năm 1975 cho đến nhiều năm sau này. Giám sát viên San Diego tuyên bố Hội đồng thành phố chấp thuận ngày 30-4 là “Ngày Tự do của San Diego”.

Cùng tham dự còn có cựu Hạm trưởng HKMH Midway, Đô Đốc hồi hưu Larry Chambers. Ông nói:

-“Đối diện với 4.000 người Việt nơi đây còn gay go hơn là chỉ huy hằng ngàn quân nhân trẻ tuổi của chiến hạm Midway 35 năm về trước”.

Ông tỏ ra xúc động khi nhắc lại ngày 30-4-1975, qua bài diễn văn được MC Thụy Trinh lược dịch. Bài nói chuyện được hoan nghênh nhiều nhất là của cựu thiếu tá không quân Lý Bửng, người lái một chiếc máy bay quan sát (L-19) cổ lỗ sỉ, chở vợ và 5 con từ Côn Sơn bay đại ra biển Đông tìm đường lánh nạn. Vị phi công của KQ/VNCH nầy nhớ lại:

-“Lúc cất cánh được chừng nửa giờ thì thấy nhiều trực thăng bay từ đất liền ra cùng một hướng. Ông bay tới hướng đó thì thấy HKMH Midway. Máy bay của ông không có máy liên lạc, ông chớp đèn cánh xin đáp nhưng tàu chớp đèn đỏ từ chối. Ông lượn sát boong tàu ném giấy buộc vào dao, vào cây sắt ba lần đều bị văng xuống biển, lần thứ tư buộc điệp văn vào súng ngắn ném xuống, cho biết có bảy mạng người trên phi cơ, may quá thủy thủ nhặt được và hai phút sau họ dọn dẹp boong tàu và chớp đèn xanh cho đáp. Ông đáp xuống thành công. Ông sợ mất luôn bằng lái máy bay sau khi đã mất nước thì lại được gắn bằng phi công Hải quân Mỹ, dành cho những phi công lái máy bay của hàng không mẫu hạm”.
Mảnh giấy xin lệnh đáp của ông Bửng, nội dung: “Các ông làm ơn dời chiếc trực thăng
sang bên kia cho tôi đáp xuống đường băng. Tôi có thể bay thêm một tiếng nữa,
chúng ta có đủ thời gian để dời. Làm ơn cứu tôi. Thiếu tá Bửng, vợ và 5 đứa con”.

Trong tiếng hát của ban hợp xướng Ngàn Khơi, bác sĩ Lê Thế Dũng, một người di tản ra tàu Midway ngày 30-4-1975, khi được hỏi về ý nghĩa buổi lễ trên tàu này, ông Dũng nói:

-“Tôi là Bác sĩ Lê Thế Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Người Việt San Diego. Buổi lễ hôm nay rất có ý nghĩa vì như anh thấy ở đây, đồng bào chúng ta sau 35 năm vẫn tấp nập đến tham dự buổi lễ và quan trọng hơn nữa là họ đến cầm lá cờ Việt Nam, cờ vàng ba sọc đỏ. Như vậy thái độ của họ đối với Cộng sản ở nước nhà rất rõ rệt. Chúng tôi muốn mang thông điệp về cho đồng bào nước nhà là họ phải tin rằng 35 năm sau, người Việt tự do ở nước ngoài vẫn còn nhớ đến đồng bào. Lần tới chúng tôi hy vọng sẽ tổ chức ngày tưởng niệm tại nước nhà.
Trong một buổi lễ mà chính những người Mỹ tổ chức tưởng niệm ngày 30/4 này cho thấy họ cảm thông được nỗi niềm tha thiết với tự do của người Việt. Họ đã phải bỏ tất cả mọi thứ để ra đi để tránh thảm họa của Cộng Sản mặc dù chưa biết tương lai sẽ ra sao. Như vậy, việc họ bỏ công vào việc tổ chức quả là việc làm xứng đáng vậy. Buổi lễ được xem là long trọng và thành công như mọi người mong đợi, đánh dấu 35 năm người Việt đến Hoa Kỳ đông đảo và cũng ghi dấu ngày toàn cõi đất nước rơi vào thảm họ Cộng sản.

Sau 47 năm phục-vụ tổ-quốc, hơn 200.000 chiến-sĩ phục vụ trên tàu, tham dự nhiều chiến dịch hành quân quan trọng, USS Midway nhận được các huy-chương cao quý sau đây: Presidential Unit Citation, Navy Unit Commendation, U.S. Navy & Marine Corps Expeditionary Medal; Navy Occupation Service Medal; China Service Expeditionary Medal and Vietnam Service Medal cùng rất nhiều huy chương khác cho chiến hạm ngoài các huy chương tưởng thưởng cho các quân nhân phục vụ trện tàu được trao tặng từ chính phủ Mỹ, từ Hải Quân Hoa Kỳ hay các chính phủ khác mà USS Midway CVB-41 đã có dịp phục vụ đem lại lợi ích cho đất nước họ, trong đó có Việt Nam Cộng hòa và nhất là những người dân được USS Midway CVB-41 mang họ đến tỵ nạn khi miền Nam Việt Nam mất vào tay Việt Cộng.

Tên của HKMH USS Midway CVB-41 được dời khỏi danh sách những chiến hạm hiện tham chiến của Hải-quân Mỹ vào ngày 17-3-1997.

VIII. Lời kết.

Trận Midway là trận hải chiến hàng không mẫu hạm lớn thứ nhì trong thế chiến thứ hai nhưng là trận chiến “then chốt” có tính “quyết định chiến trường” ở châu Á, cũng là quyết định thế chiến thứ hai vì nó đã làm thay đổi cán cân quân sự giữa hai bên tham chiến. Trận Midway, tiếng Việt nghĩa là “giữa đường” như cái tên của nó, đã ấn định hai con đường – một sự “trùng hợp tình cờ nhưng thú vị” cho hai phía: một con đường để bắt đầu đi đến “chiến thắng” chung cuộc và đường kia, con đường “chiến bại”. Các đảo san hô ở Midway và trời mây non nước nơi đây đã chứng kiến và tiễn đưa linh hồn của các quan quân Nhật tham chiến trận nầy đi vào lòng đại dương bao la cùng với những tiếng hờn phẫn uất của họ vì đã hy sinh mạng sống để phục vụ cho tổ quốc và cho Nhật Hoàng nhưng không được như ước nguyện. Tuy nhiên, có lẽ đây là một kết cuộc “hên” cho họ bởi với tinh thần “võ sĩ đạo”, họ được chết nơi chiến trường để khỏi phải thấy cái ngày phái đoàn quan chức Nhật hiện diện trên chiếc thiết giáp hạm Missouri của “kẻ thù” Mỹ đậu trong vịnh Tokyo để ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện đồng minh, chấm dứt thế chiến thứ hai. Nếu còn sống, có lẽ nỗi đau đó còn “thê thảm” với họ hơn vậy.

Lê Chánh Thiêm
California 2004, (có thêm và sửa đổi).

Ghi chú:

(1) Sau khi tấn-công TCC, Đô Đốc Yamamoto đã nói một cách lo-lắng: “Tôi e rằng những gì chúng ta đã làm đã đánh thức gã khổng lồ đang ngủ và làm cho hắn có những quyết định khủng khiếp” (I fear all we have done is to awaken a sleeping giant and fill him with a terrible resolved).

(2) Cấp Tướng của Mỹ được mang 5 sao trong thời chiến (wartime) ở các chức vụ cao để chỉ-huy (các tướng 4 sao khác). Trong Lục và Không quân gọi là General of the Army/ Air Force (Thống Tướng), trong Hải quân gọi là Fleet Admiral (Thủy Sư Đô Đốc). Khi chiến cuộc chấm dứt, họ trở về mang lại 4 sao.

(3) USS Hornet: Chiếc HKMH mang tên Hornet nói trong bài nầy là chiếc USS Hornet 2. Chiếc USS Hornet 1 (1805-1829) là chiếc CV-8, được võ trang tháng 10-1805 tại Baltimore, Maryland. Trong trận chiến ở Santa Cruz, khi rời Tampico, Mexico vào 29-9-1829, chiếc Hornet bị gãy cốt buồm chính trong một trận bão và bị chìm, mang theo trọn vẹn thủy thủ đoàn. Đến tháng 10-1942, Hải-quân Mỹ đổi tên chiếc CV-12, trọng tải 27.100 tấn, dài 872 feet, vận-tốc 33 hải-lý/giờ thành tên USS Hornet. USS Hornet do Newport News Shipbuilding & Dry Dock Co., ở Newport News, Virginia đóng. Mẹ đỡ đầu là Bà Bộ trưởng Hải quân Frank M. Knox.

(4) Mật mã số có tên là Japanese Navy-25 Code (JN-25). Đây là kiểu mật-mã mà Nhật cho là kín-đáo nhất (most secret), JN-25 có khoảng 33.000 câu, chữ và số, được chia thành nhóm 5 số, có sẵn trong code book (bản mật mã). Ví dụ:
97850 = SUBMARINE
38659 = TOMORROW
45261 = AUSTRALIA
29640 = RECONNAISSANCE
24713 = URGENT
ghép lại thành câu: URGENT SUBMARINE RECONNAISSANCE AUSTRALIA TOMORROW viết thành code như sau: 24713 97850 29640 45261 38659. Các chữ nào không có trong code book, dùng số cho các mẫu tự Nhật. Căn-cứ vào “sách ám-hiệu” (cipher book), người ta tra cứu theo trang, cột, dòng… rồi thay đổi theo code để viết thành nhóm 5 số, ghép lại thành văn bản.

(5) Khi chưa có máy chạy bằng động cơ Diesel (dầu cặn), người ta dùng máy chạy bằng hơi nước. Người ta chế tạo một nồi kín, thật lớn, nấu nước sôi lên trong nồi, nước sôi tạo nên một áp-suất để tạo ra công năng, qua một then chuyền làm chuyển-động máy, gọi là “nồi súp de”.

(6) Sau khi 4 chiếc HKMH của Nhật bị đánh chìm thì chiếc Yorktown tuy bị bắn phá nhưng vẫn chưa bị chìm, còn có thể được cứu. HKMH Xích-Thành (Hiryu) của Nhật bấy giờ là HKMH sống sót sau cùng trước khi bị bắn chìm đã ra lệnh các máy bay ném bom bổ nhào tấn công và gây thiệt hại nặng cho Yorktown. Tuy vậy, nó được sửa chữa lại rất nhanh, mau đến nỗi đợt tấn công thứ nhì của các máy bay ném ngư lôi tưởng nó còn nguyên vẹn. Các chỉ huy của Nhật hy vọng diệt trừ các HKMH Mỹ bằng hai đợt tấn công nhưng HKMH Yorktown chịu đựng được cả hai đợt tấn công, không bị chìm và Lực lượng Đặc nhiệm 16 trên nó thoát được mà không bị tổn thất. Đô đốc Fletcher phái một đội tàu đến cứu, dự trù kéo Yorktown về Trân Châu Cảng. Bất hạnh thay, chiếc tàu ngầm I-168 của Nhật lại lọt qua được vành đai bảo vệ gồm 4 khu trục hạm để đánh đắm chiếc Yorktown trong lúc đang được cứu. Loạt ngư lôi đó còn đánh chìm chiếc Hammann vào chiều ngày 7-6, một hộ tống hạm được lệnh ở lại trợ giúp cho Yorktown. Khi các thám thính cơ thấy được chiếc Hiryu, 2 HKMH Mỹ là Enterprise và Hornet được lệnh đến để “tiễn đưa” chiếc HKMH Hiryu vào lòng đại dương bằng bom đạn và ngư lôi để theo cho kịp 3 “anh em” nó: Akagi, Kaga và Soryu, cho “chẵn đôi, đủ cặp”, để cùng với 12 tuần-dương hạm, 253 máy bay cùng 3.500 sĩ-quan và binh-sĩ Nhật đồng loạt chầu Diêm đế nhưng không kịp hô “Thiên-Hoàng vạn tuế!” (Tenno Heika Banzai).

(7) Là tổng hành dinh của Yamamoto.

Tài liệu tham khảo:

– US Navy.
– WW II.
– Imperial Japanese Navy.
– Office of Naval Research.
– Navy Newsstand.
– History of US Navy.
– Tài liệu tổng hợp.

(a) Imperial Japanese Navy.
Japanese Navy= tiếng Nhật: Nihon Kaigun.
Imperial Navy= tiếng Nhật: Teikoku Kaigun.

(b) “Tenno Heika Banzai” (Thiên Hoàng vạn tuế)

* * *

Related feature:

Rex T. Barber, Pilot Who Downed Yamamoto, Dies at 84
By RICHARD GOLDSTEIN
Published: August 01, 2001

Rex T. Barber, a World War II fighter pilot who was a central figure in the storied 1943 mission that resulted in the death of Adm. Isoroku Yamamoto, the architect of the Japanese attack on Pearl Harbor, died on Thursday at his home in Terrebonne, Ore. He was 84.

The shooting down of the bomber carrying Yamamoto, the commander of the Japanese fleet, was a triumph of military intelligence and flying skills. It also generated a longstanding controversy. At issue was which pilot downed Yamamoto.

American intelligence, having broken Japanese naval code, read a message stating that Yamamoto would leave Rabaul, New Britain, on the morning of April 18, 1943, for an inspection of troops stationed off Bougainville in the Solomon Islands..

Sixteen Army Air Forces fighter planes were dispatched from Guadalcanal on a flight of more than 400 miles to Bougainville with hopes of downing Yamamoto’s bomber as it prepared to land. Killing the admiral would not merely avenge the surprise Pearl Harbor attack of Dec. 7, 1941, but would also deprive Japan of its foremost naval strategist and a national hero.

The P-38 Lightning fighters flew for some two and a half hours, skimming the waves to avoid coastal spotters and enemy radar. The pilots arrived over Bougainville soon after 9:30 a.m. and, just as expected, spotted Japanese planes aloft. But they were surprised to see not one, but two Mitsubishi bombers, or Bettys. The bombers were accompanied by six Zero fighter planes.

Capt. Thomas G. Lanphier Jr. led three other pilots — Mr. Barber, then a lieutenant; Lt. Besby F. Holmes and Lt. Raymond K. Hine — in pursuit of the bombers, while the other 12 American fighters concentrated on the Zeros.

The lead bomber, carrying Yamamoto, was shot down and crashed into a jungle, killing everyone aboard. The other bomber, carrying Yamamoto’s chief of staff, Vice Adm. Matome Ugaki, was sent into the sea, but Ugaki scrambled out and made it to shore.

Mr. Barber’s plane was riddled with more than 100 bullet holes, but the lieutenant made it back to Guadalcanal. The only American pilot lost was Lieutenant Hine, whose plane disappeared during the battle.

Recounting his role long afterward, Mr. Barber remembered how ”we saw the Zeros coming down.”
”Tom took a 90-degree turn and went up after them,” he said, referring to Captain Lanphier. ”I banked slightly and lost sight of the Bettys. When I came out of it, I was right behind the lead Betty.”

Mr. Barber continued, ”I started shooting across the tail into the right engine. Pieces of the cowling flew up and hit me. The Betty slowed up so much I almost hit it. After I had passed it, I looked behind me and saw some black smoke. I thought it might be the Betty I shot.”

The Japanese announced Yamamoto’s death in May 1943 and gave him a state funeral. The American authorities did not tell of the raid until the war ended, to avoid tipping off the Japanese that their code had been broken.

In September 1945, the War Department gave Mr. Lanphier, by then a lieutenant colonel, sole credit for shooting down Yamamoto, based on his account that he hit the lead bomber with a burst of fire that sheared off a wing. He wrote of his exploit in first-person newspaper articles and became a hero.

But in 1973, the Air Force decided that Mr. Barber had not been properly credited in the downing of Yamamoto. It took away sole credit from Mr. Lanphier and gave each man half credit, determining that both pilots had shot up the admiral’s plane. Neither fighter had a camera on the gunsight, precluding certainty as to who did what.

That belated ruling received little publicity, and when Mr. Lanphier died in 1987 he was remembered as the pilot who shot down Yamamoto. Mr. Barber, who also gained half credit, together with Lieutenant Holmes, for downing Ugaki’s plane, eventually sought to gain sole credit for the shooting down of Yamamoto. But the Air Force stood by its belated shared recognition, and in 1996 a federal appeals court rejected Mr. Barber’s request for intervention.

Rex Barber, a native of Culver, Ore., joined the Army Air Forces after attending Oregon State University. He flew fighter missions on Guadalcanal and in China, where he was shot down in 1944, then eluded Japanese troops. He had five ”kills” in World War II, making him an ace, then flew in the Korean War. He received the Navy Cross for the Yamamoto mission and was also awarded two Silver Stars. He retired from the Air Force in 1961 as a colonel.

He is survived by his wife, Margaret, two sons, two sisters and three grandchildren.

As for the long-running controversy, Julius Jacobson, another of the pilots on the Yamamoto mission, remarked in 1997, ”There were 15 of us who survived, and as far as who did the effective shooting, who cares?”

Donald B. Rice, then the secretary of the Air Force, said in 1993: ”Historians, fighter pilots and all of us who have studied the record of this extraordinary mission will forever speculate as to the exact events of that day in 1943. There is glory for the whole team.”

Photo: From left, Capt. Thomas G. Lanphier Jr., Lt. Besby F. Holmes and Lt. Rex T. Barber of the Army Air Forces, the day after their successful mission to shoot down Adm. Isoroku Yamamoto in April 1943. (United States Air Force)

Source: http://www.nytimes.com/2001/08/01/us/rex-t-barber-pilot-who-downed-yamamoto-dies-at-84.html

* * *

This entry was posted in Tài liệu, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s