hoànglonghải – Tết tù (bài 2) “Chào mừng Mẹ Việt Nam”

Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây…
Mang giòng họ của Lê Lý Nguyễn Trần
Mẹ dưỡng nuôi con giòng sữa Bắc Trung Nam
Con của Mẹ đều một giống da vàng
Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn

(Nguyễn Ánh 9)

Tết năm Canh thân, năm1980, đội văn nghệ Trại A ở trên đồi Phượng Vĩ, “chơi” một đòn ngoạn mục.

Để chuẩn bị “vui chơi ba ngày Xuân”, trại cải tạo Z-30A thành lập một “Đội Văn Nghệ” để đi trình diễn ở các phân trại, giúp vui cho “tù cải tạo.” Lúc nầy tài tử hề Khả Năng chưa về Trại Đá. Sau khi về Trại Đá được một thời gian ngắn, anh được chuyển qua “Trại Cây” để tham gia Đội Văn Nghệ.

Trước đó, soạn giả Yên Lang đang ở “Trại A” (đồi Phượng vĩ). Đội trưởng văn nghệ, nôm na gọi là ông bầu, là “Bầu Trừ”, tên thực là Nguyễn Văn Trừ. Ông nầy là con trai ông Nguyễn Phú Hải, đốc phủ sứ, từng làm Đô Trưởng Saigon Chợ Lớn thời “Ngô Tổng Thống muôn năm.”

Trước tết mấy hôm, “Đội Văn Nghệ diễn ở hai nơi: Trại A cũ  (trên đồi Phượng Vĩ) và Trại B (Trại Cây) xong về đón giao thừa, “ăn tết”.

Việt Cộng làm nhiều trò mâu thuẫn, kỳ cục. Lao động mỗi ngày 8 tiếng. Ít khi được đi làm khổ sai mỗi tuần 5 ngày mà thường là 6 ngày, – đi lao động luôn cả ngày thứ bảy là thường -. Tệ hơn nữa, năm 1980, Phạm Tuân “lên” không gian, để “mừng thắng lợi” việc nầy, chủ nhựt chúng tôi cũng đi lao động luôn. Như vậy, lao động mỗi tuần “chỉ có” 7 ngày mà thôi.

Xin kể lại một chút:

Tôi không nhớ rõ thời gian nào, nhưng suốt mấy tuần liền, chúng tôi phải đi lao động một tuần 7 ngày thay vì 6 ngày như thời gian trước, để “Mừng đồng chí Phạm Tuân lên không gian thắng lợi”, đem “bèo hoa dâu” lên nghiên cứu về sự phát triển của nó trong vũ trụ! Nghe “quê” dữ!!!

“Lao đông là vinh quang” suốt 7 ngày một tuần, không có ngày nào được ở nhà để giặt quần áo, nên anh em chúng tôi than cũng dữ và chưởi Phạm Tuân cũng không ít. Do thân nhân lên thăm nuôi, chúng tôi biết thêm một số chuyện tiếu lâm của đồng bào miền Nam về chuyến bay của Phạm Tuân. (1)

Thế rồi bỗng một hôm, bên hông tường lớn, vách hội trường đang xây, có môt bức tranh bằng than đen, vẽ một anh chàng khổng lồ cưỡi xe đạp, ngồi phía sau là một thằng bé con. Thằng bé con được ghi chú là Phạm Tuân, còn anh chàng khổng lồ ngồi phía trước đạp xe, được ghi chú là “Go-Rơ-Bát-Xì-Cô”, (theo cách viết của báo chí “cách mạng”, tên thực của y là Viktor Gorbatco), tức là người lái phi thuyền Soyuz 37.

Hai ông trật tự Phạm Văn Tài và Dương Tấn Hải được lệnh chùi sạch bức hình đó và lấy vôi quét lại, xóa mất hình vẽ.

Lao động trong trại tù cải tạo gian khổ như thế nào, ai ai cũng biết, xin khỏi nói thêm để khỏi dông dài, nhưng ăn thì ngày nào cũng giống ngày nào: Sáng, một củ khoai lang, trưa một khúc khoai mì, chiều một chén khoai mì lát.

Xin nói thêm về việc ăn khoai mì lát một chút. Khoai mì chúng tôi ăn là khoai mì do chúng tôi trồng, nhổ về, ăn không kịp thì xắt lát, phơi khô, cho vào kho ăn dần. Khoai mì chấm với “nước mắm đại dương”, đảng và nhà nước chỉ tốn có chút muối mà thôi. Nếu tính chuyện lời lỗ, thì Việt Cộng chẳng lỗ bao giờ mà lời “quá cha bọn địa chủ bóc lột”!

Cũng vì ăn khoai mì nhiều quá, Bùi Xuân Tiếm, quê ở Bình Định, khác đội nhưng ở chung nhà với đội tôi, mỗi tối, ngồi ở tầng trên, anh ta nhại câu hát “Tổ quốc ơi ta yêu người mãi mãi” thành:

“Tổ quốc ơi! ăn khoai mì mãi mãi.

Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn dài dài.” (2)

Bùi Xuân Tiếm có lần bị cán bộ gọi “làm việc” vì những câu anh hay nói nhại, nói đùa, khi anh đọc báo Tin Sáng của Ngô Công Đức, mà lại đọc rất to:

“Bây giờ là thời kỳ “hiện đại hóa” (anh đọc là quá – theo giọng Nam, mặc dù anh là dân Bình Định). Nhà nước ta chủ trương “Cơ giới quá” (hóa), “Điện khí quá (hoá)”. Rồi anh nói một hơi “Đói quá (hóa), khổ hóa (quá), chán hóa (quá), nản hóa (quá).

Cả phòng, nghe nói nhại, cười rần rần. Công An đi tuần bên ngoài chú ý, ghi tên anh ta.

Ăn uống như vậy nhưng ở cổng trại, trước hội trường, Công An bắt trồng hoa. Thế nên ai cũng than: “Đói thấy mẹ còn xem hoa nỗi gì?”

Bây giờ tới tết, mỗi người một “miếng thịt heo ruồi tha”, cơm lưng chén (không phải lưng bát. Bát to hơn chén) mà còn xem văn nghệ. Người ta lại nói cái câu như cũ: “Đói thấy mẹ còn xem văn nghệ nỗi gì.”

Đêm giao thừa, ở Trại A, từ một gian rồi hai gian, ba gian… tù cải tạo đồng loạt hát, mà hát rất to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…”

Công An đi tuần ngoài hè, không nói một lời.

Sáng mồng một, sau khi “mở chuồng”, tù cải tạo rửa mặt ăn sáng xong thì từ “Đội Văn Nghệ”, một toán hơn mười người đi ra, có biểu ngữ giương cao: “hoan nghênh Mẹ Việt Nam thăm tù cải tạo”, có một “anh chàng”, tên Chương, ăn mặc giả trang một bà mẹ già quê mùa, nghèo khổ, áo tứ thân đi thăm tù. Mẹ đi có kèn, có “Nhạc Sĩ Tù Ca “Dục què” (3) cầm đàn đi theo Mẹ tấu nhạc, có Võ Phước Thọ đi đầu dẫn đường, có Nguyễn Văn Huề (4) đi kèm hộ tống. Vậy là Mẹ đi từ lán (longhouse) nầy qua lán khác.

Mẹ đứng trên cao, chúc tết các con mạnh khỏe, khỏi ốm đau, hãy mạnh dạn tin tưởng vào lý tưởng của mình, chúc “các con” mau trở về với gia đình, v.v…

Vậy là “các con” (tù cải tạo) hoan hô Mẹ, và giống như tối qua, lúc giao thừa, tất cả cùng hát to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…” Hết bài hát đó thì tới “Việt Nam quê hương ngạo nghễ…” của Nguyễn Đức Quang.

Cảnh tượng rất cảm động, thậm chí có anh em vừa hát vừa khóc.

Công An chỉ đóng cổng lớn. Quản giáo, vệ binh không ai vào trại. Biết rằng chúng nó đang nằm im để chực “vồ” lại, nhưng xem ra “tù cải tạo” chẳng ai sợ. Có người, khi biết như thế, lên gân: “Chơi rồi! Chơi luôn!”

Hai ngày sau, bọn cai tù, đứng đầu là tên cáo già trung tá Công An Việt Cộng Trịnh Văn Thích, 25 năm kinh nghiệm coi tù, bắt đầu phản công.

Trước tiên, chúng gọi “Bầu Trừ” lên điều tra, giữ lại luôn, không cho về. Thứ đến là Chương, người đóng vai Mẹ Việt Nam, rồi tới phiên Thọ, người dẫn đường, nhạc sĩ “Dục què”, Người thổi kèn, anh đánh trống, người chơi Guitar, lần lượt vô cát-xô.

Sau 3 ngày Tết, đi lao động trở lại.

Buổi sáng, như thường lệ, sau khi nghe kẻng, mấy chục đội tơi nón ra ngồi sắp hàng ở cái sân lớn, chờ gọi tên từng đội.

Công An gọi tên đội thứ nhứt. Đội rục rịch đứng dậy, thì Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Nhảy Dù, “can tội Phục Quốc” đứng lên hô hào:

– “Anh em không nên đi lao động hôm nay. Yêu cầu ban giám thị trại giải quyết trường hợp các anh em trong “Đội Văn Nghệ”, hiện bị giam ở cát-xô. Cho họ về, chúng ta mới đi lao động.”

Mọi người vỗ tay hoan hô!

Nhưng Trịnh Văn Thích quỷ quyệt hơn. Một mặt y cho vệ binh dàn ra ở cổng trại, đạn lên nòng, khủng bố tinh thần. Mặt khác, y ra lệnh cho quản giáo tới từng đội để đe dọa, khuyến khích, đi lao động.

Quản giáo đội nào làm việc với đội trưởng đội đó. Mặt khác, Trịnh Văn Thích xuất hiện ngay cổng, hứa (cuội) to lên rằng:

“Những anh em đang bị giam ở cát-xô không có tội gì hết. Chẳng qua, vì mấy ngày tết, việc điều tra chưa kết thúc nên tạm giữ ở cát-xô vậy thôi. Nội sáng nay, trong khi “anh em đi lao động, ở nhà, chúng tôi sẽ xét lại từng cá nhân và sẽ cho về.”

Xong xuôi, y cho lệnh cán bộ trực trại gọi từng đội đi lao động. Thêm sự đôn đốc của quản giáo, từng đội đứng lên đi ra cổng.

Cuối cùng, chỉ còn một mình Huề đứng chơ vơ giữa sân.

Bấy giờ Trịnh Văn Thích cho một toán Công An vào vây quanh Huề, vật anh ta xuống, còng tay dẫn đi.

Một người, dù cao lớn như Huề, đói ăn đã mấy năm, làm sao chống lại mấy tên Công An lực lưỡng.

Những đứa con yêu của Mẹ Việt Nam nằm dài trong cát-xô, vừa tối, vừa lạnh, vừa đói, không biết bao giờ mới được thả ra…

Sau đó ít lâu, đội Văn Nghệ bị chuyển vào “Trại Đá” ở chung cùng phòng với đội chúng tôi.

hoànglonghải

(1) Phạm Tuân là phi công, phi hành gia của Việt Cộng. Ông là người Việt Nam đầu tiên bay lên vũ trụ vào năm 1980, trong chương trình có tên là Intercosmos của Liên Xô. Phạm Tuân được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Theo trung úy Việt Cộng Trần Đức Ước, (trại L3-T3 Long Giao) thì Phạm Tuân là người bắn hạ B-52 “rụng như sung”, nhờ Phạm Tuân biết cách phục kích, cho máy bay “đậu trên mây” chờ B-52 của Mỹ bay tới thì xông ra phục kích.

(2) Tù cải tạo chúng tôi trồng khoai mì, một ít được phát ăn liền, củ khoai còn tươi. Phần còn lại, xắt lát, ăn dần. Vì cất giữ chưa lâu, lát khoai mì còn trắng.

(3) Nhạc sĩ Nguyễn Tăng Dục, (Dục què) trước 1975 thuộc ban quân nhạc Hải quân VNCH, bị bắt về “tội Phục Quốc”, vào cát-xô bị đánh què một chân vì đã vào tù còn sáng tác nhiều bài “Tù Ca”. Bị què, Dục phải một tay cầm đàn, một tay cần gậy, trông rất tội nghiệp.

Sau khi đi tù cải tạo về, anh đến thăm tôi khi tôi trốn ở đường Trương Minh Giảng. Nhà anh ở Thủ Thiêm, rất khó tìm nên sau lần gặp đó, chúng tôi mất liên lạc. Anh thuộc “thành phần Phục Quốc” không được định cư ở Mỹ theo cái gọi là HO dù anh ở tù gần 5 năm.

(4) Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Sư Đoàn Dù, bị bắt vì “can tội Phục Quốc”, cũng không được định cư Mỹ như Dục. Cách đây mấy năm, anh Trần Phú Trắc ở Nam Cali đứng ra quyên góp “bạn tù” cũ, kẻ ít người nhiều để giúp Huề. Sau khi được tha ra khỏi tù, Huề bị bệnh bại liệt toàn thân. Không rõ bây giờ anh còn sống hay đã qua đời.

This entry was posted in Hồi ký từ địa ngục, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s