‘Lá Thư Báo Tử Muộn Màng’

Sài Gòn, những ngày cuối Tháng Tư, thời tiết khô nóng, nhiệt độ và nhịp sống đầy các vấn nạn có lúc vượt quá sự chịu đựng của con người. Cũng chính trong những ngày trung tuần Tháng Tư này, bà quả phụ cố thiếu tá binh chủng Nhảy Dù quân lực VNCH, bà Nguyễn Thị Hồng, lại rơi vào cơm trầm cảm nặng nề.

alt
Sĩ quan Dù Ðặng Ðình Tựu và người yêu Nguyễn Thị Hồng. (Hình: Gia đình cung cấp)

 
Người con gái út của cố Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu, cô Ðặng Nguyễn Uyên Quỳnh, sinh năm 1973, kể: “Khi biết tin ba mất, mẹ phát bệnh trầm cảm và mất ngủ suốt từ đó đến bây giờ. Còn khi chưa biết tin, mẹ vẫn đinh đinh ba còn sống, rằng ông chỉ mất tích hay đi tù cải tạo thôi và có ngày ông sẽ về với gia đình.”
Trớ trêu thay, tin tức về người sĩ quan binh chủng Nhảy Dù VNCH làm tròn phận sự với tổ quốc chỉ được đến từ một bài báo, được viết bởi một đồng đội đang định cư ở Hoa Kỳ. Bài báo viết vào năm 1995, tựa đề “Lá Thư Báo Tử Muộn Màng,” như một cách báo tin cho bà Nguyễn Thị Hồng.
Từ khi tiếng súng của trận đánh cuối cùng ở phi trường Thành Sơn, Phan Rang, nơi Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu và đồng đội nằm lại với những ngọn đồi khô cằn sỏi đá, phải 20 năm sau biến cố 1975, người vợ và hai đứa con gái bé nhỏ của ông mới chính thức được biết chồng và cha mình đã hy sinh.

alt
Bà quả phụ Nguyễn Thị Hồng trong những ngày Tháng Tư, 2016. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Người quả phụ và giấc mơ
Trong căn nhà chung cư của cô con gái út nhìn ra hướng cầu Chữ Y, bà quả phụ Nguyễn Thị Hồng tiếp chúng tôi với nụ cười nhân hậu của một người chị lớn. Cảm xúc đầm ấm từ nụ cười của bà dường như có năng lực khiến chúng tôi, hai cô con gái và anh con rể út của bà, như được trở ngược lại quá khứ.
Bà Hồng, nói bằng giọng Bắc: “Năm 1965, tôi quen anh Tựu lúc còn là học sinh ở Quảng Ngãi. Anh ấy cũng là người Bắc di cư, sau đó chúng tôi lại có duyên gặp nhau ở Sài Gòn. Năm 1969 thì cưới. Là vợ quân nhân, anh ấy đi trận suốt, mỗi khi về phép thì về ở nhà bố mẹ tôi, chúng tôi nào đã có nhà riêng gì đâu.”
Những ngày đầu Tháng Tư 1975, bà không còn nhận được tin về chồng. Ôm con nhỏ trên tay bà lên xuống Bộ Tư Lệnh sư đoàn hỏi tin chồng nhưng không ai biết, nhưng chưa bao giờ bà tin chồng mình đã tử trận.
Niềm tin đó mãnh liệt tới mức vào những năm đầu khi Sài Gòn sống dưới chế độ chuyên chế và bao cấp kinh tế, ngày thường bà làm công nhân một hãng dược, ngày nghỉ bà cặm cụi đạp xe đạp xuống tận Long An để mua bán trong cảnh giấu giếm từng ký gạo để có thêm ít tiền nuôi con. Có khi bị xét bắt hết sạch vốn, bà ngồi khóc một mình, rồi bà lại chắt chiu từng đồng lương công nhân để có vốn mà tiếp tục đạp xe mua “gạo lậu” nuôi con. Những năm tháng khắc nghiệt ấy, dù bà con họ hàng có gợi ý nhưng chưa bao giờ bà nghĩ mình sẽ bước thêm bước nữa để có người đỡ đần.

alt
Bà Nguyễn Thị Hồng và cô con gái út, Ðặng Nguyễn Uyên Quỳnh. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Ðột nhiên bà hướng về chúng tôi, nói như người mộng du: “Tôi còn giữ tờ báo ấy đấy, bao năm thì tôi không nhớ, nhưng tôi còn giữ bài báo ấy đấy.”
Theo lời cô con gái út, từ ngày nhận được bài báo với sự xác nhận của đồng đội về cái chết của Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu, đêm nào bà Hồng cũng khóc. Sự rõ ràng về cái chết của chồng, có lẽ không phải để cuộc đời bà lật sang trang khác mà khiến bà sống lại những tháng ngày hạnh phúc cũ.
Bà Hồng kể bằng giọng nghẹn ngào: “Trước đấy tôi không nằm mơ thấy anh, nhưng từ ngày đọc bài báo, đêm nào tôi cũng mơ thấy anh về. Anh vẫn mặc đồ lính, anh nói với tôi, anh còn bận hành quân chưa về được, hôn con giúp anh. Rồi anh đi. Ðêm nào tôi cũng thấy cùng giấc mơ ấy.”
Lúc bà Hồng kể, chúng tôi nhìn thấy hai bàn tay gầy guộc của bà run rẩy. Cô Quỳnh, cô con gái út của bà Hồng, không giấu được xúc động, nói với mẹ. “Mẹ ơi! Con chưa bao giờ biết mặt bố, con thèm được gọi một tiếng bố biết bao nhiêu!”

alt
Bản sao tờ báo in ở Hoa Kỳ năm 1995, do đồng đội của Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu viết như một cách báo tin cho bà Hồng biết rằng chồng đã hy sinh. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Nhờ một chân công nhân mà gia đình neo đơn của bà Hồng có được căn nhà 20 mét vuông để đùm bọc nhau tồn tại.
Cô Quỳnh kể, lúc đi học, trong lý lịch học sinh cô khai là bố mất tích và luôn được sự đồng cảm của thầy cô. Lớn lên nghe mẹ và họ hàng kể về bố và tìm hiểu thêm về binh nghiệp của bố, cô rất tự hào về bố mình.
Những thế hệ thanh niên miền Nam sau chiến tranh có thể do sợ hãi và bị tuyên truyền nên những thập niên đầu sau biến cố 1975 họ có phần nào đó mặc cảm, nhưng cái thời ấy đã qua rồi, lý tưởng Tự Do và chính nghĩa Quốc Gia mà những người thân yêu họ phụng sự lại trao cho họ điểm tựa và đức tin.
Khi chúng tôi tạm biệt bà quả phụ của cố Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu thì được biết hàng năm gia đình lấy ngày 16 Tháng Tư làm ngày giỗ ông.
Hơn 40 năm sau chiến tranh, luôn có những ngày giỗ các tử sĩ VNCH trong các gia đình để kính tưởng các anh linh. Không ai lại đi so sánh hơn kém nỗi buồn đau ngay trong thời chiến tranh hay nỗi buồn đau kéo dài suốt thời hậu chiến. Nhưng người ta có thể biết chắc một điều là tình yêu và nghị lực từ nỗi đau mất người thân của các gia đình VNCH đang sống trong nước cứ lớn dần mỗi lần làm giỗ và đó là cách giữ cho người sống hôm nay ký ức về người thân và lý tưởng họ phụng sự, và cây cầu ký ức đó sẽ không bao giờ gãy trong ánh sáng của sự thật lịch sử.

Liên lạc tòa soạn: Editors@nguoi-viet.com

This entry was posted in Tản Mạn, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s