Chân mềm trên đá

Nguồn Newvietart.com

Nhật Ký Hồ Thủy

Chương 1 cho đến chương 5

15/03/1975

Gia Lai Kontum là một tỉnh lớn của cao nguyên trung phần Việt Nam, với diện tích là 23,536m2; nơi có một vị trí đặc biệt thuận lợi: Phía Đông giáp ranh Quảng Ngãi Bình Định, Tây giáp biên giới Lào, Phía Nam giáp Đắk Lắk (Ban Mê Thuộc). Đó là một cao nguyên rộng lớn ở độ cao 1480km, thị xã Pleiku nằm giữa ngã tư giao lộ của Quốc Lộ 14 và 19. Từ thành phố Pleiku theo Quốc lộ 14 đi về phía Nam sẽ đến Đắk Lắk, ngược lên phía Bắc là đến Quảng Nam Đà Nẳng, nếu theo Quốc lộ 19 về hướng Đông sẽ gặp Qui Nhơn, còn theo hướng Tây sẽ đến biên giới Lào.

Pleiku là một thành phố nhỏ bé “Đi dăm phút trở về chốn cũ “nhưng Pleiku lại có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Biển Hồ, thác Yaly, đèo Mang Giang. Phố chính với con đường nhỏ có hai hàng thông già cao vút “Lặng đứng hứng bụi xa”, về mùa nắng Pleiku bụi đỏ mù trời, mờ mắt, mùa mưa thì sình lầy bám nặng gót giày, bùn lấm chân. Vừa ra khỏi thành phố tầm nhìn của ta không còn bị giới hạn; không gian bao la với những đồi cỏ xanh mướt chạy dài và những nương rẫy ngút mắt. Ngoài những cảnh đẹp thiên nhiên, Pleiku còn là nơi đóng quân của SĐ 23 bộ binh, căn cứ chính đặt tại Kontum. Gồm các đơn vị Biệt Động quân, Lôi Hổ. Nổi tiếng là đơn vị Pháo Binh trấn ở núi Hàm Rồng; Pleiku còn có Sư Đoàn 6 Không Quân với phi trường Cù Hanh đìu hiu buồn bã.

Tôi đến Pleiku vào một chiều cuối tháng 9 – 1973 với tờ Sự Vụ Lệnh trong tay. Nhiệm sở là trường Nam Trung Học Pleiku. Máy bay đáp xuống Phi trường Cù Hanh lúc 4 giờ chiều, trời lất phất mưa nên đường bay loang loáng nước, dọc theo sân bay là hàng rào kẽm gai chạy dài tít tắp, ngoài hàng rào kẽm gai là những luống bắp xanh mượt mà, đất đỏ quánh bên dưới còn mây xám giăng lưng trời. Tôi lên xe Ca về thành phố. Tâm hồn vừa hoang mang lo lắng vừa bồn chồn nao nức vì khung cảnh xa lạ, đìu hiu và cuộc sống mới đang chờ đợi tôi: cô sinh viên vừa mới rời khỏi ghế giảng đường trường Đại Học Đà Lạt. Xe chạy qua những vùng đất trống đầy cỏ non, nương rẩy toàn là một màu xanh của cây và lá. Gần vào thành phố mới thấy được vài dảy nhà, có lẽ là trại gia binh, nằm hiu hắt chơi vơi buồn trong mưa.

Thành phố nhỏ bé đẹp một cách hoang sơ; nhà lẩn trong cây và phố ẩn trong mây, có rất nhiều lính đi lại trên đường. Đây là thành phố của Quân Đội, những anh chàng phi công bay bướm với calor đội lệch trên đầu; lãng mạn trong bộ Conbinaison, các chàng Biệt Động Quân, Lôi Hổ,Biệt Kích, ngang tàng oai phong trong bộ đồ rằn ri… Vừa xuống xe ca tôi giật thót mình khi nghe những tiếng đại bác “ầm ì” từ xa vọng lại, nhưng chung quanh tôi mọi người vẫn có vẽ bình thản dửng dưng như đã quá quen thuộc với thứ âm thanh này.

Những ngày sau đó tôi bận rộn với bao nhiêu là công việc, trước tiên trình diện với ông Hiệu Trưởng, mướn nhà ở, nhận lớp, nhận thời khóa biểu, mua sách và tài liệu để dạy học.. Tôi tạm quên đi nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ vú, vả lại nơi thành phố này còn có người yêu của tôi đang ở, nên tôi không cảm thấy buồn. Nhờ vợ thầy hiệu trưởng giới thiệu nên tôi mướn được một căn phòng nhỏ trên gác xép của ngôi nhà số 7 Đường Tăng Bạt Hổ, đối diện hông nhà thờ Quân Đội. Anh chị chủ nhà tên Ninh, trước cổng nhà có cây hoa ngọc lan tỏa hương thơm ngào ngạt. Mặc dù phi trường Cù Hanh cách thành phố Pleiku khoãng chừng 05km nhưng nếu lắng tai vẫn nghe được tiếng các loại máy bay, khu trục bay lên đáp xuống, trực thăng và L19 suốt ngày lượn ngang lượn dọc trên bầu trời đầy mây; nó đã trở thành một hình ảnh quen thuộc đối với người dân trong thị xã; mà phần đông họ là những người thân của lính. Xa xa tiếng súng đại bác từ căn cứ Hàm Rồng vọng về ì ầm hòa nhịp với tiếng phi cơ bay lượn vù vù trên không làm cho Pleiku; vốn rất hiền lành mộc mạc nên thơ và lãng mạn lại mang sắc thái của chiến tranh; vừa có vẻ đe dọa vừa trấn an vỗ về. Những ngày mới đến đây lòng tôi đầy sợ hãi nhưng rồi cũng quen dần, lâu ngày lại cảm thấy điều đó thật bình thường, có những đêm hỏa châu chiếu sáng một góc trời, phía phi trường Cù Hanh có nhiều tiếng nổ rung chuyển mặt đất, máy bay bay vụt lên hối hả trong đêm đen, đó là lúc phi trường bị pháo kích dử dội, tôi thường giật mình thức giấc… nhưng mãi rồi cũng quen.

Trong năm học 69-70, trường được bổ túc các giáo sư vừa tốt nghiệp Đại Học sư phạm Huế như: thầy Nguyễn Đăng Dự, thầy Trần đình Khuông, thầy Lê ngọc Bưu …

Vào đầu năm 1971, theo Chỉ thị của Bộ Giáo Dục, chương trình giáo dục chuyển sang hệ 12 năm. Bậc tiểu học từ các lớp 1 đến 5, trung học từ lớp 6 đến lớp12 và bỏ hẳn cách gọi tên lớp kiểu cũ.

Niên khoá 1971-1972, học sinh lớp mười (đệ Tam cũ) chỉ còn nam sinh do trường nữ TH Pleime bắt đầu mở các lớp đệ nhị cấp.

Trường lúc này đặt dưói quyền quản trị của Sở Học Chánh Pleiku do giáo sư Thái văn Duy làm Chánh Sở. Sở Học Chánh Pleiku trực thuộc Khu Học Chánh Cao Nguyên Trung Phần tại Nha Trang và bộ Giáo Dục tại Saigon.

Trong khoảng thời gian này, nhiều giáo sư vừa tốt nghiệp Viện Đại Học Đà Lạt, Huế và Sài Gòn hay thuyên chuyễn từ các tỉnh lân cận được bổ nhiệm về trường như: cô Thái Thị Lựu, thầy Lê Mậu Phúc, Cô Hồng Ân, Cô Thủy, thầy Võ Thu Lương, cô Trương thị Ân, cô Phan Thị Lựu, cô Hà thị Mười Một (từ TH Pleime)…

Đầu năm 1973, Bộ Văn Hóa và Giáo Dục VNCH ra quyết định bãi bỏ kỳ thi Tú tài 1 vào cuối năm lớp 11 trên toàn quốc và học sinh tốt nghiệp trung học sẽ thi một kỳ thi tú tài duy nhất sau khi hoàn tất lớp 12.

Đầu năm học 72-73, thầy Lê văn Lập được bổ nhiệm Hiệu Trưởng Trung học Pleiku thay thế thầy Nguyễn Đức Trung chuyển công tác về Bộ Giáo Dục tại Saigon.

1973-1974: Đầu niên học 73-74, Bộ Giáo Dục ra chỉ thị cải tổ giáo dục: đổi kỳ thi viết Tú tài bằng kỳ thi trắc nghiệm (thường được gọi là Tú Tài IBM). Năm này giáo sư Phan Mỹ Thọ về dạy Triết lớp 12 của trường…

Ngày tháng trôi qua thật êm đềm, tôi đã thân thiết với từng ánh mắt nụ cười đơn sơ của các em học trò, lòng đầy nhiệt thành với những bài giãng trong lớp học. Những con đường trong thành phố trở nên quen thuộc đáng yêu khi người ta chỉ cần “đi dăm phút trỡ về chốn cũ”. Tôi đã hòa chung hơi thở cuộc sống của mình vào với con người và vạn vật nơi đây, nghỉ rằng sẽ chẳng bao giờ rời xa. Thế nhưng cuộc đời không bình lặng như lòng ta mong muốn, đầu năm 1975 mọi việc thay đổi một cách khác thường; tiếng đại bác ầm ì liên tục, dồn dập hối hã cấp bách suốt ngày, giấc ngủ được ru bằng số đếm… ấm… 1 quả… Ầm… 2 quả… Ầm… 3 quả…, ban ngày trong phi trường máy bay gầm rú bay lên đáp xuống; trực thăng và L19 lượn quanh nền trời trong xanh như những con chuồn chuồn kim chuồn chuồn ớt, ban đêm hỏa châu sáng rực nhiều nơi, lúc nào cũng nghe “cắm trại, cấm quân “.Đến gần cuối tháng 2/1975 tin tức chiến sự nóng bỏng trên các trang báo, các đài phát thanh…, đâu đâu cũng chỉ nói về chiến tranh; pháo kích dồn dập như cơm bữa, súng nổ nghe như sát bên tai, giấc ngủ thường xuyên bị tiếng súng đại bác làm giật mình, tỉnh giấc giữa đêm lòng đầy ưu tư suy nghỉ. Đọc một bài báo nghe một bản tin để rồi bàn tán lo âu suốt ngày: Các Sư Đoàn Quãng Trị rút về Huế, Huế bôn tẩu vào Đà Nẵng, Đà Nẵng rút nhanh vào Qui Nhơn…. Các từ: “di tãn, tử thủ, bỏ ngỏ”, luôn được nhắc đi nhắc lại và trở thành đề tài chính trong các câu chuyện ở bất cứ mọi lúc mọi nơi. Những gia đình giàu có bắt đầu thu xếp hành lý ra đi, Air Việt Nam đông nghẹt người chen lấn, các sĩ quan cao cấp có quyền hành và phương tiện vội vã đưa vợ con lên xe hoặc lên máy bay chạy trốn thành phố nhỏ bé này để về Nha Trang hay Sài Gòn. Người đi trên phố nét mặt lo âu căng thẳng, chân bước vội vàng hấp tấp như tiếng súng dồn dập; tiếng nổ gần, tiếng nổ xa, tiếng nổ lớn, tiếng nổ nhỏ, mọi âm vang trộn lẫn vào nhau…. các quận lỵ như: Thanh An, Pleime, Dacto, Lệ Trung… nghe rằng đã xuất hiện rất nhiều bóng dáng VC; lính bỏ đồn đóng quân cũng khá nhiều. Không ai dám nói ra nhưng trong lòng ngầm hiểu với nhau rằng…

Tôi vẫn đến trường trong nổi hoang mang lo lắng, học sinh theo cha mẹ di tản nghĩ từ từ, lớp học vơi dần nên sân trường luôn vắng vẻ, cả thầy và trò đều không còn tinh thần để dạy hay để học. Phần lớn các Giáo sư dạy ở những trường trong thị xã Plei ku đều tốt nghiệp từ các trường Đại học Sư Phạm Huế hay Đà Lạt; được bổ nhiệm về đây nên hoàn cảnh giống nhau là sống xa gia đình, trong tình hình này chúng tôi có cùng tâm trạng lo lắng, sợ hải và cô đơn như nhau, riêng tôi càng đặc biệt hơn, tôi lạc lỏng mất phương hướng và vô cùng hoảng hốt. Dù biết có đến trường cũng chẳng dạy được gì nhưng vẫn cứ đến; đến để gặp nhau vài phút, hỏi nhau vài câu, chia sẽ với nhau nổi lo lắng sợ hãi, sau đó kéo nhau về nhà chị Bích nghe nhạc – chị Bích là giáo sư dạy môn Toán; cùng trường với tôi, chị có chồng và 4 đứa con; ở nhà thường gọi là các con chị bằng những tên: Ty Anh, Ty Em, My Cò và Bé Ly Ly, chồng chị là anh Hồ Thi đại úy Biệt Động Quân được biệt phái vào Sài Gòn học khóa sĩ quan đặc biệt, nhà chị nằm trong khu cư xá sĩ quan, gia đình chị khá đông, gồm có bố mẹ là ông bà An, Hằng cũng dạy học ở trường Minh Đức, Anh Đạt, Khải, cũng là sĩ quan Bộ binh, Biệt động quân như anh Thi, Luật đang hoc Đại học ở SG, Minh, Kiều, Ty (là em trai út) đang đi học; còn Ngân và Hoa là em họ của chị nhà ở Đà Nẵng nhưng học các trường trong thành phố Pleiku;

Mỗi lần tôi đến nhà chị Bích chơi, Hằng thường mở cassette để nghe nhạc và pha cà phê uống, nhìn những giọt cà phê nhỏ xuống ly đầu óc tôi mông lung trống rổng…. Lúc này tôi rất muốn vào Phi trường Cù Hanh tìm Bang để nhờ vả 1 chổ ngồi trên 1 chiếc máy bay nào đó…, nhưng tự ái của tôi đã ngăn tôi lại, mấy lần xe lam dừng trước cổng phi trường, tôi chỉ đứng bên ngoài nhìn khung cảnh người ta nhốn nháo, chen lấn, la hét, cải cọ nhau; như một khán giã nhìn các diển viên trên sân khấu; thế thôi, rồi tôi buồn bã quay trở về phòng trọ lặng lẽ khóc: “anh ơi, anh rất gần mà lại cũng rất xa;” Phi trường Cù Hanh không còn đìu hiu vắng vẻ nữa, với chiến sự này ai cũng muốn dành lấy cho mình một phương tiện nhanh nhất, an toàn nhất để rời khỏi Pleiku. Thời gian này tâm hồn tôi luôn giao động, âu lo và tuyệt vọng. Mỗi lần thầy trò gặp nhau, đều nhìn nhau quyến luyến như thể sẽ không bao giờ còn được thấy nhau. Những ngày này tôi khóc nhiều lắm, may mà có gia đình chị Bích, có Hằng, Khải… bên cạnh.

Một buổi sáng tôi nhận được điện tín của cha tôi từ Nha Trang gởi lên; đề ngày: 3-3-1975 với giòng chữ “Mẹ bịnh nặng, con về gấp;” tôi hốt hoảng cầm tờ điện tín chạy đến nhà chị Bích, cả nhà chị trấn an tôi;

– Cha mẹ muốn Thủy về gấp đó mà, mấy giáo sư xa nhà đều nhận được điện tín như thế này.

Tôi cố trấn tỉnh cầm tờ điện tín chạy ra Air Việt Nam, cô nhân viên bán vé trả lời cộc lốc: “Hết chổ”, tôi hít vào một hơi thật sâu rồi thở ra thật dài, đi từng bước nặng nề về phòng trọ, nằm dài ra giường nhìn lên trần nhà, không chịu nổi sự vắng lặng của căn phòng tôi ngồi bật dậy chạy ra bến xe lam, tới cổng phi trường bước xuống xe chỉ đứng im mà lòng thì ngổn ngang trăm mối, tôi muốn gào thật to ‘ Anh Bang ơi, ra đưa Thủy về ,” nhưng tiếng gào của tôi dội ngược vào trong tim, nghẹn cứng, đắng nghét cả đầu lưỡi, tôi lại quay về trên chiếc xe lam ban nảy, bác xe lam hỏi tôi :

– Cháu tìm ai mà sao không vào?

– Dạ, không tìm ai cả.

Tôi không dám về phòng mình nữa nên đến thẳng nhà chị Bích, ở đó có Hằng, có Khải, Minh…. Tôi bớt cô đơn và sợ hãi phần nào.

Tờ Điện tín thứ 2, thứ 3, dồn dập gởi đến, vẫn nét mặt vô cảm “Hết chổ”, cho đến ngày 8 – 3 – 1975 Air Việt Nam đóng cửa với tấm bãng thông báo “Ngưng hoạt động”. Đến lúc này thì không thể kềm chế được nữa, tôi òa khóc ngay trên phố, không chỉ mình tôi khóc mà còn có rất nhiều người cũng khóc như tôi. Tôi chạy nhanh ra bến xe lam, leo lên xe với hai hàng nước mắt rơi đầy trên má, lại đến cổng phi trường lại đứng nhìn mọi người chen lấn, sau cùng tôi ngồi gục xuống nói thầm – “Anh ơi, sao anh không đưa Thủy về Nha Trang? ”. Tôi chẳng biết mình ngồi đó được bao lâu, nhưng khi đứng lên tôi nói lớn “vĩnh biệt anh.” Đó là lần cuối cùng tôi đến phi Trường Cù Hanh.

15/03/1975

Khi tôi vừa bước vào phòng Gíao Sư, thì thấy ở đó một nhóm các anh chị đứng lố nhố trước tấm bảng thông báo của nhà trường, anh Cẩn đọc lớn:

– Hiệu trưởng Trường Trung Học Pleiku thông báo cho toàn thể Gíao Sư được rõ: theo thông tư mới nhất của Sở Gíao Dục; yêu cầu các giáo sư phải đến trường dạy học như thường lệ, ai vắng mặt xem như ĐÀO NHIỆM và sẽ bị đưa ra hội đồng kỷ luật.

Pleiku – Ngày 14/03/1975

Ký tên:

HT: LÊ VĂN LẬP

Chúng tôi ngạc nhiên, rồi ngơ ngác nhìn nhau, tờ thông báo có vẻ mĩa mai khôi hài quá, khi quanh trường chỉ độ 10 em học sinh đang đưng chơ vơ lạc lỏng. Chị Bích, anh Cầu, anh Cẩn, Thoa, Thắng… và tôi đi nhanh đến nhà ông Lập; đúng hơn là nơi gia đình ông ở, nằm phía sau phòng kế toán của nhà trường, anh Cầu kêu lớn: “Lập ơi, Lập, có trong đó không?”, cửa nhà không khóa, trong nhà không một bóng người, các tủ mở banh trống rổng; thế có nghĩa là sau khi viết thông báo xong thầy Lập là người đầu tiên đào nhiệm. Chúng tôi không ai bảo ai cùng tuôn chạy về nơi ở của mình, bỏ lại sau lưng ngôi trường trống vắng cùng lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió lạnh ban mai, cây cờ này sẽ đứng vững được bao lâu nữa thì ngã xuống? Và tôi; tôi sẽ ra sao? Tôi đi nhanh về nhà trọ, ngôi nhà trống trải vắng lặng không một bóng người, chiếc xe Jeep của anh chị Ninh không còn trong sân, con chó vẫn thường vẩy đuôi mừng mỗi khi tôi về nhà cũng biến đâu mất, tôi mở cửa phòng mình; một tờ giấy rơi ra từ khe cửa:

“Cô Thủy, gia đình anh chị phải đi gấp, mấy hôm nay cô ở đâu không về? cố gắng thu xếp đi nhanh, anh chị mong gặp cô tại Nha Trang, tạm biệt. Anh chị: Ninh;”

Tôi gục xuống nền nhà co người lại khóc nức nở; Thế là hết, thành trì cuối cùng trong tôi sụp đổ tan nát; cũng tại tôi mấy ngày qua lang thang quá nhiều, và bây giờ tôi đang phải đối diện với nổi kinh hoàng quá lớn cùng sự cô đơn khủng khiếp, dù sao cũng phải chổi dậy mà đi… Cuối cùng tôi cố gắng đứng lên lau nước mắt thu xếp áo quần và giấy tờ quan trọng, đem theo vài đĩa nhạc cổ điển của Mozart, Beethoven, mấy đĩa nhạc hòa tấu của Paul Mauriat, France Pourcell và hai đĩa nhạc của Connie Francis mà tôi yêu thích… rất nhanh tôi vội vả ra khỏi ngôi nhà nơi tôi ở trọ, nhìn lần cuối cây ngọc lan trước cổng, ôi cây ngọc lan yêu dấu từng làm thơm chuyện tình của chúng tôi. Bổng nhiên tôi cảm thấy cả thể xác lẩn tâm hồn rã rời mệt mỏi, tôi sẽ đi đâu bây giờ? tôi sẽ đi với ai đây? sao tôi bơ vơ quá thế này? Hay thôi cứ ở lại chấp nhận mọi điều xảy đến rồi ra sao thì ra, nổi sợ hãi lớn nhất của con người là cái chết, đừng sợ chết thì không có gì phải sợ cả, điều đó có đúng không? tại sao tôi lại dễ dàng buông xuôi thua cuộc; trong khi tôi chưa hẳn đối đầu trực diện với cuôc chiến, chưa hề biết nó như thế nào. Sao tôi yếu đuối hèn nhát thế kia? Còn nhiều điều chưa biết ở phía trươc, tôi còn rất trẻ và rất trẻ, tôi chỉ mới 23 tuổi… cuối cùng tôi cắn răng nuốt nước mắt cùng nổi sợ hãi vào lòng, thẳng lưng, hít một hơi dài đầy lồng ngực, ngẩn cao đầu, xách vali thầm nói: “Đi thôi, đến nhà chị Bích thôi, ở đó có đông người cho mình nương tựa”. Đi được nữa đường thì gặp Khải từ dưới dốc đi lên, Khải nhào đến xách vali cho tôi, cười cười nói:

– Anh đến trường đón Thủy mà không có Thủy; anh lo quá, Thủy đi với gia đình anh nhé? À; mà có ai đưa Thủy đi không?

– Không một ai, Thủy xách vali mà chạy, cả nhà chị Ninh đi hết rồi, Thủy sợ quá.

Tôi đi bên cạnh Khải, con đường quen thuộc mỗi ngày bổng dưng xa lạ, nhà nào cũng đóng cửa im ĩm, không phải chỉ có tôi và Khải đi trên con đường này, mà hầu như đường phố nào cũng có người tay xách nách mang, gồng gánh đồ đạt, bồng bế nhau bước đi vội vả như tôi và Khải, mọi người đổ dồn ra đường và người ta tìm mọi cách để ra khỏi thành phố này bằng tất cã mọi phương tiện mà họ có, họ muốn thoát khòi Pleiku bằng mọi giá dù nơi đó có tài sản, và cuộc sống của họ, tại sao thế?. Khải muốn nói điều gì đó với tôi nhưng tôi vờ như không biết, khoãng thời gian sau này cả nhà Khải ưa gán ghép tôi cho Khải, nhưng đối với tôi, Khải chỉ là một chàng lính nghệ sĩ hát hay và lãng mạn, Khải chỉ có thể làm cho tôi vui đôi chút nhưng không thể nào lấp được khoãng trống trong tâm hồn tôi, một khoãng trống quá lớn mà anh Bang đã để lại khi anh ấy và tôi chia tay nhau một năm trước đó, vào một tối trời mưa rất to… Gia đình chị Bích là một sự kết hợp đầy tính chất nghệ sĩ của tất cả mọi người, hôm nay thì chẳng ai dấu đươc vẽ lo lắng: ông bà An, Chị Bích, Hằng, Khải, Minh, Kiều, Ty; có cả anh Đạt, đang đóng quân ở Kontum bỏ chạy về, nhưng vợ anh đã đưa 3 con nhỏ đi chuyến xe trước, riêng có Thấm là em vợ anh bị kẹt lại ở nhà chị Bích.

Cả nhà thấy tôi và Khải từ ngoài bước vào mọi người mừng rỡ, tôi nhìn trên mặt của 16 người, là 16 nổi lo âu cộng lại, vì cậu bé Ti là em út trong gia đình chỉ mới 12 tuổi thôi với Ty Anh, Ty Em, My Cò và bé Ly Ly hình như cũng đang lo lắng theo mọi người; nên ngồi im lặng căng thẳng nhìn người lớn thu dọn áo quần, đóng gói đồ đạc. Cảm thấy ngột ngạt và buồn quá, tôi bỏ ra sau vườn nhà chị Bích, ngậm ngùi nhìn những luống rau ông An trồng; vẫn xanh mơn mởn, tràn đầy sức sống, những cành lan rừng Khải mang về sau mỗi lần hành quân vẫn bình yên khoe sắc, hương thơm thoang thoãng bay trong gió. Tôi sắp xa nơi này, mãi mãi không bao giờ còn được đứng nơi đây, hay đi trên những con đường bụi đỏ đầy ắp kỷ niệm, đầy tiếng guốc khua vang của tôi bên tiếng giày của anh ấy, sẽ không còn được uống ly chanh đường mỗi chiều ở cà phê Vị Thủy, hay ly cà phê sữa nóng mỗi sáng ở cà phê Văn, không còn những sáng những chiều đến lớp, đứng trên bục giãng nhìn xuống những khuôn mặt học trò thân yêu với những giờ học vui nhộn giữa thầy và trò; không còn những lần đợi chờ đưa đón đã trở thành như hơi thở, như thịt da… nghĩa là sẽ không bao giờ tôi ở đây hay trở lại nơi chốn này theo một nghĩa nào đó mà tôi sắp phải dự phần vào.

Hằng ra đứng bên tôi hai đứa nhìn nhau với nổi buồn như nhau, cùng chung một mất mát lớn lao, tôi biết Hằng đang nhớ anh Sơn – chàng nghệ sĩ hát hay với cây đàn guitar làm Hằng luôn xao xuyến, mấy ngày nay anh không đến chơi có lẽ anh đã đi rồi, còn tôi, tôi cũng đang nhớ anh Bang ghê lắm. Ở trong nhà chị Bích và bà An đang hối thúc mọi người: Ngân, Hoa, Kiều, Thấm…. thu dọn đồ đạc cho nhanh, còn Khải thì cứ càu nhàu điều gì đó, tôi và Hăng trở vào nhà, thấy tôi nét mặt cau có của Khải dãn ra cố tạo một nụ cười mềm mại, nhưng sao lại trở nên méo mó thế?. Chị Bích khóc thút thít “Không chờ đươc anh Thi, làm sao đây? ”. Tuần trước chị nhận được thư anh hẹn sẽ về đưa gia đình đi di tãn…, chị nấn ná mấy ngày nay cố để chờ đợi anh.

Cả gia đình chị Bích gồm 16 người, thêm tôi nữa là 17 hối hả xách đồ đạc ra khỏi nhà, nhìn đông hồ là 9 giờ 45. Từ cư xá sĩ quan đến ban Quân vận không xa là mấy, trên đường đi chúng tôi gặp rất nhiều người tay xách nách mang như mình, làm như cả thành phố Pleiku rũ nhau cùng đi du lịch, một cuộc du lịch vĩ đại và bắt buộc; Đến Ban quân vận, khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được chổ đứng, ôi chao; người đâu mà đông quá; ai ai cũng có vẻ bồn chồn lo lắng, chúng tôi gặp gia đình ông Lập và một số giáo sư của trường đang đứng chung một nhóm, chị Bích hỏi ông Lập:

– Sau khi viết thông báo cho chúng tôi, anh đến đây ngay chứ gì?

Ông Lập cười:

– Thật sự tôi chỉ kịp dán tờ thông báo cho mấy thầy cô rồi đưa gia đình ra đây.

Chị Bích ghi tên cả nhà vào một tờ giấy (trong đó có tôi) rồi nộp vào bàn thâu nhận danh sách của những người đi di tản. Những chiếc GMC nối đuôi nhau thành một hàng dài, nhích dần lên từng chút một, xe nào cũng chậc cứng người và đồ đạc. Đoàn người chờ đợi càng lúc càng đông, danh sách càng lúc càng dày cộm trên tay anh lính Quân Vận, chờ đợi mỏi mòn, đến trưa mà chúng tôi vẫn chưa được gọi tên, mọi người đều đói cồn cào cả ruột gan, nhất là bà An, bà có vẻ mệt ghê lắm, Khải chen lên hỏi thăm anh lính quân vận; thì với tình hình đông như thế này mai mới đến lượt gia đình. Tất cả mọi người lỉnh kỉnh “khăn gói quả mướp “quay về nhà, trời đã về chiều, tiếng súng rất gần, rất lớn và nổ dồn dập liên tục không ngớt, nhất là tiếng đạn pháo kích cứ đều đặn một cách vô tình, như đang muốn đùa cợt với nổi sợ hãi của những người trong thành phố nhỏ bé này. Riêng tôi; tôi tự hỏi: VC là ai? là gì mà làm cho người ta sợ đến thế? có giống như những nhân vật tàn ác trong các câu chuyện cổ tích dành cho con nít? Tôi nhìn lên tờ lịch hôm nay là ngày 15 tháng 3 năm 1975, tôi bắt đầu ghi nhớ các sự kiện sẽ xảy đến từng ngày liên quan đến cuộc đời và chuyến viễn hành này của tôi……

16/03/1975

Sáng nay Chúa Nhật, tôi thức dậy thật sớm bởi những tiếng nổ rất lớn của đạn đại pháo mà cả hai bên đang thay nhau bắn vào nhau; cùng hòa nhịp với tiếng súng của chiến tranh là tiếng chuông thanh bình của nhà thờ chánh tòa đang đổ liên hồi, mời gọi các con chiên đến dự lễ ngày Chúa Nhật, trời vẫn còn lờ mờ tối, hơi lạnh và sương đêm vẫn còn đọng lại quanh nhà và vạn vật, tôi rủ Hằng cùng tôi đi lễ, dù Hằng là người ngoại đạo, buổi lễ sớm nhất của ngày Chúa nhật, hai đứa co ro trong chiếc áo len đến nhà thờ, hôm nay thánh đường đông nghẹt người, không còn chổ chen vào, làm như đây là buổi thánh lễ cuối cùng trong cuộc đời mình nên ai cũng sốt sắng cầu xin ơn cứu rỏi, người ta đứng tràn cả ra sân; im lặng lắng nghe đoạn phúc âm Linh Mục đọc; từng lời, từng chữ, và vị linh mục giãng về đoạn Phúc âm đó “Ngày tận thế sắp đến, hãy dọn mình chờ đợi như các trinh nữ cầm đèn chờ hoàng tử đến dự tiệc cưới… “ Phía bên ngoài nhà thờ tôi chia lòng chia trí, nghe câu được câu mất vì tôi đang mãi nhìn khung cảnh sáng dần khi bóng tối tan nhanh; phía bên kia đường là phố xá, cửa hiệu,… người ta đang hối hã chất đồ lên xe, những chiếc xe nhà 4 bánh còn mới, mọi hoạt động diễn ra trong im lặng, hình như hôm nay là ngày cuối cùng, là hạn chót của những người trong thành phố, những ai cố gắng tin tưởng vào sự vững chắc của một quân đội hùng mạnh cứ chần chừ, nấn ná ở lại, hôm nay cũng nản lòng đành vội vã thu xếp ra đi. Thành phố đang hấp hối, đang giẩy chết. Tiếng súng nổ hôm nay nghe gần hơn hôm qua, liên tục, dồn dập, thúc hối, với ánh sáng mờ mò của một ngày mới, với không khí lành lạnh cùng những bóng người đi lại hối hã, cấp bách… chừng đó cọng lại vẻ nên một bức tranh sống động nhưng đầy sự hãi hùng.

Rồi thì buổi lễ cũng chấm dứt linh mục ban phép lành cho con chiên, chưa bao giờ chúng tôi nhận lảnh phép lành đầy ý nghĩa và thành kính như hôm nay. Trời hửng sáng tôi và Hằng ra về, Hằng ao ước “giá như mọi chuyện chỉ là giấc mơ, một ngày cũng như mọi ngày hai đứa sẽ vào quán Cao Nguyên ăn Pate chaud và uống một ly cà phê sữa nóng riêng tôi thì tôi rất mong được một chăm sóc ân cần, một mắt nhìn tha thiết, một bàn tay ấm áp của anh ấy nắm lấy tay tôi như ngày xưa khi hai đứa còn bên nhau, mà một thời như từ xa xôi lắm tôi đã từng được nhận bằng cả trời hạnh phúc… Khi tôi và Hằng về đến nhà thì Ngân và Hoa đã nấu xong một nồi cháo với một nồi cơm, bà An nói ăn cháo xong sẽ lên đường, còn cơm bà nắm từng nắm đem theo ăn dọc đường với muối mè.

Khi chúng tôi ra khỏi nhà, những tia nắng đầu tiên của một ngày mới đang nhảy nhót trên những ngọn thông già cao vút. Trời hôm nay đẹp quá, cái đẹp làm nhức nhối lòng tôi, phố dần vắng thưa người qua lại vì mọi người đều dồn đến Ban Quân Vận. Trong lúc chờ đợi chúng tôi được nghe kể đủ thứ chuyện ly kì rùng rợn, người ta bớt một thêm hai để câu chuyện của mình tăng thêm phần hấp dẫn, ai cũng muốn có một mẩu chuyện nào đó liên quan đến cuộc di tản này để kể, có người còn cho mình là người trong cuộc. Tôi cảm thấy vừa hiếu kỳ vừa mệt mỏi, mãi đến 3 giờ chiều chúng tôi mới được lên xe, chiếc GMC chở đầy người và đồ đạc, phía trước cabin ngoài anh lính tài xế ra còn có một sĩ quan đi theo ngồi bên cạnh để hộ tống, 3 giờ 15 chiều xe lăn bánh chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm sung sướng vẩy tay chào những ngươi còn lại. Tôi ngồi chổ sau cùng trên cái vali của mình lưng đưa về phía trước, ngồi như thế này tôi chỉ nhìn được phía sau, đây là một chổ ngồi tốt không bị che chắn bởi ai cả, tầm mắt của tôi bao quát cả một không gian rộng lớn và nhìn được phong cảnh chạy lùi về phía sau. Thành phố ở lại trong tiếng súng và sự vắng vẻ, còn chúng tôi ra đi trong ồn ào nhưng trật tự, chúng tôi đang đi về miền tự do; Sẽ chẳng bao giờ tôi trở lại nơi chốn này, nơi đầy ắp kỷ niệm của một cuộc tình đắm đuối mà với tôi mỗi hơi thở là một nhành cây ngọn cỏ, mỗi tiếng cười là một tầng sóng vang vọng mãi trong không gian, mỗi bước chân là một hằn sâu dấu vết trên từng con đường bụi đỏ và nước mắt là nổi khổ đau tận cùng của một hạnh phúc đã vuột mất.

Đoàn xe nối đuôi nhau dài dằng dặc; nhìn trước không thấy đầu nhìn sau chẳng thấy đuôi, một dòng xe uốn lượn ngoằn nghoèo nối theo nhau như một con rắn khổng lồ đang bò quanh co. Tốc độ xe khi ra khỏi thành phố nhanh hơnmột chút, từ đây có 2 ngã đường về Nha Trang đó là: một theo QL 14 tách qua thị trấn Chư Srê xuống quận Cheo Reo (còn có tên gọi là Aynpa) đến Phú Bổn rồi về Tuy Hòa, và một: theo QL 19 đến Suối Đôi qua đèo Măng Yang tới thị trấn An Khê rồi Song An trở xuống hướng Qui Nhơn từ đó theo QL1 qua Phú Bổn đến Tuy Hòa, sau đó là về đến Nha Trang, đoàn xe này đang đi theo hướng QL 19 (vì nếu theo QL 14 sẽ đến ranh cao nguyên Ban mê thuột, nhưng vùng đất này lại đang giao tranh ác liệt. Nếu VC chiếm được BMT họ sẽ tràn về đồng bằng mạnh như thác đổ). Ông Thiệu thì tuyên bố: “Phải tử thủ BMT” Sẽ có không biết bao nhiêu người lính phải chết vì cái lịnh Tử thủ quái ác này? Ở thị trấn Pleime đang đánh nhau dữ dội, những tin tức này chúng tôi biết được mỗi khi đoàn xe bị nghẻn lại vì một lý do nào đó. Tâm trạng của chúng tôi bây giờ ổn hơn được một chút khi càng lúc xe càng chạy xa vùng nguy hiểm, theo dự đoán của các anh sĩ quan bảo vệ người dân di tãn thì không chừng ngày mốt; tức ngày 18 – 3 – 1975 chúng tôi sẽ về đến Nha Trang, nhưng với điều kiện đoàn xe không bị nghẽn.

Khoảng 6 giờ chiều chúng tôi đến gần thị trấn MangYang, xe ngừng lại. Nơi đây chúng tôi thấy có thật nhiều lính dù, thủy quân lục chiến, bộ binh, biệt động quân… họ tràn cả ra đường, nét mặt đầy căng thẳng, có anh đốt điếu thuốc lá Quân tiếp vụ rít một hơi thẩy xuống đất đưa chân mang đôi bốt đờ sô dí mạnh xoáy xoáy cho điếu thuốc nát bấy xong lại đốt điếu khác rồi thẩy xuống… cứ thế mắt không nhìn một ai, không nhìn một chổ nào nhất định, một số sĩ quan và lính đang cố gắng tìm cách cho đoàn xe đi tiếp, khi có xe nào chết máy lập tức được đẩy qua một bên còn số người trên xe đó dồn vào những xe khác. Đoàn xe tiếp tục chạy, trời tối nhanh tất cả các xe phải bật đèn lên, ánh đèn pha của đoàn xe nối đuôi nhau sáng lóa lấp lánh dài vô tận trong đêm đen hun hút, tôi ví von gọi đó là con rắn đom đóm khổng lồ.

Nơi đây tiếng súng và tiếng pháo kích nghe như gần ghê lắm, mang đầy sự đe dọa. Trong giây phút ngắn ngủi lạ kỳ này tự nhiên tôi quên đi sự sợ hãi của mình mà để cho hồn tan biến vào không gian, lòng rung động sâu xa đầy bí ẩn, tôi muốn mình được tan chảy, hòa lẩn vào trong màn đêm sâu thăm thẳm này….

Bất ngờ xe đươc lịnh dừng lại tắt hết đèn tất cả chìm vào màn đêm âm u lạnh lẽo, có tiếng người nói bên xe:

– Đồng bào cố gắng ngủ một giấc mai đi tiếp, đi vào ban đêm nguy hiểm lắm, chúng ta đang ở gần thị trấn Mangyang vẫn chưa tới được chân đèo Măngyang… cũng còn khá xa .

Anh Đạt hỏi thăm:

– Mình đi theo lộ trình nào vậy anh?

– Có hai ngã về Nha Trang: nếu đi từ Ban Mê Thuộc thì sẽ đổ xuống Qui Nhơn rồi từ Qui Nhơn về đến Phú Bổn, qua Tuy Hòa là đến Nha Trang, còn đi từ Pleiku sẽ phải qua đèo Măngyang, cũng đến Phú Bổn vậy. Hiện giờ đoàn xe từ Qui Nhơn đổ về cũng nhiều lắm…bây giờ thì đoạn đường nào trống là cứ cho xe chen vào…nhưng,,,không còn con đường nào trống cã.

Tôi nhắm mắt cố ngủ nhưng sao mà khó quá, vì phải ngồi co ro hai chân gập lại sát vào người nên mỏi nhừ, trong sự thinh lặng của đêm tối, đất trời là một màu đen giao hòa nhau mà lòng tôi thì ngổ ngang trăm mối, làm sao phân tích được tâm trạng của mình lúc này? Nổi nhớ nào xoáy buốt làm cho tôi đau đớn nhất đây?: Nhớ cha mẹ, anh em, hay nhớ anh Bang? giờ này anh ấy đang làm gì? ở đâu? anh có kịp lên máy bay để đi, hay đã tan xác bởi một trái pháo nào trong phi trường? Nếu còn sống anh có tưởng tượng nổi tôi đang ở đây lo sợ và chậm rì trong từng phút từng giây chạy trốn. Không hiểu sao tôi không giận anh ấy như những tháng ngày qua tôi đã giận; đã buồn, mà tôi chỉ cảm thấy rất lo cho anh ấy, lo còn hơn cả lo cho tôi. Tôi nhìn lên bầu trời trên cao, không thấy gì ngoài những vì sao đang lấp lánh, đêm càng về khuya trời càng lạnh, người ta chen chúc nhau trong những chiếc xe chật hẹp tù túng, thỉnh thoãng có tiêng khóc của trẻ nít rồi tiếng ho tiếng đằng hắng của ai đó, những âm thanh này cho chúng tôi biêt sự tồn tại của mình trong đêm nay, “Thủy ơi cố ngủ đi đừng nghĩ ngợi lung tung ngày mai trời lại sáng,” Đêm nay sao dài quá.

_________________________

… CÒN TIẾP …




. Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .

CHÂN MỀM TRÊN ĐÁ

HỒ THỦY

KỲ THỨ 2

17/03/1975

Hình như tôi có “ngủ ngồi “được một chút, khi giật mình thức dậy tôi có cảm giác mình đang trôi đi, thì ra xe đang chạy, trời chưa sáng hẳn vạn vật còn bàng bạc hơi sương. Chị Bích nhìn đồng hồ đeo tay: 5 giờ sáng rồi. Xe đi qua thị trấn Măngyang, một thị trấn nghèo nàn hai bên đường là những căn nhà thấp nhỏ bán đủ thứ lặt vặt, người dân thị trấn nhìn đoàn người chúng tôi bằng những đôi mắt tò mò đầy ái ngại, cũng có vài gia đình đang đón xe để đi, họ được chia ra và xếp vào những xe có thể nhét được 1 hay 2 người. Quãng đường này xe chạy chậm lắm và thường bị ngừng lại, bên kia đường ở khoảng đất trống có một cái lều bạt mang dấu hiệu cứu thương; vài anh lính chạy ra chạy vào lăng xăng hối hả, một ông sĩ quan mặc áo blue trắng đó là bác sĩ quân y, ông ta xách túi cứu thương ra khỏi lều đưa tay áo lau mồ hôi trán, chúng tôi hỏi thăm họ cho biết có một chị trở dạ sanh con trên đường di tãn, bà An lắc đầu thở dài nói với chị Bích: “tội nghiệp quá”.

Tin tức ở phía trước chuyền ra sau không mấy tốt: “VC đang đánh đâu đó phía bên hông,” mọi người xanh mặt lo lắng khi tiếng súng nghe gần lắm rồi, đạn pháo lại càng dồn dập hơn, đoàn xe thì vẫn chạy rất chậm mà xe càng chạy chậm nổi lo sợ càng dâng cao. Sáng nay trời không có nắng và hơi se lạnh, xe “trôi qua ”những buôn thượng nghèo nàn hiu quạnh chỉ lèo tèo mấy nóc chòi tranh, một nhóm nhỏ người thượng đen đúa đàn ông đóng khố, đàn bà quấn xà rông, con nít ở truồng; họ đi thành hàng dọc người nọ nối tiếp người kia trên mặt đầy nét khắc khổ, họ nhìn chúng tôi với cái nhìn ngơ ngác, lạ lẩm. Qua khỏi thị trấn Mangyang đoàn xe ngừng lại khá lâu, chúng tôi được phép xuống xe để “vệ sinh cá nhân…” vươn vai, duổi chân. Bà An biểu Ngân phát cho mỗi người một nắm cơm chấm với muối mè, ăn cũng ngon, mấy đứa con của chị Bích rất ngoan, không khóc nhè hay đòi hỏi gì cả, bé Ly Ly mới mười tháng tuổi bình yên rúc vào ngực mẹ không biết sợ hãi là gì, bà An không cho chúng tôi ăn nhiều bà lo xa: phải dè xẻn, vì sợ ngày đi còn dài…, được lệnh chúng tôi lên xe đi tiếp, dù ngồi chung một xe nhưng những người thuộc gia đình khác với gia đình chị Bích không ai nói chuyện với nhau, người nào cũng mang một tâm trạng nặng nề cùng với nổi lo riêng, theo sự phỏng đoán của anh Đạt – là thiếu úy bộ binh – thì đoàn xe này sẽ đến Suối Đôi, rồi từ Suối Đôi qua đèo MăngYang, sau đó đến Song An (giáp ranh Qui Nhơn) tiếp đến Phú Bổn tới Tuy Hòa rồi từ Tuy Hòa về Nha Trang, đó là lộ trình từ Pleiku về Nha Trang, còn từ Ban Mê Thuộc về Nha Trang thì theo lộ trình khác là đổ xuống hướng Qui Nhơn, qua Phú Bổn, đến Tuy Hòa rồi về Nha Trang nhưng hình như mọi ngã đường đều bị nghèn nên đoàn xe cứ trôi đi không còn phương hướng, không biết Ban mê Thuộc còn hay mất?, tôi hỏi anh Đạt:

Vậy mình đến cầu Suối Đôi chưa anh?

Anh Đạt nhún vai:

– Nếu cứ bị nghẽn như thế này thì… biết đến bao giờ vì Cầu Suối Đôi cũng còn xa…

Xe chạy được một đoạn ngắn thì dừng lại, những chiếc GMC đậu san sát nối đuôi nhau chỉ cách nhau chừng nữa mét. Lúc này là 7 giờ sáng, chúng tôi xuống xe đi bộ một đoạn ngắn tìm một lùm cây ven đường để giải quyết việc riêng… lúc quay trở lại gần xe của mình, tôi gặp một số học trò có cả Dũng em họ tôi con của cô (em kế cha tôi) là Thiếu úy cảnh sát, Dũng yêu Hiền; cô con gái của ông Vơn kế toán trường tôi, Dũng thường đến trường tôi thăm người yêu, không ngờ hôm nay lại gặp nhau nơi đây, mừng quá nhưng chỉ hỏi thăm nhau được vài câu ngắn ngủi mà thôi, gặp nhau trong hoàn cảnh chung như thế này chúng tôi cảm thấy thật bùi ngùi, cậu bé Ân –học sinh lớp 9 của tôi nói đùa:

Cô ơi, hôm nay nhóm em phải nộp cho cô bài thuyết trình “Tình yêu qua ca dao Việt Nam,”mà… tụi em quên làm bài rồi, cô cho mhóm em hẹn lại bữa khác nha cô.

Tôi cười:

– Đến Nha Trang phải nộp bài cho cô, không được quên.

Một em khác hỏi:

– Thưa cô, cô dạy Địa lý vậy đây là đâu hả cô?

– A, đây là nơi chúng ta gặp nhau bất ngờ nhất, bi đát nhất và có cùng chung hoàn cảnh, số phận như nhau.

Chúng tôi cùng cười, các em chỉ cho tôi thấy xe các em đi ở trước xe tôi chừng 5 chiếc, cùng chạy trốn mà bây giờ mới gặp nhau, tôi hỏi thăm về Lý, cậu học trò giỏi văn nhất lớp 9A1 và bàng hoàng sững sốt khi nghe câu trả lời “Lý vào mật khu trước đó mấy ngày, cha của Lý là VC nằm vùng,” tin này cũng chỉ được chuyền miệng nhau giữa các em học sinh lúc các em còn ở Pleiku. 8 giờ sáng đoàn xe đi tiếp, hôm nay chúng tôi không còn được yên tâm như hôm qua, vì súng nổ rất gần và tiếng đạn pháo kích ầm ầm đều đặn dội rung cả mặt đất, những viên Sĩ Quan và lính bộ binh, Quân vận áp tải đoàn xe di tản đang cố trấn an mọi người, họ có vẻ lo lắng cho đoàn xe di tản này ghê lắm, gặp những ca bịnh bất ngờ, nguy kịch, lập tức xe phải tấp ngay vào lề trống, các anh lính quân y căng lều bạt cứu chữa cấp tốc, các bác sỉ quân y và y tá đều tận tụy chu đáo Không đơn giản là đi một mạch về đến nơi đã định, Trong xe có tiếng bà An khóc, ông An ôm bà dổ dành, chị Bích thở dài lo cho anh Thi, chị sợ hãi vì 4 đứa con của chị còn quá nhỏ, nhất là bé Ly Ly… còn tôi, tôi chẳng nghỉ ngợi gì được nữa, đầu óc tôi đặc cứng.

9 giờ sáng đoàn xe đến Phú Bổn thì ngừng hẳn, chẳng thể nào nhích lên được nữa, tất cả bị dồn cứng lại, bây giờ thì tiếng nổ nghe sát ngay bên lổ tai và thấy rỏ những cụm khói đen bốc lên cùng ánh lữa của đạn pháo, như thế có nghĩa là chúng tôi đang chạm người vào cuộc chiến này rồi đây, không phải chỉ là nghe trên radio hay đọc trong các tờ báo, hình như bên ta không phản công thì phải, tôi hỏi một anh Đại úy trên ngực áo mang bản tên Cần: phía bên nào đang bắn dử vậy anh? Anh cho biết phía bên vc đang pháo kích vào đoàn xe của dân di tản, họ cố chặn dân lại không cho đi, bên Cộng Hòa không dám phản công vì sợ vc trả đũa bắn ngay vào đoàn xe chở dân. Rất gần phía trước xe chứng tôi chừng 3 chiếc, một tiếng nổ rất lớn… “Ù… ẦM…”; Sau tiếng nổ là những mảnh sắt tung lên trời cùng với khói, lữa. Rồi… chéo.. ầm.. ở phía sau xe chúng tôi… chéo… ầm… phía bên hông,… sau mổi tiếng nổ lớn là một chiếc xe bị hất tung lên cao vở vụn ra từng mảnh kèm theo khói và lửa, một khung cảnh hổn loạn kinh hồn diễn ra, anh Đạt hối cả nhà nhào ra khỏi xe và nằm sấp xuống ngay, hai tay ôm đầu kéo sát ngực lưng đưa ra, vừa im tiếng nổ chúng tôi nhỏm dậy chạy theo anh Đạt,… lại: chéo… ầm… Ôm đầu nằm xuống… trước mặt, sau lưng, bên trái bên phải, đâu đâu cũng có đạn pháo tung trời, tất cả hoãng loạn, nhốn nháo, mọi người cố tìm đường chạy cho nhanh, cho thoát khỏi nơi này, tiếng khóc la gào thét vang trời, lại một tiếng nổ lớn… “Chéo…ầm …,” chiêc xe chúng tôi vừa nhảy xuống bỏ chạy lúc nảy bị trúng ngay trái pháo của vc, nổ lớn hất tung lên trời, tôi trố mắt nhìn; nó tan ra từng mãnh, có tiếng đứa học trò nào đó hét lên “: xe cô Thủy kìa, cô Thủy chết rồi …” Lạy Chúa, Chúa đã cứu chúng con. . chúng tôi thoát chết trong gang tất, trong đường tơ kẻ tóc. Cả gia đình nháo nhào chạy theo anh Đạt và Khải, chen chúc nhau, níu lấy nhau vì sợ lạc nhau, tất cả đoàn người di tản đỏ dồn về giòng sông nằm bên trái, hàng ngàn người nhào xuống sông, cố vượt qua bên kia sông mà không ai thèm biết sông sâu hay cạn, cứ chạy bừa xuống.

Chúng tôi đang ở đầu cầu Suối Đôi – Phú Bổn – đoạn đường cây số 168, tỉnh lộ số 7, chung quanh tôi là cả một rừng người nhốn nháo hổn loạn, kẻ chạy lui người chạy tới; mẹ tìm con vợ gọi chồng loạn xạ cả lên, họ gào thét la khóc réo gọi tên nhau… đôi mắt họ mở lớn thất thần căng ra hết cở như muốn bị rách toát để tìm nhau. Không còn có âm thanh nào kinh hãi bằng thứ âm thanh này, tiếng súng vẫn thản nhiên nổ rền không ngớt hòa chung với tiếng la hét kêu khóc vì đau đớn, lẫn lộn trong máu là xác người nằm chồng chất lên nhau, có người vừa mới té xuống chưa kịp chổi dậy thì bị người khác dẩm đạp lên mình. Một bức tranh của chết chóc, một âm thanh của đạn pháo hòa chung với tiếng người rên xiết, kêu gào. Khúc sông cạn nước nhuộm đỏ màu của máu trở thành giòng sông máu, chen chúc giữa xác người chết là nhũng bước chân lội bì bỏm cố vượt qua được bên kia sông KHÔNG AI CÒN ĐỦ TỈNH TÁO ĐỂ nghĩ rằng bên này sông hay bên kia sông đều như nhau, tất cả cố mà chạy để mong mình được thoát, chạy quáng quàng, chạy thục mạng, vắt giò lên cổ mà chạy. Ngay từ chổ chiếc xe mà chúng tôi đi bị nổ tung thì hầu như mọi ngã đường về Nha Trang đều đã bị chận lại hoàn toàn, tấc cả các xe bị dồn cứng không còn lối thoát, mạnh ai nấy nhảy xuống xe mà chạy.

Chúng tôi bám vào nhau lội xuôi theo dòng sông, đạn bay chéo chéo trên đầu, đạn rớt lỏm bỏm sau lưng, đạn rơi vô tình trước mặt; có vô số người trúng đạn ngã xuống, máu hòa vào nước nhuộm đỏ cả dòng sông, máu thấm vào đất, máu bám vào mổi bước chân của người còn sống đang thốn chạy, máu làm tôi hoa cả mắt, xác người chết nhiều quá làm đầu tôi choáng váng đảo điên. Nhưng bổng nhiên tôi không còn sợ hải nửa bởi vì tôi đang ở trong nó, hòa nhập vào với nó, điều đáng chú ý bây giờ là sự sống còn trước mặt, phải cố mà giử lấy nó. Chúng tôi dẫm lên xác người mà chạy, chúng tôi lội trong máu mà đi, mỗi người lớn chúng tôi nắm chặt tay một đứa con chị Bích, chị Bích ôm cứng bé Ly Ly, vạch vú cho bé ngậm, với núm vú và hơi ấm của mẹ, bé bình yên ngủ say. Ông An với Minh dìu bà An mỗi người một bên, vì lúc này toàn thân bà mềm nhũn, hai chân bà cứ ríu lại với nhau, sự sợ hải làm bà như bị tê cứng.

Hai lổ mủi của tôi như bị nghẹt lại không thở được vì mùi tanh của máu làm cho tôi loạng choạng suýt ngả xuống trong khi sau lưng tôi dòng người đang lấn tới sẳn sàng vô tình dẩm lên tôi. Khải vội vàng kéo tay tôi lôi đi xềnh xệch, chiếc va li của tôi bình thường nặng trỉu nhưng sao lúc này tôi lại thấy nhẹ tênh. Nhờ cái nắm tay của Khải giật mạnh kéo tôi đi mà tôi giật mình bừng tỉnh cơn mê. Tôi nhủ thầm: phải cố tỉnh táo để thoát ra khỏi nơi kinh khủng này, phải mạnh mẽ lên để lội vào trong máu mà ra khỏi máu, phải vững đôi chân khi dẩm lên xác của người chết để được sống còn.

Tôi đã tỉnh táo hơn và chạy nhanh theo Khải, cả nhà chị Bích không ngớt gọi tên nhau, níu chặt tay nhau để không bị lạc, mấy đứa bé vừa sợ vừa mệt nên đôi chân cứ va vấp vào nhau, anh Đạt, hét to bắt mổi người lớn cỏng ngay một đứa bé trên lưng, tội nghiệp Ty út tay cứ níu chặt vào lưng Minh trong khi Minh còn phải cùng với bố dìu bà An kéo bà chạy theo mọi người. Thấy con nít ngã chết nhiều quá nên chị Bích khóc lớn và ôm thật chặt bé Lyly trong lòng.

Tôi nghe tiếng anh Đạt hét lớn:

– Mọi người phải hết sức cố gắng để vượt qua được bên kia sông.

Không thể nào diển tả được cảnh tượng lúc này, nó quá kinh khủng, súng vẫn nổ không ngớt quanh chúng tôi, người ta nhốn nháo tìm nhau bất chấp bom đạn; trong lúc hổn loạn tôi thấy một chị còn trẻ, một tay bồng đứa bé nhỏ xíu, tay kia lôi xềnh xệch một đứa, vừa chạy vừa khóc gọi tên chồng, vừa gọi mẹ thì “ đoành” một tiếng nổ lớn và…cả ba mẹ con ngả xuống nằm chồng lên nhau. Một bà già chống gậy quờ quạng réo tên con trai, bà đang loay hoay thì… chíu…bà ngã úp xuống cùng với cây gậy, máu từ lưng chảy ra cho dòng sông thêm đỏ… người chết sao mà nhiều quá, cứ thế; người ta cuống cuồng dẫm lên tất cả mọi thứ để mà chạy, kể cả xác người.

Anh Đạt dẫn đầu, bắt mọi người khum lưng xuống len lỏi trong những lùm cây ven sông, được một đoạn khá xa anh lội qua bên kia sông, chúng tôi chỉ biết đi theo anh, cũng may đây là con sông cạn; vì chưa đến mùa mưa, nước sông chỉ cao ngang ngực, tôi đội cái vali trên đầu, Ngân, Hoa, Thắm…mỗi đứa một tay xách đồ một tay nắm tay đứa khác, Khải cõng Ty Anh trên vai Minh cõng Ty Em, anh Đạt bồng My Cò trên tay… khi chúng tôi đã qua được bên kia sông, anh Đạt đẩy mọi người vào một lùm cây rậm núp trong đó; tiếng súng lúc này đã dịu lại, không còn rát bên tai và cũng không dồn dập như trước, có lẽ chúng tôi đã vượt qua được vùng giao tranh ác liệt; vùng đất của sự sống và cái chết sát bên nhau, trộn lẩn vào nhau, không rạch ròi phân định. Chúng tôi ngồi nghĩ mệt và định thần lại, lúc này mọi người mới nhìn nhau; chị Bích đếm từng người: “Ơn trời đủ cả;” Hằng bóp tay tôi: “không biết anh Sơn thế nào?”. Bà An khóc thút thít, Khải cằn nhằn: “Mợ đừng làm chúng con rối trí thêm nữa”. Chúng tôi nghe có tiếng chân bên ngoài bụi cây, thì ra rất nhiều người cũng qua đươc bên này sông, có 2 anh phi công xin nhập đoàn với gia đình chị Bích, họ vẫn còn cầm súng trên tay, và trên người vẫn còn mặc bộ đồ bay, anh Đạt kêu họ phải bỏ súng, cởi bộ đồ pilot để mặc đồ dân sự, Khải lôi trong sacmarin của gia đình lấy ra 2 cái quần của ông An đưa cho họ, một người tên Hưng một người tên Phi; ngồi nói chuyện với nhau, chúng tôi biết là mình đang ở phía trên của giòng sông Êpa, và vượt qua bên kia suối Đôi, trong lúc hổn loạn chúng tôi đã chạy ngược về Kontum thay vì men theo QL để đến đèo Măngyang, bây giờ thì QL này đã trở thành Đại lộ kinh hoàng rồi. Anh Đạt là sĩ quan bộ binh, anh am hiểu về địa hình, địa thế, anh và Khải từng quen với những cuộc hành quân, bèn mở một cuộc họp nhỏ để phân chia công việc cho từng người; Đạt và Khải dẫn đầu đoàn người, chỉ huy mọi việc, ông An chỉ có một việc để làm là dìu đỡ bà An; Ngân, Hoa lo về việc ăn uống, Minh, Ty, Kiều, Đạt, Khải mang đồ đạc của cả nhà, – có thêm Đạt Nhỏ là bạn của gia đình chị Bích ( vì cùng tên với anh Đạt –em trai của chị Bích – lại nhỏ tuổi nên gọi là Đạt Nhỏ) đi theo gia đình chị – giống như tôi – phụ mang đồ đạt; về phần chị Bích, Hằng, Thủy, Thấm, mỗi người giữ một đứa nhỏ con chị

Theo lời anh Đạt thì chúng tôi không thể nào đi theo đường cái quan được; vì đi như thế là rất nguy hiễm, dể gặp vc hoặc lọt vào ổ phục kích. Nơi đây gần đèo Măngyang, chẳng biết An Khê còn hay mất? chỉ là suy đoán vậy thôi; vì việc đòan xe bị pháo kích dữ dội và bị chận đứng ở Phú Bổn cùng với cảnh người dân bỏ chạy hoảng loạn vừa rồi, thêm vào đó là những tràn đạn pháo kích khủng khiếp của vc nhắm vào đoàn xe GMC chở người di tãn… biết bao nhiêu chiếc GMC bị hất tung lên trời tan tành thành những mảnh vụn cùng với xác người… thì An Khê bị mất rồi, anh Đạt quyết định không đi theo đèo Măngyang mà sẽ quay trở lại đoạn đường đã đi qua, mặc dù đi theo lộ trình như thế là rất nguy hiễm, cũng có nhiều người quay trở lại như chúng tôi sau khi tiếng đạn pháo kích và tiếng súng lơi đi một chút; nó không còn gắt gao, dồn dập như lúc nảy, những nhóm người họp lại với nhau thành một đoàn khá đông; chúng tôi tiếp tục men theo những lùm cây mà đi; làm như nó che chở được cho chúng tôi. Tiếng súng vẫn còn rải rác, tiếng pháo kích thưa dần; bây giờ đã trưa lắm rồi, mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, những vắt cơm bà An nắm lúc ở nhà giờ đã khô, nhưng đói quá thì vẫn cứ ngon như thường, mọi người kiếm chổ nghĩ, không ai muốn nói gì trong lúc này. Bổng nhiên bà An khóc, ông An nhỏ nhẹ vổ về bà, Khải nóng tính cau mặt gắt nhỏ:

– Mợ cứ làm cho chúng con rối ruột thêm lên, chúng con đã có đứa nào chết đâu mà mợ khóc.

Chị Bích thở dài, còn tôi; tôi vẫn có cảm giác mình đi theo gia đình chị như một nhánh cây tầm gởi nên lắm lúc cũng muốn khóc như bà An, mà không dám, sợ làm mọi người khó chịu. Bổng nhiên giữa khoảng đất trống có tiếng một bé gái kêu khải – vì Khải ngồi phía ngoài rất dễ thấy:

– Chú ơi; chú có thấy ba má cháu đâu không?

Câu hỏi ngây thơ của bé làm cho tôi xúc động muốn khóc, giữa một nơi như thế này và vào lúc này làm sao biết được ba má cháu là ai, cháu bé đứng bơ vơ, sợ hãi và run rẫy, Khải ngoắc bé lại, nó chỉ chờ có thế lật đật vạch lùm cây chui vào. Chị Bích hỏi:

– Cháu con ai?

– Con của ba má, ba con dẫn cu tí, má ẳm bé xíu, ba má chạy nhanh lắm cháu nắm tay ba chạy một hồi rồi không thấy ba má đâu cả, cô chú tìm ba má cho cháu với.

Cháu bé òa khóc nức nỡ, Anh Đạt và Hằng dổ dành:

– Nín đi cháu, cháu phải biết là các cô chú không thể nào tìm ba má cho cháu được

Hình như giữa sự sợ hãi và nguy hiểm mà bé đang phải chịu, bé khôn hẵn lên, nó năn nỉ:

– Cháu sợ đi một mình lắm, cô chú cho cháu đi theo với.

Tôi nhìn kỷ con bé, nó chỉ độ 6, 7 tuổi là cùng, tóc cắt ngắn kiểu búp bê, đôi mắt to tròn, đen láy, xinh xắn, đáng yêu nó mặc 1 bộ đồ bộ cổ bèo, bằng vải hoa xanh đỏ li ti, nhìn nó lấm lem nhếch nhác Hằng thở ra:

– Chăm cho 4 đứa cháu của mình khỏi lạc nhau đã mệt lắm rồi, giờ thêm con bé này, chịu nổi không đây?

Chị Bích đã làm mẹ nên lòng chị bao la hơn:

– Tội nghiệp cháu bé, nó nhỏ bằng Ty Em nhà mình, đem cháu theo với, mỗi người gắng thêm một chút.

Tôi thấy hoàn cảnh của bé cũng giống mình, khác một chút là tôi không bị lạc mất cha mẹ, nhưng cũng đang nương tựa vào gia đình chị… tôi không dám nói gì. Có lẽ ba má và 2 em của bé đã chết banh xác rồi, ai mà biết được. Tôi hỏi bé tên gì? nhà ở đâu, đi học chưa? bé trả lời một mạch: “Con tên Lan, nhà ở Kontum, học lớp một;” Chị Bích biểu Ngân ngắt cho bé một miếng cơm, ăn xong bé xin thêm vì: “ ít quá à, con ăn không no.” Hằng vuốt tóc nó, giải thích cho nó hiểu là: “ không đũ cơm để được ăn no.” Bây giờ gia đình chị Bích có thêm bé Lan, đoàn người trong nhóm lên đến con số 20. Anh Đạt nói chúng tôi nghĩ như vậy đủ rồi, phải đi tiếp vì đường còn rất xa. Bé Ly Ly mở mắt nhìn mẹ, bé nhã núm vú mẹ ra toét miệng cười, rồi lại rúc đầu vào ngực chị Bích, ngậm vú mẹ ngủ tiếp, chị Bích ứa nước mắt:

– Các em à, ngực chị đau lắm, sữa chị cạn khô, bé Ly có no không đây?

Tôi thấy trong mắt anh Đạt, Khải, Hằng… có những giọt nước mắt không rơi ra được, nó ngập ngừng đọng lại ở khóe; xót xa và đau đớn. Riêng tôi, tôi đang có một tâm trạng khác, tôi cảm thấy gần gũi với bé Lan hơn, tôi không ứa nước mắt cho chị Bích vì chị đang có cả một gia đình bên chị, có bố mẹ, các em, các con chị, Tôi đang ứa nước mắt cho mình và cho cả bé Lan. Quanh chúng tôi đoàn người vẫn rất đông, chia thành từng nhóm nhỏ, như một cuộc cắm trại lớn, nghỉ ngợi lung tung, tự nhiên tôi bật cười, ai cũng ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi; tôi nói cảm nghỉ của mình: “Hôm qua cả thành phố rủ nhau đi du lịch, hôm nay cả thành phố cùng nhau đi cắm trại,” câu ví von của tôi làm mọi người cười xòa, chị Bích khen: “giáo sư văn chương có khác, Thủy nhận xét hay thật,” Hằng nói tôi có máu khôi hài,… ít nhất thì tiếng cười cũng làm cho mọi người bớt căng thẳng.

Chúng tôi đi loanh quanh lẩn quẩn mãi mà chẳng tiến xa được bao nhiêu, trời tối dần, chân đã mỏi, bụng lại đói, Anh Đạt loay hoay kiếm chổ cho gia đình nghĩ qua đêm – lúc thu dọn đồ đạc để di tãn – chị Bích đem theo mấy cái mền và mùng, dồn hết vào cái Sacmarin cùng với áo quần của cả gia đình chị, số đồ dùng này sẽ xử dụng tạm thời khi về đến Nha Trang, bây giờ lấy ra xài ở đây, thật tốt. Anh Đạt, Khải trải mấy cái mền ra giữa đất cho mọi người nằm. Đêm nay chúng tôi ngủ giữa rừng trời với cái bụng trống rỗng và toàn thân thì rã rời, hai chân nhức mỏi, trầy xước vì lúc bỏ chạy chúng tôi đã quẵng hết guốc dép, cứ chân trần mà chạy cho nhanh, không còn biết đau khi chân mình dẫm lên sỏi đá, gai góc, bây giờ thì… khi được nằm được duỗi thẳng đôi chân rướm máu cảm giác đau buốt rát xé ruột gan chổi dậy hành hạ chúng tôi, thêm vào đó là nổi hoang mang hồi hộp: Biết đâu lúc đang nằm đây; một quả đan pháo ham vui rong chơi ghé thăm chúng tôi và nổ cái… ẦM… BANH XÁC… hết đường về. Đạn pháo thì vô tình nhưng con người lại cố ý, còn chúng tôi là những người vô tội, một bên kéo tay ngừơi ra đi một bên níu chân người giử lại… ở giữa là THẦN CHẾT. Đêm yên lặng quá, thèm nghe một tiếng Dế rả rích trong không khí đầy mùi thuốc súng nhưng dế cũng chạy trốn núp dưới hang, không dám thở mạnh nữa là kêu cho con người nghe… Đang yên lặng như thế bổng nhiên có tiếng rên nho nhỏ đau đớn, rồi thành từng tiếng khóc, ai đó xuýt xoa: “ôi đau quá ”, tôi rùng mình; mới chỉ có một ngày sống giữa làn giao tranh, máu lữa, giữa tích tắc của sự sống và cái chết; một ngày thôi mà sao dài như vô tận, tôi đã hòa mình vào cuộc chiến, đã tan ra trong nổi sợ hải cùng với máu và cũng đã dẩm đạp lên xác người mà đi, thế nhung tôi vẫn được sống, được nằm đây mà nghĩ ngợi và chờ đợi giấc ngủ đến với mình; Cảm ơn Chúa đả cho chúng con qua được một ngày, còn bao nhiêu ngày khác nữa, xin Chúa hảy gìn giữ con.

Đêm nay nằm giữa núi rừng xa lạ này, bên dưới là giòng sông Ađun nhuộm máu, bên trên là người chết nằm ngổn ngang, dù nhắm mắt cố hết sức để dổ giấc ngủ, nhưng những cảnh tượng và những âm thanh của ngày hôm nay cứ luẩn quẩn trong đầu tôi, tai tôi vẫn còn nghe những tiếng thét hãi hùng, mắt tôi vẫn còn thấy người mẹ trẻ ôm chặt trong tay tấm khăn lông như ôm một đứa bé, phải chăng lúc bỏ chạy chị đã làm tuột mất con mình mà không hay? còn nữa; người đàn ông tay dắt đứa con trai nhỏ, tay ôm bọc đồ; vừa chạy vừa gào tên vợ và con gái; tôi cũng đã thấy một bà già chạy không nổi, cứ té lên té xuống; khóc gào: con ơi chờ má với. trời ơi có người kéo lết một chân, còn chân kia nát bấy cố tìm sự sống, sau đó gục xuống, ngất đi vì mất nhiều máu và vì đau đớn, chắc bây giờ ông ta đã chết, không ai cứu ai trong lúc đó, ai cũng phải tự cứu mình cái đả. Tôi rùng mình; giấc ngủ không đến được khi hình ảnh nọ nối tiếp hình ảnh kia, như một khúc phim quay lại, chậm rãi, từ từ; hiện ra rỏ rệt từng chi tiết; từng đoạn; kìa một cô gái rất trẻ với bàn tay nát bấy vừa chay vừa ôm cánh tay bê bét máu, lảo đảo, liêu xiêu, kia nữa; ông già đang bám vào vai tôi để vượt qua sông, ngang giữa dòng thì… chíu… ông ngã xuống, tuột khỏi vai tôi, máu tuôn ra xối xã vì một viên đạn bay trúng ngay đầu, âm vang của tiếng súng cứ xoáy trong tôi rền rĩ buốt tai, tôi không muốn nhớ, tôi không muốn thấy lại những gì đã xảy ra, nhưng sao nó cứ đùa cợt với tôi mãi như thế này? Những xác chết không nguyên ven, bầy nhầy trong vũng máu và thịt da trộn lẩn cùng đá, cát. Có những em bé nằm chết mà như đang ngủ trong vòng tay ôm của người mẹ cũng đã chết, máu nhuộm ướt cả hai mẹ con, đau đớn thay khi tôi phải dẩm lên xác họ mà chạy.

Tôi cắn chặt môi, nước mắt tôi tuôn trào như mưa; khi đã khóc được thỏa thuê, thì nổi buồn nhớ riêng tư lại ập đến: giờ này cha mẹ tôi ở Nha Trang chắc là đang lo lắng cho tôi ghê lắm, đang như người ngồi trên đống lữa mà chờ tôi về; cha mẹ có hối hận vì đã ra sức cấm cản chuyện tình của tôi và anh Bang, đến nổi vì không thể rời xa anh ấy được mà tôi đã nhất quyết lên “Phố núi cao ” dạy học, cho chúng tôi đươc gần nhau, hai chúng tôi đã bàn tính với nhau là để tránh khỏi sự khắc khe của cha mẹ tôi vì mỗi lần hai đứa hẹn hò gặp gở nhau mẹ tôi mà biết thì tôi lại bị ăn đòn, anh Bang đã xin chuyển lên Pleiku trước, chờ tôi học xong năm thứ ba, đươc ra dạy bên ngoài – vì năm thứ tư tôi chỉ hoc hàm thụ và làm luận án ra trường – tôi xin lên Pleiku dạy để hai đứa không phải khổ sở lén lút gặp nhau nữa, cha mẹ tôi tưởng rằng anh vẫn còn ở Nha Trang nên khi biết tôi xin đươc nhiệm sở ở Pleiku thì mừng lắm, nghĩ rằng đã chia cắt được chúng tôi… nhưng rồi. . . nếu như cha mẹ đừng….; còn anh Bang nữa: anh có lo, có nhớ, có chờ đợi tôi không? Mặc dù hai đứa đã xa nhau vì tự ái, vì ích kỷ và vì đủ mọi lý do không đáng kể. Làm sao tôi quên được ngày đầu tiên đặt chân đến Pleiku; khi máy bay đáp xuống phi trường Cù Hanh đìu hiu bụi mù, đất đỏ, anh đã ngồi sẳn ở đó: ngoài thềm nhà chờ đợi của phi trường từ lúc nào, tôi bước xuống máy bay mà hai chân như nhảy, anh ôm tôi trong vòng tay; chúng tôi đã có biết bao ngày tháng hạnh phúc bên nhau, anh ở trong cư xá, tôi ở ngoài nhà trọ, anh đi bay, tôi dạy học; bình yên và hạnh phúc, hai đứa bàn về đám cưới, về cuộc sống chung sau này, ráng một vài năm để dành tiền tự lo cho đám cưới của mình vì cha mẹ cấm cản sẽ chẳng lo cho đâu… Cuối cùng là tan vỡ, là nước mắt như mưa, tôi khóc nhiều lắm và nghĩ sẽ chẳng còn nước mắt để mà khóc, nhưng bây giờ tôi lại khóc, khóc cho những điều tôi đã chứng kiến ngày hôm nay, cho ngày mai đầy bấp bênh, khốn khổ… cuối cùng thì tôi cũng ngủ được trong nước mắt, một nguồn suối không bao giờ cạn…

18/03/1975

Một tiếng nổ lớn và gần làm chúng tôi giật mình thức giấc, trời dần sáng, cuộc chiến lại bắt đầu sau một đêm tạm lắng, chúng tôi vội vã thu xếp đồ đạc để mà chạy, tất cả những đồ dùng nặng, cồng kềnh phải vất bỏ, tôi xé vội cái áo dài, lấy hai tà áo bó hai chân, cả nhà làm theo tôi, chân ai cũng rướm máu, phải lấy áo bó chân mới đi tiếp đươc, chị Bich biểu tôi phải vứt cái vali, chỉ lấy một ít áo quần và giấy tờ quan trọng bỏ chung vào trong Sacmarin của gia đình chị, tôi thã trôi theo sông những đĩa nhạc mà tôi vô cùng yêu quí, lòng xót xa đau đớn và đầy nuối tiếc như một phần thịt da của mình phải bỏ lại. Hôm nay tiếp tục men theo giòng sông đỏ máu mà đi, không thể chậm rải được, chúng tôi càng chạy, trời càng sáng, súng nổ càng nhiều, mọi việc lập lại như ngày hôm qua, những người lính vừa chạy vừa cởi bỏ bộ đồ lính đang mặc như chối bỏ thân phận mình, họ chỉ còn trên người cái quần xà lỏn và cái áo may dô; súng, giày, quần áo lính vứt ngổn ngang, có người dẫn theo vợ con cha mẹ, có người đi cùng với nhau. Nơi đây chúng tôi có cùng một nét mặt: sợ hãi, kinh hoàng, và hốt hoãng… đoạn đường này xác chết nằm la liệt, ngổn ngang đủ mọi tư thế; già có, trẻ có, và có cả những em bé, bao nhiêu là người chết nằm chồng lên nhau… Anh Đạt lục túi một anh Thiếu úy bộ binh vừa mới chết; máu vẫn đang còn chảy trên ngực; anh lấy được tấm bản đồ không còn nguyên vẹn, nó bị rách một góc, nhưng đối với anh Đạt thì lúc này tấm bãn đồ rất quí, rất cần thiết.

Súng lại nổ dữ dội, rền và rát bên tai, lại cuống cuồng đua nhau mà chạy, bên vệ đường một phụ nữ nằm nghẽo đầu, máu đầy người, chị chết rồi; trên bụng chị là một đứa con gái còn rất nhỏ khoãng 5, 6 tháng nó đang ngậm vú chị nhay nhay cố nút sữa, tội quá; tôi đẩy My Cò qua tay Kiều để bế đứa bé lên; bị giật ra khỏi vú mẹ bé khóc thét, có tiếng hét vang lên rất lớn trong đầu tôi bắt tôi phải trả bé lại trên người mẹ nó nhưng tôi không đành tâm thả bé xuống khi mẹ nó đã chết và nó thì còn bé xíu; thật tình tôi muốn ẳm bé theo mặc dù… biết lấy gì nuôi bé đây? ngay cả chính tôi còn chưa biết mình sẽ ra sao, vừa ngay lúc đó có một chị đang dáo dác nhìn quanh mắt mở to tìm kiếm, sữa từ vú chị chảy ướt cả hai vạt áo, miệng chị gào khóc thãm thiết: “anh ơi, con ơi;” tôi vội vàng ấn nhanh đứa bé vào tay chị và cuống cuồng chạy theo Khải chỉ sợ bị lạc mất, chỉ trong một tích tắc với phản xạ tự nhiên chị ôm ngay đứa bé vào lòng và chạy theo chúng tôi, chuyện xảy ra chỉ trong một tích tắc như một cái chớp mắt mà thôi cứ thế chúng tôi men theo giòng sông, lẩn trốn trong từng bụi cây hể ngưng tiếng súng là chạy súng nổ dồn là núp, cố chạy và chạy làm sao cho xa được tiếng súng càng xa càng tốt. Thật sự chúng tôi không biết mình đi được bao nhiêu mét đường dài và bao nhiêu thời gian, điều cần biết nhất là cố gắng làm sao để được sống còn.

Mãi tới lúc bên tai chúng tôi không còn tiếng nổ rát và mùi thuốc súng khét lẹt ngạt cả mũi nữa mọi người mới dừng chân, định thần nhìn lại quanh mình, hình như chúng tôi đã thoát ra khỏi vùng giao tranh ác liệt nhất và đang ở giữa một khu rừng thưa có con đường mòn phủ đầy lá vàng, cạnh khu rừng là giòng sông cạn thấy được những hòn đá dưới đáy sông, tôi khát nước quá còn anh Đạt điểm danh từng người trong gia đình, không thiếu một ai cả, bé Lan rụt rè nắm lấy tay tôi, tôi kéo bé ngồi xuống bên cạnh mình, người đàn bà bồng đứa bé mà Khải trao cho lúc nãy đang ngồi vạch vú cho đứa nhỏ bú; nó ngoặm lấy vú chị bú một cách say sưa ngon lành mà không thèm nhận ra mùi hơi hay bầu vú không phải của mẹ mình, và người đàn bà dịu dàng nhìn đứa bé ánh mắt chị đầy trìu mến yêu thương. Chị đã mất và chị đã có – ngay lập tức – chị cũng không cần nhận ra đó có phải là con của mình hay không? làm sao giải thích được điều kỳ diệu này? và có ai có đủ sự thông thái để phân tích? Chỉ có Thượng Đế mà thôi. Tôi nhìn chị: nụ cười của chị ấm áp và đôi mắt của đứa bé sáng rực; tôi đã cứu bé còn Khải thì cứu chị…

Không có nhiều thời gian để ngồi nghỉ, anh Đạt bắt đi tiếp, càng xa nơi đây càng tốt, vẩn phải chui trong bụi rậm, vạch lùm cây mà đi, hai tay, hai chân chúng tôi trầy xước rướm máu vì bị gai đâm vào, giữa lúc này không ai xác định được phương hướng hay có sự lựa chọn nào, cứ nhắm phía trước mặt mà chạy và cố tránh những nơi trống trải, khi cảm thấy chung quanh mình đã có phần yên ắng, chúng tôi chui vào một lùm cây ngồi nghỉ, bé Ly cựa mình muốn khóc chị Bích vội vã vạch vú dúi vào miệng bé, chỉ sợ bé khóc làm lộ nơi ẩn núp. Đâu đây có tiếng nói lao xao giọng năng chịch rất khó nghe, anh Đạt vạch lùm cây nhìn ra mắt anh mở lớn đầy kinh hãi miệng anh há hốc anh lắc lắc đầu thở dài: “Thua rồi, chết chắc luôn,” trái tim tôi như bị ai bóp nghẹt lại thở không nổi, tay chân bủn rủn thân thể cứng đờ; điều mà chúng tôi đang trốn chạy đem luôn cả sinh mạng và tài sãn của mình ra để đánh cược suốt mấy ngày nay; bây giờ đang ở đây mà nạt nộ quát tháo ra uy; và đây cuôc chiến mới thật sự bắt đầu sau khi đã trải qua bao nhiêu chết chóc kinh hoàng phi nhân, phi lý.

Một đoàn người đi ngược lại phía chúng tôi với những đôi mắt lơ láo thất thần, nét mặt đầy sự sợ hải mệt mỏi cùng cực, một người nói nhỏ vối chúng tôi: “ông vc sau lưng chúng tôi họ lùa chúng tôi bắt phải quay về.” Mấy người con trai trong đoàn chúng tôi run lẩy bẩy còn bà An thì như muốn xỉu vào tay ông An, bọn con gái chúng tôi không ai dám thở, kỳ quá đi làm như nếu thở thì vc nghe được. Vừa lúc đòan người đi qua khỏi chúng tôi thì có một ông lính vc áp tải đi sau cùng, thấy chúng tôi đang lum khum ngồi trong bụi rậm, ông ta kêu đoàn người đứng lại rồi vẩy tay ra lịnh cho chúng tôi chui ra khỏi lùm cây, nhập vào đoàn người mà ông ta đang áp tải, bắt tất cả ngồi xuống trên một khoãng trống của khu rừng bên con đường mòn đầy bóng cây cao mát rượi, ông ta hắng giọng sữa điệu bộ rồi nói với một bộ dáng rất hống hách, nạt nộ đầy đe dọa:

– Sao hả, nhân dân muốn chạy trốn hả? Nhân dân muốn theo chân thằng Thiệu chứ gì? Nhân dân không biết rằng bộ đội cụ Hồ phải băng rừng lội suối nằm gai nếm mật, hy sinh thân mình để vào Nam giải phóng cho nhân dân khỏi bị áp bức của thằng Mỹ, thằng Thiệu không hả?

Tôi gạt nổi sợ hải qua một bên để quan sát ông ta cho thật kỷ; cái người tự xưng: “bộ đội cụ Hồ ” này là một người đàn ông chừng 40 tuổi, nét mặt khắc khổ đen đúa hai hàm răng chìa ra nhấp nhô vàng ố có chổ đen kịch, nếu ngậm miệng lại thì hai cái môi vẫn không làm sao che kín được hai hàm răng, đôi con mắt sâu hoắm tròng trắng nhiều hơn tròng đen, bộ lông maỳ rậm châu sát vào nhau, lổ mũi tẹt và hai cánh mủi hếch cứ phập phà phập phồng, tôi kết luận: đây là một người đàn ông XẤU, ông ta mặc bộ quần áo kaki màu ôliu nhàu nát rộng thùng thình, chân mang đôi săng đan đen bằng cao su hai quai chéo nhau phía trước để lộ mấy ngón chân có những móng đầy đất, một quai quàng sau cái gót chân đen sì nứt nẽ (sau này tôi mới biết đó là đôi dép râu cụ Hồ), trên vai ông ta đeo một cái radio nhỏ hơn quyển tập học trò hình chữ nhật tay cầm khẩu Ak, ông ta kéo cái radio ra trước ngực cố ý cho chúng tôi thấy, từ chiếc radio phát ra 1 giọng ca nữ: eo éo lanh lãnh xoáy buốt cả óc, ông ta tỏ vẻ rất hãnh diện về cái radio đang đeo bên mình và cho rằng chúng tôi là những kẻ lạc hậu, chưa bao giờ thấy được nền “văn minh radio,” nên ông ta cứ đưa tay ve vuốt nhúc nhích xê dịch cái máy phát thanh để chúng tôi phải nhìn, đã thế lại còn mở volume cho lớn, giọng nói nặng chịch của ông ta hòa cùng với tiếng ca đinh tai nhức óc của cô ca sĩ làm đầu tôi muốn vở tung, mọi người đều rất khó chịu khổ sở vì “đôi tai bị hiếp dâm”. Ông vc thao thao tuyên truyền về XHCN, về bác Hồ, về Đảng CS, tuy lối nói và điệu bộ của ông ta đầy sự hách dịch của kẽ chiến thắng nhưng sao tôi vẫn thấy nơi ông ta có một vẻ đần độn lố bịch dốt nát quê mùa đến tội nghiệp, dù ông ta cố tình huênh hoang lên mặt và hơi có vẻ đe dọa với những người đang bị bắt buộc phải nghe ông ta nói nhưng chúng tôi nghe mà như “vịt nghe sấm” một tràng giang đại hải về Mác lê nin, về cuộc sống thiên đường chúng tôi sẽ được hưỡng nếu đi theo bác và đãng, rồi hợp tác xã và những gì gì nhiều lắm không nhớ nổi.

Sau khi nạt nộ, tuyên truyền, giảng dạy, khoe khoang lẫn đe dọa đã đời, ông ta sờ vào cái radio và an ủi chúng tôi:

– Nhân dân theo tôi về nhà mình, sau này nhân dân mỗi nhà cũng sẻ có một cái đài như tôi đây để nghe tin tức, nghe nhạc thích lắm nhé; đây là nền văn minh của nước XHCN, vì nhân dân bị thằng Mỹ, thằng Thiệu cai trị nên không thấy được sự tiến bộ này, nhân dân xem nhé; bộ đội giải phóng mỗi người đều có một cái đài như thế này đấy.

Và như muốn khoe thêm về sự kỳ diệu của cái đài, hai ngón tay ông ta se lui se tới vặn volume cho âm thanh lớn thật lớn rồi bất ngờ nhỏ lại… rồi thật lớn… rồi nhỏ lại… lúc này thì tôi sắp nổi khùng, tôi bấm tay Hằng, hai đứa muốn cười thật to nhưng không dám, và tôi cũng muốn hét lớn lên rằng: “–chúng tôi đâu cần các anh giải phóng, chúng tôi đang sống rất vui vẽ ấm no hạnh phúc”… nhưng lở ông ta nổi giận chỉa súng vào hai đứa tôi mà bắn cái… đùng…thì.. chết oan mạng. Ông lính vc kết thúc bài tuyên truyền của mình bằng một cái khua tay và lớn tiếng ra lịnh:

– Nhân dân đứng dậy đi tiếp không được bỏ trốn đấy nhé.

Lời nói và hành động cũng như nhũng sự việc đã xảy ra là một mâu thuẫn không thể nào tưởng tượng nổi, nó thật khôi hài và đầy bi thảm, mọi người uể oải chậm chạp đứng dậy, thân thể rả rời. AnhĐạt nháy mắt ra dấu cho chúng tôi đi thụt lùi rất chậm sợ ông vc để ý. Cả một đoàn người lôi thôi lếch thếch lê bước trước họng súng của ông ta, người phụ nữ ôm đứa bé trên tay quay nhìn chúng tôi lần cuối, cái nhìn chất chứa nổi tuyệt vọng lẫn đau đớn buồn rầu, hai giọt nước lặng lẽ rơi ra từ khóe mắt của chị, bước chân chị ngập ngừng xiêu vẹo… Chúng tôi đi theo kiểu thụt lùi và bỏ xa họ, anh Đạt truyền lệnh: cùng nhau quay đầu lại rồi tìm chổ núp. cũng chui vào một bụi cây to ngồi nghỉ, anh Đạt suy luận:

– Hắn đưa mình về lại Pleiku, vậy là hắn đã chiếm đươc Pleiku rồi, mình đi ngược lại hắn như thế phía trước mặt của mình vẫn còn là vùng của quốc gia.

Lời nói của anh Đạt gieo vào lòng chúng tôi một niềm hy vọng rất lớn, đủ để cho chúng tôi hăng hái tiếp tục bước trên con đương đầy chông gai nguy hiểm mà về đến miền đất Tự Do, chưa bao giờ như bây giờ hai chữ TỰ DO quí đến thế, nó đánh đổi biết bao nhiêu sinh mạng con người… phải đứng lên mà đi tiếp, nhưng… chưa đi được bao nhiêu thì… chúng tôi chới với khi gặp thêm một đoàn người đi ngược lại, cũng giống hệt như đoàn người lúc nãy: lôi thôi lếch thếch, mệt mỏi kéo lê từng bước rả rời với đôi mắt đầy tuyệt vọng và đau khổ, áp tải họ cũng là một ông vc; ông ta chỉa súng vào lùm cây ra lịnh cho chúng tôi bước ra nhập vào đoàn người mà ông ta đang áp tải và bắt tất cả ngồi sát vào với nhau,, mọi thứ trên người ông này: từ điệu bộ huênh hoang; hống hách, áo quần luộm thuộm, đôi dép râu…, cho đến lối tuyên truyền, khoe khoang về cái đài; luôn cả điệu bộ ve vuốt, se se nút chỉnh âm thanh… đều giống hệt nhau, làm như họ đươc đúc ra từ một khuôn mẩu có sẵn, trông thật buồn cười, tội nghiệp đến đáng thương theo một nghỉa nào đó, nhưng họ vẫn là người thắng cuộc vì vậy họ cho mình được quyền nạt nộ, lớn giọng với chúng tôi; là những người đang trốn chạy những kẽ mà chúng tôi chê bai… Đó là một điều nghịch lý, khôi hài cười ra nước mắt.

– Bây giờ nhân dân theo tôi về nhà, đừng tìm cách trốn đấy nhé, nói cho mà biết không ai trốn được chúng tôi đâu đấy.

Một câu nói đầy đe dọa, ông ta hất hàm ra lịnh cho mọi người đứng lên đi tiếp “về nhà, ”…Cũng theo cách của anh Đạt như lần trước; cả gia đình đi thụt lùi, trông ngộ nghỉnh tức cười hết sức nhưng không ai dám cười vì sợ. . . Chúng tôi không cam tâm làm người thua cuộc nên bằng mọi cách phải thoát về bên kia: chị Bích còn có anh Thi, anh Đạt còn có vợ và hai con mà anh nghỉ rằng chị đã về tới Nha Trang rồi, ông bà An có luật ở Sài Gòn, Hằng cũng hy vọng anh Sơn ở đâu đó trong thành phố Nha Trang hay Sài gòn, RIÊNG TÔI, TÔI CŨNG CÒN CÓ RẤT NHIỀU VÀ RẤT NHIỀU, không thể nào về lại Plei ku.

Chúng tôi tụt lại phía sau khá xa, khi không còn nhìn thấy một ai anh Đạt hô nhỏ: “nào chạy nhớ thật êm,” Khải nói nhỏ vào tai tôi: “- giống hệt những lần anh đi hành quân ghê,” lúc này chúng tôi không sợ chết vì bom rơi đạn lạc nữa, mà chúng tôi sợ bị vc bắt lại, nổi sợ này cũng lớn như nổi sợ kia; nó cũng đe dọa chúng tôi từng giờ từng phút, mọi lúc mọi nơi; nhưng có thể tránh được, còn súng đạn thì… thua luôn. Chúng tôi mỏi mệt, thân xác rã rời, tinh thần căng thẳng đến tột cùng, anh Đạt kiếm chổ cho mọi người nghỉ chân, tôi nhìn chung quanh; nơi đây sao mà đẹp quá, chúng tôi đang ngồi ở trên cao của ven rừng thưa, bên dưới là dòng sông nươc trong veo, có bờ cát vàng trải dài theo con sông, anh Đạt mở bản đồ ra xem, nơi đây là khúc quanh của sông Adun, nếu đi men theo con sông này sẽ về Pleiku rất gần Hàm Rồng; điều này là không thể được, vc đang tảo thanh khắp nơi “lượm” từng người dân để đưa “về chốn cũ ”, họ không muốn chiến thắng một thành phố bỏ ngỏ, không dân vì như thế chiến thắng của họ không giá trị, nói cho vui vậy thôi; chứ họ vẫn là người thắng, và bên đây vẫn là người thua cuộc dù rằng (chưa đánh đã thua)… Anh Đạt và mấy người con trai bàn bạc với nhau một lúc rồi quyết định đi xuyên rừng men theo đèo MăngYang tới sông ÊPA, từ đó sẽ đi cặp theo con sông này về đến Tuy Hòa, sở dĩ phải đi theo ven sông là để tránh cái khát, khát nước cũng là một sự đe dọa rất lớn cho sự sống, người ta rất dễ chết vì khát, không chết vì bom đạn mà chết vì khát thì coi như xui hết biết… không còn gì ngớ ngẩn hơn.

Mặc dù đang đói và mệt nhưng chúng tôi: Thủy, Hằng, Thấm, Ngân, Hoa, Kiều… vẩn không thể nào dửng dưng được trước vẽ đẹp của thiên nhiên rừng núi nơi đây, tâm hồn chúng tôi rung động sâu xa, riêng tôi; tôi muốn toàn thân mình được tan ra và hòa vào trong nước, trộn lẫn trong cát rồi trôi đi mãi; trôi mãi…Nhìn làn nước trong xanh, hiền hòa bên dưới tôi thèm đươc nhảy xuống ngâm mình trong đó. Tôi rủ Hằng và mấy đứa con gái xuống tắm, ông bà An và chị Bích ngăn đám con gái chúng tôi lại, không cho xuống nhưng chúng tôi cứ nhào xuống, áo quần vẫn mặc trên người, nước mát lạnh ôm lấy và vuốt ve thân thể chúng tôi, nước mơn trớn từng đường lông tơ kẽ tóc trên người chúng tôi, nước vổ về xoa dịu nổi đau trong tâm hồn và cả thể xác của chúng tôi nữa, thật tuyệt vời không gì sánh được. chúng tôi cùng nhau vui đùa trong nước, tạm quên đi bao nhiêu chuyện đau lòng;. Ông bà An, chị Bích và những người con trai không cưỡng lại nổi sự hấp dẫn của làn nước trong xanh, cũng lội xuống tắm rửa, kì cọ cho đất đai và bụi đường theo nước trôi đi. “đã quá; ”…ai đó kêu lên. Hằng kéo tôi lên bờ trước, hai đứa che cho nhau thay áo quần rồi đem đồ ướt trải trên lùm cây để gió và nắng chiều hong khô rồi hai đứa ngồi bên nhau; Hằng cất tiếng hát: “Này người yêu; người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời, này người yêu; người yêu tôi hỡi; bên kia đồi cỏ non xanh mướt…” Hằng gợi nhớ một điều mà mấy hôm nay chúng tôi đã quên; đó là âm nhạc, là những bài hát mà chúng tôi yêu thích…Mấy chị em của chị Bích người nào hát cũng hay, mỗi người một giọng, mỗi giọng một vẻ; chị Bích thích nhạc tiền chiến; mỗi khi chị ca bài Tà áo xanh, hay bài Em đến thăm anh một chiều mưa, giọng của chị mượt mà êm ái, nũng nịu, làm cho tôi khi nghe; lòng vô cùng bồi hồi xao xuyến. Hằng thích nhạc Trịnh công Sơn giọng ca của Hằng cũng hay nhưng không ấm áp và say đắm như giọng của chị Bích, Khải và Luật thì giống nhau: Thích nhạc ngoại quốc, mỗi lần tôi đến nhà chị Bích chơi vào buổi tối hay những ngày không có giờ dạy [ thời gian sau này tôi mới quen biết Khải khi Khải bị thương; được cho về nhà dưỡng thương ] Khải thường hay hát Let it be của The Beatle, hai anh em đều mê LOBO nên rất chịu khó luyện giọng và hát cũng nhẹ “lưng trời;” từa tựa như LOBO, còn tôi; tôi thích nhạc của Dương Thiệu Tước, nhưng tôi hát rất dở nên không hát cho ai nghe bao giờ…, mới chỉ 4 ngày thôi mà chừng như từ lâu lắm, tự nhiên lòng tôi quặn thắt, đau như có ai đang bóp mạnh vào tim mình. Khi tất cả đã lên bờ đầy đủ chúng tôi bắt đầu bị cái đói hành hạ, mỗi người chỉ được một nắm cơm nhỏ như nắm tay của Ty Anh, chẳng thấm tháp gì cả, nhưng đó là những miếng cơm cuối cùng, ngày mai sẽ ra sao? khi không còn gì ăn để mà sống, mà đi tìm tự do, một nổi sợ to lớn dè nặng lên tâm hồn mỗi người chúng tôi. Bé Ly Ly khóc vì chị Bích đã khô sửa, chị Bích cũng khóc; tôi xót xa nhìn chị; Ty Anh, Ty Em, My Cò thấy mẹ khóc nên cũng khóc theo, chỉ mới mấy phút trước đây thôi mọi người vui đùa trong dòng nước mát; mà bây giờ lại cùng nhau khóc…

Có tiếng động sột soạt ở lùm cây bên cạnh, chúng tôi giật mình hoãng sợ quay nhìn, từ trong lùm cây một thanh niên bước ra, anh ta dong dõng cao, da ngăm đen, miệng rộng, mủi thô; anh ta ôm trong tay một túi xách lớn, nhìn chúng tôi nở nụ cười làm quen, chúng tôi cũng cười lại thay cho lời chào; giữa một nơi như thế này, trong hoàn cảnh như vậy mà gặp một người thuộc “phe ta “là điều đáng mừng. Khải hỏi:

– Anh đi một mình à?

Anh ta trả lời – giọng nam pha bắc kỳ: – Dạ đi một mình, tôi tên Hớn, ba má tôi ở Sài Gòn, có xưỡng gổ, tôi đang học Luật thì bị kêu đi lính, ba tôi xin cho tôi qua ban Quân cụ, được gần nhà nhưng tôi không chịu, tánh tôi thích phiêu lưu mạo hiểm, sẳn chú tôi có trại cưa ở Ban mê thuột; tôi lấy cớ muốn gần với chú, nên xin thuyên chuyển lên cao nguyên, đơn vị đóng quân ở Dacsong, nơi đó có con sông DacPko đẹp mê hồn, chiều chiều các nàng sơn nữ ra suối tắm sexy 100/100 tuyệt vời không tã nổi, trước mặt đốn trú quân của đơn vị tôi là ngọn núi cao 1231m; gần biên giới Lào, đi xa nhớ nhà nhưng cũng thú vị lắm, tụi tôi từ Kontum về tới sông Êpa bị vc pháo kích chận đoàn xe lại; trời ơi; tụi nó nhắm vào đoàn xe GMC chở dân di tãn mà bắn, xe với người tan xác nhiều vô kể, cả giòng sông Êpa đầy máu và xác người… mấy bạn tôi không biết ai còn ai mất. (làm như lâu lắm rồi Hớn không được nói nên anh chàng nói một thôi một hồi) Tôi chạy thục mạng, mấy ngày nay trốn chui trốn nhủi ở trong rừng cứ nhắm bụi cây mà lủi vào, mấy lần sém bị vc bắt đưa về lại Pleiku.

Hớn lôi ra trong xách mấy hộp bơ và vài thứ linh tinh đưa cho Khải, Đạt nhỏ kêu lên: “ái chà, quên mất, Đạt có đem theo cái Radio philip đây, tối tôi nghe đài VOA, BBC, nghe nhạc đở buồn, với lại có cả cây kèn Acmonica nữa “chúng tôi mừng rở, Hằng hỏi: còn pin không? – pin mới thay trước khi đi, còn 4 cục sơ cua nữa lận”. Khải nói:

– 3 ngày nay không nghe được gì ngoài tiếng súng đạn, tưởng đâu mình đã thành người tiền sử rồi chứ.

Bây giờ là 2 giờ chiều, anh Đạt kêu chúng tôi chuẩn bị lên đường, nhưng trước khi đi phải để anh và mấy người con trai chia nhau đi thám thính một vòng, anh nhìn về 2 ngã; Khải và Đạt nhỏ đi về phía tay phải con đường mòn, anh Đạt và Minh đi về phía tay trái, Hưng, Phi ở lại trông chừng mọi người, ông An nói: 4 người chỉ được đi trong vòng 15 phút thôi, tôi tò mò muốn đi theo nhưng anh Đạt mắng: “chỉ vướng chân;” chúng tôi chờ đợi trong âu lo và hồi hộp cảm thấy sao mà thời gian dài như vô tận, cho đến khi 4 người cùng trở về. chúng tôi mừng quá. Anh Đạt cầm trên tay một cái nón sắt còn mới, tay kia cầm 1 bịch gạo chừng 3 kg anh kể cho cha mẹ anh và mọi người cùng nghe:

– Chỉ đi chừng 500m là ra đến đường QL, trên đường là cả một rừng đồ đạt vứt ngổn ngang, nhiều vô số kể, xác người nằm la liệt, nát bấy, hơi có mùi thum thủm, xe cộ thì tanh bành, cái nón sắt này con lượm ở gần đây; cạnh đôi giày lính, còn gạo đổ tung tóe bên đường hốt lại được có chừng này, đây là Phú Bổn, nó nằm giữa Qui Nhơn và Tuy Hòa đó.

Ngân hỏi anh Đạt sao không lấy đôi giày về mang cho êm chân” – Ngân nói vớ vẫn, người ta còn phải bỏ mà mình lại đi lượm, lở gặp vc nó bắt ngay ” Khải vừa tháo bỏ lớp độn bên trong cái nón sắt vừa nói: – Với cái nón sắt này mình có được 1 cái nồi, còn nắp nồi thì bẻ lá chuối mọc bên đường đậy lại

Khải lại kể:

– Trời ơi, xe hơi, tủ lạnh, tivi, máy may đầy 2 bên đường có ông đại úy ngồi chết trên tay lái của chiếc xe Jeep; tay ông ta đeo cái đồng hồ đẹp lắm Khải tính lấy, nhưng thấy 2 con mắt ông mở trừng trừng, máu trên người đông cứng, sợ quá, không dám…

Có thêm Hớn hình như mọi người an tâm hơn, bé Ly Ly đói bụng đòi bú, bé ngậm vú mẹ nhay nhay nhưng sữa của chị Bích không còn, nó giận dổi khóc làm chị Bích cũng khóc, Đạt nhỏ và Hớn có ít nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về cuộc sống của người thượng, tôi cũng thế; Người thượng họ dựng làng gần sông, suối, họ chọn một nơi nào đó trong rừng không xa buôn làng là mấy rồi chặt cây đốt cháy thành tro, qua mùa mưa tro trở thành phân bón tự nhiên, họ dọn sạch sẽ và trồng các giống bắp, lúa nếp, lúa gạo, khoai lang, khoai mì… lúc đầu nương rẫy của họ gần làng nhưng sau mỗi mùa thu gặt; họ bỏ nơi đó, đi tìm nơi khác, lại chặt cây đốt rừng làm rẫy. rừng càng ngày càng bị chặt phá một cách vô tội vạ, rẫy của họ càng lúc càng xa… nhưng họ vẫn bám gần sông suối. chung quanh làng họ trồng thêm đu đủ, bí ngô, mía, chuối và các loại rau, đậu, họ sống rất gần gủi với thiên nhiên; tâm hồn họ đơn sơ mộc mạc ít suy nghĩ. Nhờ có số gạo lượm được, Anh Đạt biểu Ngân nấu cháo, lấy nước cháo đổ vô bình sữa cho Ly Ly bú; còn người lớn thì “hưởng xái;” Hớn đưa cho Ngân một hộp diêm quẹt Quân Tiếp Vụ – chúng tôi đươc ngồi nghĩ thêm một chút nữa trong thời gian chờ cháo chín; – lúc thu dọn đồ để đi di tãn, chị Bích mang theo 2 bình sữa và mấy hộp sữa nhưng lúc nhảy xướng xe mà chạy chị không kịp lấy theo được hộp nào, cũng may mà có 2 bình sữa – Chúng tôi ngồi chia thành từng nhóm nhỏ với nhau; mấy đứa con gái như: Ngân, Thấm, Hoa, Kiều, ngồi bên bếp lửa canh nồi cháo, Ty: em trai út và các con chị Bích, cả bé Lan nữa đang nghịch lá khô, số còn lại thì cùng nhau bàn bạc chương trình và lộ trình cho những ngày tiếp theo; theo ý kiến và sự hiểu biết của từng người đóng góp lại, chúng tôi quyết định: phải men theo sông mà đi, cố gắng vô sâu mấy buôn làng của Thượng kiếm bắp, bí ngô, đu đủ, mía… là có đồ ăn; không sợ đói, chỉ cần chặt vài cây mía róc sạch vỏ, còn mình thì súc miệng cho sạch rồi dùng hai hàm răng làm “máy ép nước mía; “lấy bình sửa hứng cho bé Ly bú, đu đủ chín nhừ thì tán nhuyển ra cho Ly Ly ăn, hườm hườm để người lớn, bắp thì chỉ cần tách lấy hột, cắn bể ra, buổi tối ngâm trong nước cho mềm đến sáng nấu chín mang theo ăn dọc đường… cần nhất là kiếm cho được nhiều bắp; Hằng cười nói “: tụi mình giống dân du mục quá à, sống kiếp lang thang không nhà;” “- ừ há; giống dân du mục đi du lịch, ở khách sạn thiên nhiên, toilett thiên nhiên…” bà An la hai đứa tôi “chết trước mắt còn đùa“ chị Bích thì bênh:- “không đùa dể chết sớm hơn đó mợ ạ ”.Nồi cháo đã nhừ, mùi thơm của cháo lang tỏa phất phơ trước mũi tôi, gợi cho tôi nhớ đến một buổi tối hôm nào đã xa xôi lắm; khi chúng tôi còn yêu nhau, anh ấy đưa tôi đi ăn cháo tôm – thật tình với tôi lúc đó; chỉ cần ngồi gần anh là tôi đã cảm thấy no rồi vì vui sướng và hạnh phúc – khi người ta bưng tô cháo ra, với làn hơi nóng, thơm của gạo dẻo được nấu cùng lá dứa, với mùi tiêu cay nồng và mùi hành ngò dìu dịu, trải trên mặt là một lớp mở hành phi màu vàng óng thơm ngào ngạt, trong tô là mấy con tôm to bằng ngón tay cái đã được lột vỏ, có màu đỏ hồng nằm cong tròn, tất cả đều hòa chung, quyện lại cùng với mùi gia vị bày ra trước mặt tôi; có người yêu tôi ngồi bên cạnh, chúng tôi vừa thổi; vừa húp; vừa nhai; vừa nuốt một cách ngon lành; lòng thì no nê và hạnh phúc thật ngất ngây, tôi gọi đó là tô cháo của tình yêu… Chị Bích múc nước cháo đổ vào bình sữa cho bé Ly bú, Anh Đạt chưa cho chúng tôi ăn cháo bây giờ mà phải đi tiếp, chừng nào gần tối kiếm được chổ nghỉ; ngủ qua đêm lúc đó mới được ăn. Cần phải tận dụng thời gian và cố gắng rút ngắn quãng đường dài. Sở dĩ phải nấu cháo sớm vì ban đêm không được đốt lửa, sợ vc thấy, rất là nguy hiểm.

Cả đòan người đi thêm chừng 2 km nữa thì chịu hết nổi, không thể nào đi tiếp đươc, anh Đạt cho ngừng lại để nghỉ, nơi đây là một khu rừng tre, lá tre vàng rụng trải lên trên mặt đất một lớp dày êm ái, tre mọc từng cụm rải rác . Cảnh trời chiều nơi đây đang dần nhuộm tối, đẹp một cách lạ lùng, nó huyền ảo, mênh mông đầy quyến rũ, màu trắng của mây chiều chuyển sang màu xám bạc, sắc trời pha tím, sương chiều trộn lẩn màu hương khói, bên kia sông là bãi cát vàng tươi đang ngã sang màu nâu sẩm chạy dài ngược lên khu rừng thưa, vẽ tỉnh lặng êm êm của hoàng hôn gợi lên trong tôi nhiều nổi nhờ, lòng cảm thấy man mác, bâng khuâng và chơi vơi buồn. Bà An lấy cái ca múc cho mỗi người một ca cháo, không biết Khải kiếm đâu ra và từ lúc nào một gói muối nhỏ, đưa cho Ngân bỏ vô nồi cháo trắng, nhờ thế nó có vị mặn dể nuốt, cái ấm nước; mà trong lúc cuống cuồng nhảy ra khỏi xe bà An quơ vội theo cùng cái ca nhà binh là những đồ dùng vô cùng quí giá cho cả đoàn người vào lúc này, trong ấm chỉ còn một ít nước mỗi người được một ngụm, cũng không sao vì bên dưới là dòng sông, tha hồ uống.. . Chúng tôi ngồi bên này sông, đăm đăm nhìn sang bên kia sông, tưởng tượng bên kia là miền tự do với lá cờ vàng 3 sọc đỏ, Hằng vẫn ưa hát mỗi lần ngồi nghĩ chân, câu hát trở thành niềm mơ tưỡng: “này người yêu, người yêu tôi ơi… ”, Ông An, anh Đạt, Đạt nhỏ, Hớn, Khải… đang bàn nhau về chương trình ngày mai, anh không cho tôi và Hằng ngồi mơ mộng vớ vẫn nữa phải trở về với thực tế; mà… trời ơi, thực tế này đáng sợ biết bao nhiêu, Khải đưa ra ý kiến:

– Mình vẫn đang ở trong vùng cao nguyên; nơi đây có nhiều rừng thưa; sông, suối, rải rác có những buôn làng của người thượng, mình phải đi theo đường rừng men theo dòng sông vì có 3 điều thuận lợi:

1 / khó chạm trán với VC, vì họ đã chiếm được cao nguyên, họ sẽ tràn về đồng bằng thành phố.

2 / không sợ bị thiếu nước, vì thiếu nước sẽ chết khát.

3 / Dể kiếm được thức ăn trong các buôn làng.

Tôi than: “Trời ơi đi tìm về miền tự do mà sao nghe cực quá hà, đi kiểu này biết đến bao giờ mới tới nơi?” không ai trả lời, anh Đạt nói ý kiến của mình:

Theo tôi biết mình đang ở phía Tây của sông Adun, đoàn xe mình bị pháo kích ngay tại Phú Bổn, phải vượt qua bên kia sông, cứ đi trong rừng cặp theo đèo Măngyang về lại sông Êpa, từ đó mình đi dọc theo sông Êpa về đến Krong-Pa, từ Krong-Pa về tới Tuy Hòa, từ Tuy Hòa mình về được Nha Trang… bằng cách này mình phải thoát ra khỏi Phú Bổn để tới Tuy Hòa trước đã.

– Nhưng mà ở đoạn sông Êpa VC đã pháo kích chận đầu đoàn xe làm người ta chết quá trời, bây giờ quay trở lại đoạn sông đó, nghĩ lại buổi tối ở đó dể gặp ma… sợ lắm.

Anh Đạt chỉ cho chúng tôi xem từng chi tiết trong bản đồ, vừa chỉ vừa giải thích, Khải dọa:

– Nhìn trong bản đồ thấy gần và đơn giản, nhưng đi rồi mới biết; Khải đã từng đi hành quân, gian nan khổ cực lắm đó. Qúi tiểu thư đừng than thở nhé.

Chị Bích bực bội la Khải: – Khải im đi; dọa các em làm gì cho chúng nó nản lòng.

Mọi người đồng ý với ý kiến của anh Đạt và Khải, ai nấy đều đã mệt nên tìm một chổ để nằm ngủ qua đêm. Trời tối hẳn, bây giờ thì không còn nhìn thấy được dòng sông bên dưới, chỉ nghe tiếng nước róc rách của con sông chảy qua gềnh đá, tiếng gió vi vu nhè nhẹ và tiếng xào xạc của những cành lá ở trên cây, đêm nay chúng tôi lại được nghe tiếng dế nỉ non hòa chung với tiếng côn trùng rã rích, tấc cả hợp lại thành một giàn nhạc hòa tấu của thiên nhiên giữa núi rừng xa lạ. Đang mơ màng đi vào giấc ngủ, bổng nhiên chúng tôi nghe những tiếng gầm rú, đó là tiếng động cơ của một loại xe hạng nặng, ánh sáng của những chiếc đèn pha sáng lóa xuyên qua bóng tối của đêm đen sâu hun hút, nhiều xe và nhiều xe ghê lắm, nó cứ rầm rập và rầm rập làm rung rinh chổ chúng tôi nằm. xe gì đây? là GMC, hay xe của vc? , đoàn xe chạy qua, tiếng xe nghe vừa quyến rủ mà cũng vừa đe dọa. Anh Đạt lo lắng và nôn nóng, anh nằm sát đất bò ra gần đường xe chạy, lâu lắm anh mới trở lại, tôi nghe được tiếng anh thở dài, anh nói nhỏ: “xe vc, bên hông có cờ đỏ sao vàng, đó là xe motova; lính vc ngồi đầy trên xe ;” sự sợ hải dù có đè nặng lên tim tôi đi nửa, nhưng mấy hôm nay sợ nhiều quá rồi, nó đã ở tận cùng của nổi sợ, bây giờ không còn chổ nào trống để mà chất chứa thêm. Đêm nay sao dài quá dài, buồn quá, những đứa bé và mấy cô em gái vô tư đang say ngủ, còn tôi, Hằng, Khải, Đạt… cả Minh nữa, nằm thao thức, Đạt nhỏ mở radio tìm đài VOA để nghe tin tức và vài lời bình luận (ai là người đã viết ra những lời bình luận; có ở vào hoàn cảnh và tâm tư của chúng tôi để mà viết cho đúng không đây? hay chỉ là những người ngồi trong phòng có máy lạnh, bên ly cà phê sữa nóng, vô tư viết ra những lời vô thưỡng vô phạt, và ai là người hô hào với những câu nói đao to búa lớn rồi ung dung ngã người lắt lư trên ghế bành ngậm điếu xì gà, mắt lim dim nhìn khói thuốc bay bay, tai lắng nghe Thanh Tuyền, Giao Linh nũng nịu hát; lòng sãng khoái lâng lâng thấy đời rất đáng yêu, đáng hưỡng thụ, không thèm biết đến những ai đang chết, những cái chết tức khắc và những cái chết từ từ)… nghĩ đến đây lòng tôi chua xót quá. Ông Thiệu đang hùng hồn tuyên bố trong đài phát thanh: “Nhất định chúng ta sẽ thắng, đây là chiến lược và chiến thuật của Quân Đội VNCH, tôi sẽ sát cánh cùng với đồng bào đến hơi thở cuối cùng”… giữa khoảng rừng thanh vắng đêm nay, lời hứa hẹn của ông mang lại cho chúng tôi nhiều hy vọng và đầy cảm động, không hiểu tại sao chúng tôi lại quá ngây thơ và dể dàng để tin vào những lời tuyên bố như thế. Hết phần tin tức và bình luận, đến phần văn nghệ, Sĩ Phú đang hát bài “Em Tôi” giọng ông trầm ấm làm cho lòng tôi nao nao, rồi giọng ca Thái Thanh lảnh lót với: “Ngày xưa Hoàng thị” chao ơi; sao mà tôi muốn khóc quá đi thôi, Hằng nắm tay tôi bóp nhẹ, nổi buồn của tôi được chia đôi và Hằng cũng thế, chúng tôi đang nhớ những ngày tháng đã xa, nhớ một vùng trời đầy ắp những kỷ niệm ngọt ngào, Hằng nhớ anh Sơn còn tôi cũng đang nhớ một người

 

CHÂN MỀM TRÊN ĐÁ

HỒ THỦY

KỲ THỨ 3

19/03 /1975

Trời chưa sáng mấy, cảnh vật mờ mờ trong hơi sương, vẫn đang còn là tiết Xuân mà. Anh Đạt đánh thức mọi người dậy, bắt chúng tôi xuống sông rửa mặt súc miệng làm vệ sinh; Ngân đang nhóm lửa nấu cháo; nước sông ban mai mát lạnh, tôi ngồi trên phiến đá nhúng hai bàn chân đầy vết trầy xước của mình xuống nước, cảm giác thật dễ chịu, đám con gái chạy xuống sông tung tăng vui đùa; cười vang cả một khúc sông, tối hôm qua vc đi hết rồi; còn sống được ngày nào thì cứ cười đùa cho thỏa chí -tôi hét lên thật to cho mọi người nghe như vậy, đang vui bổng nhiên có tiếng rú của Ngân, Ngân ú ớ đưa tay chỉ về phía đầu nguồn của con sông, tiếp đến là tiếng la hét đồng loạt cuả bầy con gái, trời ơi; kinh khủng quá, xác chết của một người đàn ông phình to, thâm tím đang lờ đờ trôi xuôi theo giòng nước về phía chúng tôi; bà An như muốn ngất xỉu trong tay ông An, mấy đứa con gái chạy nhanh lên bờ, đưa tay cố họng móc cho ói ra hết những gì có trong bụng (chỉ toàn là nước mà thôi), mấy người con trai bình tỉnh hơn nhưng cũng khạc nhổ lung tung, Anh Đạt kiếm được mấy khúc cây kêu hết đám con trai cùng nhau hì hục khều, đẩy cái xác, khó khăn lắm mới đưa đươc vào bờ vì nó đã bị sình to; vừa nặng vừa thúi kinh khủng.

– Phải chôn thôi con ạ, để vậy tội quá; không đành lòng… Bà An thở dài nói.

Mấy người con trai lên phía trên bãi cỏ, với cái dao găm của Khải, đã chặt được vài khúc cây nhỏ cắm cúi đào một cái lổ hình chử nhật không sâu lắm;nhắm cũng vừa một người nằm, sau đó mỗi người cầm một khúc cây dài kê dưới cái xác nẩy từ từ cho lọt xuống lổ, rồi sửa sang cho xác người chết nằm gọn gàng trong lổ, chúng tôi cùng tới, một tay bịt mũi;một tay bốc nắm đất thảy xuống, chào vĩnh biệt. mấy người con trai lật đật lấp đất lại, còn đắp đất lên cao thành một nấm mồ. Khải tước vỏ cây làm sợi dây cột 2 khúc cây làm thành 1 cây thánh giá, đóng xuống ngôi mộ, tôi nói:- sao mà giống trong phim quá chừng, và mỗi người chúng mình là một diển viên đang đóng phim… -Khải nói tôi chỉ giỏi tiếu lâm… Công việc xong xuôi thì cũng gần hết một buổi sáng, vì gặp chuyện cái xác trôi sông, Anh Đạt sợ dòng nước đã bị dơ chúng tôi mà uống thì sẻ bịnh, anh nảy ra sáng kiến moi thử một cái lổ sâu trên cát cạnh bờ; nước từ trong lổ ứa ra ngang với mặt nước sông, anh giải thích là cát đã lọc sạch nước; từ nay mỗi lần lấy nước nấu uống, phải moi lổ ven sông, chúng tôi cùng nhau mỗi đứa moi 1 lổ, chờ nước ứa ra, Ngân có nhiệm vụ múc nước đó đổ vô ấm nấu chín để uống, công việc chúng tôi làm giống như một trò chơi, vui quá, tôi nói với Khải “Ước gì đây là một cuộc cắm trại thực sự;” Khải cười nhéo má tôi “em lại mơ mộng nữa rồi”

Mặt trời lên cao, chúng tôi đói cồn cào, mỗi đứa được ăn một ca cháo; dù không no nhưng cũng tạm ấm bụng trước khi tiếp tục cuộc hành trình. Bây giờ phải lội qua con sông này để đi theo lộ trình đã định: lẩn trốn trong những lùm cây và bám dọc theo QL, cặp con sông Êpa để về Tuy Hòa, Minh than: “đi như thế này xa quá, cứ xuôi theo đường chim bay cho gần; “. Anh Đạt mắng: “dốt quá; không thể nào mạo hiểm được, đi loạng quạng, lở mà gặp vc là hết đường về.” Chúng tôi lại bó chân bằng 2 vạt áo dài mà mấy hôm nay đi đã sờn, tôi lấy một mớ lá lót thêm dưới bàn chân cho dày và êm; tước vỏ cây làm dây cột, hai cánh tay áo tôi bó chân cho bé Lan, phải lót thêm 1 lớp lá.

Chúng tôi đi loanh quanh chẳng biết được bao xa thì thấy bên dưới dốc đường mòn có một khúc sông hẹp, anh Đạt quyết định vượt qua bên kia sông, anh cho mọi người ngồi nghỉ còn anh lội thử xem sông cạn hay sâu, mừng quá: sông cạn ngang đầu gối, qua được bên kia sông anh đưa tay ngoắc chúng tôi “- lại đươc đùa dưới nước;” Minh và Khải đội cái sacmarin trên đầu cho khỏi ướt, chúng tôi băng qua sông, nước trong veo thấy được những hòn sỏi dưới đáy sông; tôi thấy nó giống một dòng suối thì đúng hơn. Chúng tôi ngồi nghỉ chờ Đạt; Khải đi thám thính; qua đến bên này rồi tôi thấy nó cũng giống bên kia, một sự yên lặng gần như tuyệt đối, lúc ở bên kia sông chúng tôi có biết bao nhiêu là hy vọng, nhưng rồi… chẳng thấy gì. Anh Đạt về, anh kêu đi tiếp “-. Một đám tàn quân lếch thếch lên đường; “. Tôi nói với ông bà An: ” – hai bác phải cho con nói đùa, có vui hai chân mới bước nhanh, còn buồn rầu nó làm nặng chân đi không nổi;” Ông An cười: – con nói đúng…

Tháng 3, cuối mùa Xuân nắng không còn dịu mà hơi gắt, nắng nóng dội lên đầu chúng tôi, bộ áo quần bị ướt lúc lội qua sông đang khô dần trên người, tôi mệt quá, đầu nặng chỉu, hơi thở nóng ran phát ra 2 lổ mũi như có lữa đốt, tôi bước đi lảo đảo như người say rồi ngã chúi đầu xuống đất, Khải hoãng hốt nhào đến đở tôi đứng dậy, cả đoàn người phải dừng lại, mắt tôi mờ đi và tôi òa khóc nức nở, bao nhiêu nổi niềm đau đớn, khổ sở và sợ hải, căng thẳng mấy ngày qua vở òa như thác đổ, bà An khóc theo, tiếng khóc lây lan từ người nọ qua người kia; chỉ có Đạt nhỏ là ngồi ngó mông lung, chừng như thấy mọi người khóc thế đã đủ, Anh Đạt đứng lên nói; giọng ra lệnh:

– Thôi; khóc bi nhiêu đủ rồi, đứng lên đi tiếp chứ.

Kể ra khóc được nhiều như vậy cũng làm vơi đi những gì đang trỉu nặng trong lòng, Khải đở tôi đứng dậy, ân cần dổ dành – cố gắng lên, về tới Sài gòn tha hồ sướng, anh sẽ dẫn Thủy đi uống cà phê Thanh Bạch, đi ăn pate chaud ở Thanh Thế, xem cinema rạp Eden… tôi vịn vào vai Khải đi như người mộng du. Đã trưa lắm rồi; chúng tôi dừng lại ở một khu rừng thưa, rừng đẹp quá, lá vàng rụng lâu ngày nằm chất chồng lên nhau thành một tấm thãm dày và êm, những cây cổ thụ to cao vươn tán đan vào nhau cho chúng tôi bóng mát, tôi nằm xuống tấm thãm lá êm ái tưởng như mình đang nằm trên nệm, mùi lá khô và hơi ẩm của đất quyện vào nhau nồng nồng, ngái ngái, hăng hăng, tôi vòng hai tay ra sau làm gối kê đầu nhìn lên bầu trời xanh qua kẻ lá, nhìn những sợi nắng nhảy múa lung linh theo gió ở trên cây, cả thân thể và đôi chân được thã lõng, nhưng đầu óc thì nghỉ ngợi lung tung. Chúng tôi đói lắm rồi, số gạo anh Đạt lượm được còn ít, Bà An đòi nấu hết, ăn một bữa no rồi ra sao thì ra, bà nói biết có sống được nữa không hay để chết làm ma đói. Với con số của đoàn người là 21, mà gạo còn vài lon, nấu hết 1 lần ăn cũng chã bõ bèn gì. tôi nhìn bà, mới có mấy ngày thôi mà bà gầy tọp hẳn đi, đôi mắt trũng sâu, má cóp lại, lòng tôi cảm thấy xót xa. Bà An hiền lắm, rất đôn hậu, bà nhẹ nhàng, mong manh dể vỡ, mỗi lần đến nhà chị Bích chơi, tôi thích nhìn vẻ đài các của bà, bà ưa làm nũng với ông An, và ông lại rất thích điều đó, ông cưng chìu bà, tâm hồn ông đầy ắp thơ, tôi thích vì ông bà là một đôi vợ chồng lý tưởng; những người con của ông bà là: Anh Aí lớn nhất Chị Bích, Anh Đạt, Hằng, Khải, Luật, Minh, Kiều, Ty rất hiếu thảo và rất thương yêu đùm bọc nhau, Khải là người nóng tính hay cáu gắt nhưng lại là một chàng trai lãng mạn dể thương. Cả gia đình bây giờ chỉ biết nương tựa vào Đạt và Khải, hình như anh Đạt cảm thấy áp lực đè lên vai anh thật nhiều và thật nặng, anh không thể để cho ai nãn lòng gục ngã, anh cũng không chịu “ăn một bữa cho no rồi ra sao thì ra;” chúng tôi bám víu vào ý chí và tinh thần của anh để có sức lực tiếp tục cuộc hành trình. – Húp mỗi người một lưng cháo, phải dè xẻn chút gạo còn lại, đường đi còn xa lắm – Tôi kéo tay Hằng nằm xuống bên tôi, nói cho Hằng nghe tôi thèm một chén cơm nóng, một tô canh rau dền, một khứa cá kho mặn…

Khải đem tới cho tôi ca nước: – Thủy uống cho khỏe.

Gió hiu hiu làm cho tôi buồn ngủ nhưng anh Đạt hối mọi người chuẩn bị hành trang lên đường, bao giờ gần tối mới được ngừng lại, nấu cháo ăn rồi ngủ để mai đi tiếp.

Bà An khóc: – Mợ đói và mệt lắm rồi con ơi.

Tôi thấy anh Đạt quay lưng chùi nước mắt, mấy đứa nhỏ ngơ ngác nhìn bà ngoại khóc cả bé Lan nửa, trong đôi mắt các cháu cũng muốn nói lên điều bà An vừa nói: đói và mệt; Hớn lên tiếng: ” -Thôi, anh Đạt để Ngân lấy hết gạo đó nấu cơm, mình có nhiều cách kiếm thức ăn mà, nhưng cũng nên đi thêm một đoạn nữa rồi hảy nghĩ “câu nói này làm cho mọi người lên tinh thần được một chút nhưng anh Đạt nói cứ từ từ sau hẳn nấu. Bà An nín khóc, đoàn người đi thêm được một lúc; cho tới khi trời đã ngã về chiều anh Đạt mới chịu ngừng, nơi đây có một con suối nhỏ nước trong veo. Chúng tôi mỗi đứa tìm một gốc cây ngồi dựa lưng, mấy đứa con gái nhỏ làm như không hề lo buồn sâu sắc như người lớn, chỉ cần được nghĩ chân là ngồi chụm vào nhau nói cười vui vẻ, Thấm giải thích rất đơn giản: “có mấy anh lo rồi, tụi em chỉ biết nghe theo, làm theo mà thôi, lo thêm cũng đâu giải quyết được gì, lúc này đang được ở cùng nhau thì cứ vui vẽ vối nhau, ai biết ngày mai sẽ ra sao;” đó là một câu triết lý rất hay. Hằng hỏi tôi đang nghĩ gì, có nhớ nhiều đến pleiku không? riêng Hằng đang nhớ anh Sơn ghê lắm, tôi cũng như Hằng mà thôi; cũng đang nhớ đến một người không nên nhớ; mà vì yêu người đó nên bây giờ tôi mới phải ngồi đây, yêu làm chi cho nặng lòng, vì nặng lòng nên thấy nặng đôi chân; mà chân đã nặng thì đi không được nhanh, bước không được xa… yêu nhiều thì lo lắng nhiều, mà lo lắng nhiều thì… mệt lắm, hai đứa bật cười với những câu ví von của mình, cười xong hai đứa nhìn quanh; sao không thấy bóng dáng của mấy người con trai đâu cả? đi đâu hết rồi? chị Bích nói: – hai cô lo nhớ nhung lung tung, mấy chàng đi kiếm lương thực, tôi tiếc rẽ “uổng quá, phải chi mình đi…;” mải một lúc anh Đạt và đám con trai mới nối đuôi nhau đi về, trên tay mỗi người ôm một thứ, Khải huýt sáo vui vẽ, tất cả để “chiến lợi phẩm;” xuống trước mặt ông bà An và chị Bích; đó là 1 trái bí ngô, 15 trái bắp, 2 trái đu đủ chín và 3 cây mía dài, “cả nhà ” mừng vui hí hững; Minh cười cười khai ra: “đây là những tứ chôm được trong làng;” Khải nói “- làng vắng hoe chắc là họ bỏ làng mà đi như tụi mình “- Anh Đạt phân công: mấy đứa con gái có nhiệm vụ tách hết hôt bắp ra khỏi cùi bắp, mấy đứa con trai hàm răng khỏe thì cắn bể hột, mỗi tối trước khi đi ngủ Ngân bỏ một ít vô cái nón sắt mà ngâm nước qua 1 đêm là nó mềm, sáng dậy sớm nấu sẽ mau chín, Khải chặt mấy cây mía ra từng khúc để dành lấy nước cho bé Ly bú. Chúng tôi vui vẽ thi hành mệnh lệnh của anh Đạt, cứ xem như đây là một trò chơi, vừa làm vừa nói đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất, Khải chặt mấy cây mía, anh tước vỏ mía, rồi xuống sông lấy nước súc miệng, xong chạy lên ngồi gần tôi, chị Bích đưa Khải bình sữa, Khải nhe 2 hàm răng nhá nhá cho nước mía chảy vô bình, cũng không nhiều nhưng cũng làm cho bé Ly tạm no, anh Đát lấy 2 lóng mía chẻ làm 4 rồi bẻ làm 2 chia cho ông bà An và mấy đứa nhỏ, còn mấy đứa tôi thì chờ cho mấy đứa bé ăn xong nhả xác mía ra là lượm lại nhai và rít đến chừng nào cái bã mía khô rang mới bỏ. Đạt nhỏ không ngồi cắn hột bắp nữa, anh chàng rủ Hưng; Phi; Minh làm 1 cái bếp nướng trái bí, tôi chán trò tách hột bắp vì đau tay quá chừng nên rủ Hằng đi theo, Khải cũng đi theo tôi, Đạt nhỏ đào 1 cái lổ hình tam giác, sai mấy đứa tôi đi lượm củi khô mang về rồi bẻ những cành nhỏ bỏ xuống lổ trước, Khải lấy 2 cục đá chà mạnh vào nhau làm nóng rồi đánh cho tóe lửa; hì hà hì hục mải mới nhóm được bếp, Minh đem về mấy nhánh cây khô lớn đút vào “lò;” lữa bốc nhanh Đạt nhỏ đặt trái bí lên trên lò, vừa chờ trái bí chín vừa nói chuyện, Hằng cười chê Khải: “có diêm quẹt của Hớn đưa không chịu nhóm lửa cho nhanh, làm kiểu này mất thời gian, đói bụng gần chết đây;” Đạt nhỏ nói: “còn phải chờ tới lúc tàn lữa, rồi vùi trái bí ủ trong tro nóng nó mới chín được bên trong ruột”- “sao Đạt giỏi vậy;” – “thì đi nhiều, học hỏi nhiều nên biết được nhiều thứ,”

Buổi tối sau khi mỗi người được ăn một miếng bí ngô nướng chín khét, mùi thơm của vỏ bí bị cháy cùng vị ngọt của nó làm đê mê đầu lưởi; chúng tôi ăn miếng bí ngô nướng bằng cả mắt; mũi và miệng. Hình như trời bắt đầu vào mùa mưa, cũng gần cuối tháng 3 rồi, dù nằm giữa đất trời mênh mông; nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy nóng bức ngột ngạt. Từ rất xa có tiếng nổ ầm…ì… lẻ tẽ vọng lại; những tiếng nổ gieo vào lòng chúng tôi vài tia hy vọng nhỏ nhoi, chúng tôi suy đoán lung tung. Không ngủ được chúng tôi ngồi quây lại thành vòng tròn, tâm sự cho nhau nghe chuyện của mình. Hưng, Phi kể về những tháng ngày vùng vẩy trên nền trời xanh, biết bao thành phố họ đã ghé qua; những phi vụ hiểm nghèo thoát chết trong gang tất; Hưng lái L19; Phi lái C130, đóng quân ỏ Nha Trang, Phi đoàn 114; biệt phái lên Ban mê thuột và bị kẹt lại, tôi muốn hỏi về 1 người nhưng lại thôi… Khải hỏi tôi có nhớ những cành phong lan ở sau vườn nhà không? tôi nói:-” nhớ lắm, nhớ cả thành phố Pleiku đến nhức nhối tâm cang,” Khải kể cho mọi người nghe những lần hành quân của Khải; Khải chỉ đi tìm phong lan trên cây thay vì tìm vc dưới đất, kể từ ngày phải đi lính chưa bao giờ Khải bắn vào một ông vc nào cả dù đôi khi có thấy họ; Hưng nói: – còn tôi; những lần bay thám thính trên vùng đất nghi là có vc, nhiều khi nhìn xuống thấy bên dưới lố nhố, tôi gọi về tổng đài báo sai tọa độ, pháo binh bên mình cứ theo tọa độ tôi báo mà bắn… – Anh Đạt thở dài: – Thế nên bây giờ tụi mình mới ngồi đây, anh cũng chưa hề bắn vc dù anh là lính.

20/03/1975

Một ngày như mọi ngày, vẫn thức dậy thật sớm, ăn một ít bắp, bó chân cho kỷ rồi lên đường, ai cũng bước đi với những bước chậm chạp, dừng lại để nghỉ nhiều hơn vì có lắm lí do; cứ đi chừng vài mươi bước “đôi giày vải ” bị lệch; tuột ra khỏi bàn chân là phải nghỉ để sửa lại, hơi mỏi chân là nghĩ… Hôm nay những bước chân của chúng tôi nặng như đeo đá… Khát nước chút xíu cũng… nghỉ; anh Đạt không cho uống nhiều nước, mỗi lần khát chỉ được hớp 1 ngụm thôi. Chúng tôi mong trời mau tối để được nghỉ lâu và được ngủ 1 giấc dài. Ngày nôm nay không có gì đáng ghi nhớ ngoài việc khi dừng chân nghỉ trưa, Mạnh tách ra khỏi đoàn; đi đâu đó một lúc, khi về Đạt nhỏ cầm theo 1 cái thùng đựng nước và giải thích:

– Không phải lúc nào mình cũng đi được gần sông, có khi phải đi sâu trong rừng, cần có cái thùng đựng nước để dành, lúc nảy tôi thử ra ngoài đường; ghê lắm; mùi thối nồng nặc đồ đạt củng nhiều như khoãng đường hôm trước anh em mình đi lượm đồ, thấy cái thùng đựng nước; mừng quá trời.

Sắp hoàng hôn, nắng chiều đang rong chơi trên những ngọn cây cao, mây chiều bàng bạc trôi lờ lững; cảnh vật mờ trong sương, anh Đạt cho mọi người nghỉ sớm hơn hôm qua. Chị Bích biểu Ngân nấu hết gạo nhưng cái nón sắt đâu nấu được nhiều, chỉ phân nữa số gạo còn lại là đã đầy nón rồi. Mùi thơm của cơm chín bốc cao chui vào lổ mủi tôi quyến rũ quá, những hạt cơm trắng nỏn nà đựơc Ngân xới bung lên bằng hai que tre rừng nằm phơi bày trước mắt chúng tôi làm ai cũng chảy nước miếng. – “Ưu tiên cậu mợ với chị Bích được ăn nhiều, sau đó đến mấy đứa nhỏ, cuối cùng là chúng mình;” – Anh Đạt chia phần như vậy, một cái nón sắt cơm với 22 người ăn thì đâu có được bao nhiêu…Trước khi cho nắm cơm vào miệng; tôi nhắm mắt đưa lên mủi hít một hơi thật sâu cái mùi thơm của nó, thât tuyệt vời… nhưng… – “Cô Thủy ơi con ăn chưa no, cô cho con thêm miếng nữa đi…” tôi mở mắt, bé Lan đứng bên tôi, nhìn tôi một cách van lơn; theo phản ứng tự nhiên của con người, tôi ngậm miệng lại tính nuốt hết, nhưng… tôi đành phải nhả ra cho bé 1 miếng nhỏ bằng ngón tay cái, lòng không mấy vui;- “Có ai được no đâu con;” … Tự nhiên tôi cảm thấy xấu hổ với chính mình; tôi… phàm phu tục tử quá đi thôi… tôi khinh tôi đến ứa nước mắt; ăn có một miếng cơm lạt nhách mà cũng làm như thưỡng thức… một mâm cơm thịnh soạn không bằng; lại còn keo kiệt với một đứa bé… đang lúc chết lúc nào không biết.

Đạt nhỏ mở radio rà tìm đài VOA; – Bây giờ là 21 giờ ngày 20 tháng 3 năm 1975 Hôm nay tin tức xấu hơn hôm qua làm chúng tôi buồn quá, đứa nào cũng nao núng trong lòng, dạy sữ địa và cũng thích chính trị nên tôi biết cao nguyên Daclack, Kontum, Ban mê Thuột là vùng chiến thuật và chiến lược vô cùng quan trọng; năm 1956 ông Ngô Đình Diệm có chính sách di dân lên các vùng cao nguyên nói trên để lập nghiệp; Ông đã đặt trên đó các cứ điểm Quân Sự quan trọng: Bộ chỉ huy của Sư Đoàn 6 Không Quân đóng tại Pleiku mà phi trường Cù Hanh là căn cứ chính; Sư Đoàn 23 Bộ Binh, rồi Biệt Động Quân; Lôi Hổ… và đơn vị Pháo Binh đóng ở núi Hàm Rồng; nhiều lắm… và nhiều lắm; toàn là những sư đoàn thiện chiến nhằm để giữ vững miền đồng bằng, vì những cao nguyên nói trên có độ cao và núi non chập chùng hiểm trở. Để mất cao nguyên cũng có nghĩa là để mất đồng bằng, chỉ cần quân Bắc Việt chiếm được trên đó, họ sẽ tràn về đồng bằng như thác lũ và sẽ cuốn trôi đi tất cả những gì có trên đường. Lúc còn ở Pleiku, nghe tin tức chiến sự; thì ngày 10 /3 /75 VC khởi công đánh mạnh vào BMT để dứt điểm, sau đó Pleiku được lệnh di tãn; ngày 15/3/75 là ngày Pleiku được lệnh phải di tãn hoàn toàn chỉ để lại một thành phố trống rỗng, và ngày 16/3/75 là ngày chúng tôi rời khỏi thành phố Pleiku. Đêm nay là đêm thứ 3 chúng tôi ngủ trong rừng, và là ngày thứ 5 của cuộc di tản. BMT, Ktum và PKu đã mất; có thể nay mai vc sẽ tràn về Nha Trang khi mà họ đang ở thế mạnh. Cuộc chiến này sao mà phi nhân quá; làm cho nhiều người chết oan uổng, đau thương, tức tưởi, làm cho chúng tôi phải trốn chui trốn nhủi trong rừng; chịu biết bao nhiêu đói khát khổ sở. Cả một Quân Đội hùng mạnh oai phong, đẹp đẽ, được trang bị đầy đủ từ dưới chân lên đến đỉnh đầu, mà phải bỏ chạy vì những người rất tầm thường như 2 người mà chúng tôi đã gặp; đáng buồn chưa?… Một chàng lính lãng mạn như Khải: đi hành quân chỉ thích hái lan rừng đem về ngắm; không nở bắn vào kẻ thù không hề biết mặt; một chàng phi công lái máy bay thám thính lúc nào cũng báo sai tọa độ… và bây giờ cùng ngồi với nhau nơi đây, giữa rừng già nghe tin chiến sự mà lòng cay đắng thấy hình như mình cũng có lổi phần nào…

Khó ngủ quá, đêm nay không ai muốn nghe nhạc, mỗi lần nhắm mắt tôi lại thấy máu nhuộm đỏ sông Êpa và cả sông Adun, rồi cảnh người ta cuống cuồng dẩm lên nhau mà chạy, rồi tiếng khóc la, gào thét, rồi tiếng súng pháo kích ầm… ầm… cứ vang vọng mãi như vẫn còn ở đâu đây; rồi những bàn tay quờ quạng, những đôi chân giẩy giụa… tất cả cứ luẩn quẫn trong đầu tôi, bàng hoàng nhức nhối,… Hằng bóp tay tôi thở dài: –

– Cố ngủ đi Thủy, nghĩ ngợi làm gì thêm nhức đầu, cũng đừng nhớ những chuyện đã qua, chẳng giải quyết được gì, tụi mình chỉ là những con sâu cái kiến mà thôi.

Đêm nồng nực, có lẻ ngày mai trời sẻ mưa, cơn mưa đầu mùa… Anh ơi;Có biết bao nhiêu chiều mưa hai đứa mình bên nhau, tay trong tay hạnh phúc tuyệt vời; hả anh? tôi cố ngủ…nhưng những nỗi nhớ như mang đôi giày sắt gót nhọn cứ nhãy múa trong trái tim tôi bằng nhiều vũ điệu làm cho tôi đau nhói…

21/03/1975

Qua một đêm oi nồng, sáng nay thức dậy nhìn lên trời thấy mây nhiều và nặng nhưng vẫn chưa mưa. Nồi bắp đã chín; tôi xuống sông, bên bờ sông có chừng 10 hố nhỏ lưng lững nước, Kiều đang múc từng ca nhỏ đổ vào ấm, anh Đạt kêu mọi người ăn bắp rồi còn lên đường, bắp được nấu mềm, bỏ vào miệng nhai thật chậm; thật kỉ để cho vị ngọt; bùi của bắp ngấm thật lâu; thật sâu trên đầu lưỡi và trong vòm miệng sau đó mới nuốt từ từ vô bụng…

Lại đi tiếp, đôi giày tự chế lót bằng lá rừng và bó lại bằng vải áo; cột bằng vỏ cây tước nhỏ cũng làm êm bàn chân hơn là phải đi chân trần; mỗi người lớn tự làm cho mình một đôi, riêng phần My Cò và bé Lan thì tôi làm. Tôi nói với Hằng quẵng hết những ưu tư phiền muộn trong lòng để nhẹ người để mà đi cho được nhanh, Hằng cười hát: “đường về còn xa xa lắm, xin người ” Chị Bích la ” – xin người đứng lên đi dùm tui;” Anh Đạt và Khải dẫn đầu, chúng tôi theo sau; vừa đi vừa kiếm mấy buôn thượng để xem có thể lượm mót được chút ít thực phẩm của họ trồng quanh làng, đi một đoạn anh Đạt lại mở bãn đồ ra xem rồi cùng bàn bạc với Khải, Mạnh… Đoàn tàn quân chúng tôi bây giờ có vẻ lôi thôi lắm; lúc thì được vào trong rừng đầy bóng mát, lúc thì phải đi ở mé sông không một bóng cây, nóng quá thì cứ để nguyên đồ trên người lội xuống sông cho mát xong lại lên bờ: ướt nhẹp mà đi tiếp, nhờ nắng, gió làm khô quần áo, đi và đi; không nghĩ ngợi suy tư gì, cũng không thèm buồn hay nhớ, cả một đoàn người lầm lủi, cặm cụi, lặng im nối đuôi nhau thành hàng đi như nhũng kẻ mộng du, cho đến khi cái đói làm thúc tỉnh mọi người. Chân tay bủn rủn, hai đầu gối run run, mắt mờ, tai ù, miệng khô:- đói lắm anh Đạt ơi; cậu Đạt ơi cháu đói… ngừng ngay lại… may quá bên kia kìa, đó thấy chưa; một cái chòi canh rẫy của người thượng, chúng tôi chạy ù đến lùng sục khắp chòi mà chẳng thấy gì, chỉ có Khải kiếm được một gói muối nhỏ dấu thật kỷ trên mái chòi;chia nhau mỗi người một hột, vị mặn của muối tan ra trong miệng; dù sao nó cũng làm cho tôi cảm thấy nhẹ nhàng trong người hơn một chút. Mạnh đoán:- rẫy này đả gặt hái lâu rồi;có lẽ từ mùa trước nên không còn gì; nay họ bỏ. Cả đoàn nghỉ lại nơi đây;nấu cơm ăn rồi đi tiếp, số gạo còn lại đươc nấu hết, chị Bích dặn Ngân nấu nhiều nước để có nước hồ cho bé Ly bú. Tôi ngồi cạnh chị nắm bàn tay nhỏ xíu của Ly Ly; bé toét miệng cười rồi phun nước miếng phì phì. Cơm chín, đây là những hạt cơm cuối cùng, tối nay và ngày mai sẽ như thế nào? rồi những ngày sau và sau; sau nữa, làm sao đây? Lúc này thì tôi không còn cảm hứng hay tâm trí gì nữa để mà thưỡng thức miếng cơm đang ngậm trong miệng; dù đó là miếng cơm cuối cùng… Tôi nói với Khải:

– Anh ơi, Thủy buồn ngủ với lại mệt lắm; nói anh Đạt khoan hẳn đi.

Bà An cũng đòi nghỉ thêm lâu lâu một chút; mắt bà van lơn như muốn khóc; ông An ôm bà vào lòng dổ dành, tôi nhìn kỷ bà mà thương bà quá; đôi mắt bà trõm lơ; sâu hoắm;gò má tóp lại với da mặt sạm hẳn; nét mặt bà bơ phờ mệt nhọc với hơi thở nặng nề; đâu rồi một người đàn bà tươi đẹp đài các mà tôi rất ngưỡng mộ; anh Đạt có vẻ buồn, anh nói chỉ sợ cứ nghĩ ngơi mãi rồi đâm ra nghỉ ngợi nhiều chỉ làm mọi người dể nãn lòng, anh cũng mệt lắm;trách nhiệm là cả một áp lực đè nặng lên vai anh; đó là cha mẹ; chị em và các cháu của anh, anh phải đưa tất cả đến nơi mong muốn được bình an, nguyên vẹn. Mặc dù tất cả mọi người trong gia đình chị Bích rất thương quí tôi; nhưng không hiểu sao tôi vẩn mang mặc cãm mình cũng đóng góp phần nào gánh nặng cho anh Đạt nói riêng và cả gia đình anh nói chung, ý nghĩ này cứ đeo đẳng tôi mãi kể từ ngày theo gia đình chị cùng đi di tãn, ngữa tay nhận một nắm cơm hay được chia một chút phần ăn là tôi lại áy náy…nhưng cái đói làm cho con người ta không còn gìn giử được sĩ diện hay lòng tự trọng, và tôi đang chính là con người đó, tôi buồn lắm nhưng không thể bày tỏ cùng với ai…

Dù là ban trưa nhưng mặt trời đang bị mây che phủ; gió mát hiu hiu, giữa một nơi thanh vắng như thế này giá như mà được ngũ một giấc thì thật là sung sướng; nhưng giấc ngũ không dễ gì đến với tôi khi mà tôi cứ ưa suy nghĩ lung tung, hết suy nghĩ lại nhớ nhung, hết nhớ nhung lại buồn rầu. Những đám mây trắng chen lẩn cùng mây xám lặng lờ trôi…ước gì tôi được như là những đám mây kia nhỉ? Chỉ biết trôi đi và trôi đi mãi theo chiều gió thổi, không ưu tư phiền muộn, chẵng nhớ nhung buồn sầu…như tôi.

Phải cố gắng lắm tôi mới rủ bỏ được những nổi buồn, lo và mặc cảm trong lòng mình để đi vào giấc ngủ, tuy chỉ là một giấc ngủ ngắn thôi nhưng cũng đủ mang đến cho tôi đôi chút thư thái trong tâm hồn và một ít sức lực để đi tiếp chặng đường dài không biên giới, không biết ngày được ngày tới đích. Khải đang ngồi bên cạnh tôi, anh cười khi tôi vừa mở mắt thoát ra khỏi giấc ngủ xế chiều, cảm ơn Khải vì anh đã ở bên cạnh tôi lúc này, tôi vươn vai ngồi dậy đưa mắt nhìn mông lung ra phía xa xa của chân trời…Tương lai sao mà mờ mịt quá, đường đi thì có lắm chông gai, mọi hiểm nguy lại luôn luôn chờ chực chúng tôi.

Vì trời không có nắng, cũng chẳng có mưa, mà chỉ êm êm; dìu dịu, như những ngày đầu mùa Thu của xứ Huế , nhìn màu mây xám nhẹ trôi lờ lững ở lưng trời, tôi nhớ da diết thành phố Pleiku và ngôi trường Trung Học Pleiku, nhớ đập nước Phú Thọ, ngôi giáo đường nhỏ của cha Nam, đó là nơi có nhiều kỷ niệm của tôi và anh ấy, tôi bồi hồi với sắc trời, với không gian nơi đây, vào lúc này và chợt làm nhớ đến bốn câu thơ của Hồ Dzếnh mà tôi rất thích lúc vừa mới quen anh:

 

“Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
Chiều buồn như mối sầu chung
Lòng êm nghe thoảng tơ chùng chốn xa”

 

Khải nhìn lên trời; hình như đang khóc. Anh Đạt an ủi cả nhà: “- cố đi thêm một đoạn đường nữa thôi, anh sẽ kiếm một nơi thật nên thơ để chúng ta nghỉ lại đêm nay; bây giờ vẫn còn sớm; nghỉ lúc này uổng thời gian lắm.” Cả đoàn người uể oải đứng dậy đi tiếp, không biết được bao nhiêu đoạn đường, chỉ biết trời đã về chiều, anh Đạt lại muốn tìm khúc sông hẹp để vượt qua bên kia, chúng tôi tới gần một nhánh phụ lưu của con sông cái Êpa, còn xa lắm mới gặp được con sông chính, đành phải dừng chân nghỉ ngơi thôi, nhưng mà…mọi người ai cũng đói cả, phải có cái gì đó có thể ăn được;bỏ vào bao tử mà ngủ cho qua một đêm, cứ vừa đi vừa bứt bất cứ thứ lá cây gì không có mủ là bỏ vô miêng mà nhai, mà nuốt, không biết chúng tôi ăn được bao nhiêu thứ lá cây trong rừng, mổi thứ lá có một mùi vị khác nhau…nhưng cái đói thì quá ư dể sợ, chẵng những vậy còn phải nhìn lên cao; biết đâu gặp một cây gì đó có trái ăn được…thế là chúng tôi trở thành những chàng và những nàng Thi sĩ bất đắc dỉ; không tìm thi hứng mà chỉ lo tìm…cái ăn, Đạt nhỏ chạy lên trước anh Đạt, anh chàng nhảy qua qua 1 cái hố nhỏ và reo lên:

– Có rồi… một cây sung nhiều trái lắm.

Mọi người chạy tới chổ Mạnh và cùng nhìn lên cây, những trái sung tròn; dẹp giống như trái vã xứ Huế quê tôi nhưng nhỏ hơn, bám chi chít trên thân cây, Đạt nhỏ leo lên nhanh như một con sóc, anh ta hái những chùm trái chín thả xuống, chúng tôi đưa tay chụp; tôi nắm vạt áo trước chìa ra để hứng, anh ta lại la oai oái “kiến, kiến quá trời, nó cắn… ái dà…”

Anh Đạt lựa những trái lớn nhất đưa cho bố mẹ, chúng tôi ngồi lựa những trái lớn chia nhau; cũng không nhiều gì mấy, mỗi người chỉ vài trái. Bé Lan, Ty anh, Ty em, My cò ngồi mân mê đếm những trái sung trên tay; lựa chọn – “trái này ăn liền nè; trái này để dành nè;” rồi mấy đứa nhỏ đưa lên miệng cắn, đứa nào cũng nhăn mặt, nhắm mắt lắc đầu: “chát quá mẹ ơi; con không nuốt được;” chị Bích dổ dành:- “cố nuốt đi các con, nhìn ông bà, mẹ và các cậu; các dì đây này…” chị Bích nhai trái sung mà nước mắt chị lăn dài trên má, cũng may còn mấy lóng mía để dành cho Ly Ly. Tôi cắn làm đôi trái sung, trong ruột của nó màu hồng, với những sợi tơ mịn màng như nhung giống ruột trái vả; mùi thơm của nó thật dể chịu nhưng khi ăn… không dể đâu, Khải nói cắn từng miếng nhỏ xíu nhai từ từ mới nuốt được, phải kiếm một trò chơi gì đó liên quan tới ăn để có thể nuốt trái sung vô bụng, Hằng cắn một miếng hát: 1, 2, 3 là con gà bước ra…(nuốt; chát quá) 4, 5, 6 là con gà chảy máu…(nuốt; ái dà) 7, 8, 9, là con gà sắp chín… (nuốt)… mấy đứa nhỏ với trò chơi của dì Hằng đã ăn được vài trái sung, Trong đoàn người đi này có 2 bà mẹ đang nhìn các con mình mà chảy nước mắt; đó là Bà An và chị Bích. Khải đến ngồi gần tôi buồn bã:

– Thủy có hối hận khi đi chung với gia đình anh không?

– Thủy không nghĩ gì hết, nhưng nếu không đi chung với gia đình anh; Thủy cũng chẳng biết mình như thế nào nữa, thành phố vắng hoe; Thủy thì không có người quen, lúc đó Thủy sợ lắm… à, anh Khải, anh đừng gắt với mợ anh; Thủy thấy thương bà quá.

Khải im lặng thở dài; mắt nhìn đâu đâu, anh lấy tay vẻ nghệch ngoặc xuống đất, rồi nói với tôi:

-Nhiều khi nhìn mợ anh đau lòng lắm chỉ muốn khóc; nhung hể mỗi lần thấy mợ khóc là anh rối cả ruột; mợ chịu khổ không quen. Thủy biết không; cứ chui rúc mải như thế này anh muốn điên lên mất; may mà có em; đời còn dễ thương… để mà đi tiếp, Thủy có nhớ lúc còn ở pleiku; mỗi chiều được đến trường đón Thủy đi dạy về anh vui lắm, nhưng anh cũng rất buồn vì em lúc nào cũng chỉ nghỉ đến anh chàng pilot kia.

Tôi sợ nghe những lời tâm sự này của Khải, vì làm sao mà tôi quên được; có biết bao nhiêu kỷ niệm, biết bao nhiêu buổi chiều anh Bang đến trường đón tôi, lúc đó chúng tôi không muốn rời nhau dù chỉ trong chốc lát, nhắc chi cho thêm buồn, rồi sau đó… tôi cũng nhớ có những buổi chiều khi dạy xong tôi về; nhưng vừa ra đến cổng trường thì thấy Khải đang đứng chờ tôi, với bộ đồ lính mặc trên người; tay mân mê cái nón nỉ, trông Khải vừa phong sương lại vừa có vẻ nghệ sỉ, anh chàng nhìn tôi cười ngượng ngùng, e ngại… đã xa thật là xa… làm sao mà quên được… cũng may anh Đạt đứng dậy vươn vai; ẹo lưng – cho giãn gân cốt – anh nói thế, tôi biết lại phải chuẩn bị lên đường nữa rồi. Đoàn người tiếp tục đi cho tới khi gặp một nơi thật đẹp anh Đạt mới cho ngừng. Tôi nhìn quanh; nơi đây thật tuyệt vời, chúng tôi nghỉ ở ven rừng, phía dưới là giòng sông uốn khúc quanh co, chiều lắm rồi và chiều nên thơ quá; như một câu thơ tôi thuộc từ thủa bé: ” “trời chiều bãng lãng bóng hoàng hôn, mấy cánh chim bay tận cuối trời…” Ở đây có tới 22 cánh chim lận. Màu trời chiều lúc nào cũng làm cho tâm hồn tôi nhức nhối; lòng cảm thấy buồn mênh mang, chơi vơi.

Đêm xuống nhanh; sương đêm mõng trắng bàng bạc bao phủ chung quanh. Ông bà An; chị Bích, mấy đứa con gái và những cháu bé đã ngủ say, chỉ còn lại những người “lở cở;” như tụi tôi xuống bờ sông ngồi tâm sự, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, chuyện nam tào bắc đẩu rồi đến chuyện của từng đứa, anh Đạt, Khải… so sánh với anh Hưng, Phi chuyện người bay trên trời, người hành quân trong rừng, bay trên trời thấy toàn là trời xanh mây trắng, còn đi trong rừng chỉ có cây cối và gai góc… nhưng trong rừng đẹp lắm, nên thơ lắm, đầy hoa bướm lạ… Tại sao đêm nay không ai buồn ngủ? hay cũng như tôi “ngổn ngang trăm mối tơ vò.”

Nữa đêm có tiếng sấm sét gầm rú rung chuyển trời đất, những tia chớp màu xanh lạnh tóe sáng rực trời trông thật khủng khiếp, gió thổi mạnh và cơn mưa trút xuống như thác đổ mà không báo trước, mưa đầu mùa lớn quá; chúng tôi giật mình thức giấc cuống cuồng tìm những lùm cây rậm chui vào, không cảm thấy đau đớn vì bị trầy xướt; thật buồn cười, núp mưa kiểu này chẳng khác nào: lấy vải thưa che mắt thánh Nước từ trên cao đổ xuống, len lỏi qua mọi ngỏ ngách không chừa một chổ nào, chúng tôi cố gắng co mình lại; nghỉ rằng càng cuộn nhỏ người bao nhiêu càng đở bị ướt bấy nhiêu, mấy đứa bé được người lớn ôm chặt trong lòng. Chúng tôi vừa ướt; vừa lạnh cọng thêm cái đói ập đến bất ngờ nên run cầm cập, run như cầy sấy, lúc này thì nước mắt cũng tuôn trào lai láng hòa cùng với nước mưa, vị mặn của nước mắt; vị ngọt lạnh của nước mưa chảy vào miệng; thấm vào lưỡi chúng tôi ngon khó tã. Ngồi khum lưng mỏi rã rời mà vẫn cứ ướt “như chuột lột;” tôi liều chui ra khỏi lùm cây; nằm dài trên nền đất, lắng nghe cảm giác những sợi nước nhỏ đang chảy dưới lưng mình; vừa nhột nhạt lại vừa như được ai đó đang xoa vào lưng: nhẹ nhàng; êm ái; mơn man, nước từ những chiếc lá trên cao rơi xuống mặt, xuống người tôi lành lạnh như có những mủi kim châm vào…

Cuối cùng thì cơn mưa cũng tạnh, nhưng sấm chớp vẫn xẹt ngang xẹt dọc trên bầu trời đêm; ánh sáng xanh lè như lưởi thép vừa ma quái vừa hung hãn đe dọa chúng tôi. Sau một hồi ra oai thì sấm lặng; chớp tan, chúng tôi ngồi chụm lại với nhau, chị Bích mừng rở vì lúc trời vừa đổ mưa, Khải, Minh, Đạt kịp lấy cái poncho nhà binh chùm cho bố mẹ và cái sacmarin đựng áo quần và những giấy tờ quan trọng của gia đình (và tôi cũng là người trong gia đình), nhưng ngày mai cũng vẫn phải xem lại mọi thứ. Mọi người đều lạnh nhưng không làm sao đốt được lữa để sưởi ấm, đành ôm nhau; lấy hơi người mà sưởi ấm cho nhau. Khải hỏi tôi: – Thủy sợ không? Tôi khóc: -Ai mà không sợ; hỏi lạ chưa.

CHÂN MỀM TRÊN ĐÁ

HỒ THỦY

KỲ THỨ 4

22/03/1975

Mãi gần sáng chúng tôi mới ngủ được, giấc ngủ của sự mệt mỏi, của một đêm dài ướt mưa, khi thức giấc thì nắng đã lên cao, hôm nay trời đẹp quá, từng cụm mây trắng lững lờ trôi trên nền trời trong xanh. Tất cả những áo quần, đồ đạc trong sacmarin được lôi ra phơi nắng;dù không bị ướt nhiều thì cũng ướt ít, rất may là những giấy tờ; bằng cấp; và cuốn sổ nhỏ để trong cái ví học trò của tôi không bị ướt, tôi thử lại cây viết của Paker cha tôi tặng sau khi đậu tú tài; không bị sao cả, còn được 1 ống mực secour, cái ví học trò là món quà của người chị tinh thần tặng khi tôi lên Pleiku, nó to bằng cuốn vở, đựng được nhiều giấy tờ và vài thứ linh tinh, may mà có nó, tôi mừng quá… Mấy trái sung hôm qua để dành; sáng nay lấy ra ăn, cũng hơi quen vị chát của nó nên nuốt dể hơn một chút. Trải qua một đêm mưa lớn, hôm nay nước sông dâng cao và đục ngầu; đang cuồn cuộn chảy, đó là nước trên nguồn đổ về;lúc này dòng sông không còn hiền lành; êm dịu và nên thơ nữa, tiếng nước ầm ầm mạnh như thác đổ; hung hăng đầy sự đe dọa cho chuyến đi này của chúng tôi, nhưng dù có như thế nào thì tôi vẫn thấy con sông này thật đẹp, tôi rủ Hằng xuống bờ sông ngồi để nắng làm khô quần áo trên người mà đêm qua mưa làm ướt hết, anh Đạt vẫn tính chuyện vượt qua bên kia sông, Hằng ưa hát:- này người yêu… tôi than với Khải: – cứ lội qua, lội về hoài – , Hằng cười vì: – bên kia sông là ánh mặt trời – Hôm nay chúng tôi lên đường rất trể, trời mới nắng đẹp đó mà đã chuyển qua hanh rồi, mây từ đâu tụ lại thật nhiều trên không, đêm nay xin đừng mưa như đêm qua. Một đoàn người với những đôi chân mang giày làm bằng lá đi theo sau lưng anh Đạt, Hưng nói:

– Chắc tôi bỏ cuộc thôi, tại sao cứ phải chịu khổ sở như thế này,

Anh Đạt gắt nhẹ: – ông đừng làm nản lòng “chiến hữu ” chứ, nếu muốn quay trở lại thì tùy, nhưng tôi vẫn phải đưa gia đình tôi đi tiếp – . Mặc dù Hưng nói vậy nhưng vẫn đi theo với chúng tôi, bây giờ thì tiến thoái lưỡng nan rồi. Tất cả chúng tôi mỏi rã rời như muốn bịnh vì trận mưa đêm qua nhưng vẫn phải lê từng bước theo anh Đạt, con đường đầy chông gai, khi thì leo dốc; lúc xuống đồi, có khi lại quanh co uốn khúc. Rừng thật đẹp; tôi vừa đi vừa nhìn ngắm chung quanh, đến một nơi quá đẹp chúng tôi ngừng lại để nghỉ, Khải nằm dài lên một thân cây bị ngã trong rừng, anh chàng nhìn lên trời; tay se se cánh lá vàng miệng hát “she nowt when I love somme; “…tôi thích nghe Khải hát, giọng Khải nhẹ nhàng du dương, Mạnh đi loanh quanh đâu đó rồi mang về một mớ trái giống trái sung nhưng nhỏ hơn; đựng trong vạt áo, Mạnh nói đây là trái Ngái – cùng họ với trái Sung – mùi của nó lại thơm hơn, ăn được dù cũng rất là chát; không thua gì trái sung, cốt yếu làm sao cho đở đói mà đi tiếp, Đạt nhỏ khuyên mọi người hảy cứ đi, đừng nghỉ ngợi chi cho lắm mà mất tinh thần, cứ coi như là cả nhà đi cắm trại trong rừng. Hằng, Minh, Khải và tôi thích ngồi đây lâu hơn vì nơi đây đẹp quá, tâm hồn chúng tôi để dàng rung động trước vẽ đẹp của thiên nhiên dù bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu… Nhưng thôi; phải lên đường.

Hôm nay thật là may, chúng tôi gặp 1 buôn Thượng nhỏ, lơ thơ mấy mái nhà rông, chúng tôi mừng quá ghé vào. Trong buôn vắng vẽ, chỉ có vài người già và con nít, họ bu lại nhìn chúng tôi có vẻ tò mò rồi chỉ chỏ líu lo nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ của họ, hình như họ cũng biết chút ít tiếng Kinh. Anh Đạt dùng tất cả khả năng điệu bộ mình có để nói chuyện với họ, anh đưa tay chỉ vào bụng của chúng tôi nói một chử “đói;” rồi chỉ lên miệng, vẻ mặt anh buồn như muốn khóc, sau cùng anh nói một tiếng “ăn;” người đàn bà thượng hỏi giọng lơ ló: “người kinh xin cái ăn hớ?” tất cả chúng tôi vội vã gật gật đầu, bà ta và mấy người đứng bên cạnh bỏ đi, một lát sau họ quay lại, mỗi người đeo một cái gùi sau lưng, họ ngồi xuống trước mặt chúng tôi rồi lôi những thứ đựng trong gùi ra, khoảng 10 trái bắp khô, 1 trái bí, 3 trái đu đủ, một nải chuối, người đàn ông đứng bên bà (có lẻ là chồng) lắc lắc đầu ra dấu với chúng tôi, ông ta nói “nghèo nhiều, nghỉ; nghỉ xuống…” Đạt nhỏ giải thích: ” ổng nói là họ nghèo lắm, ổng kêu tụi mình ngồi ở đây nghỉ.” chúng tôi mừng rở cảm động cám ơn họ. Tôi rủ Hằng, Khải, Minh xin họ đi quanh trong làng, cũng bằng một vài điệu bộ và mấy chử ngắn gọn, họ hiểu và gật dầu, thế là mấy đứa tôi lang thang trong buôn làng người thượng, tôi cảm xúc bởi vẻ đẹp hoang sơ ở nơi đây, sự gần gủi với thiên nhiên trong cuộc sống của họ tạo cho họ có một tâm hồn mộc mạc, trong sáng, bình dị, tấm chân tình của họ mang đến cho chúng tôi sự cảm thông và chia sẽ, Minh reo lên, cậu bé đưa tay chỉ về một góc ở cuối làng; nơi đó có một bụi mía cao, Hằng mừng quá vổ tay reo: “- xin mía cho bé Ly bú đi Khải ” . Bốn đứa quay về nơi cả nhà đang ngồi, Hằng kể anh Đạt nghe, lại quơ tay ra dấu lại nói lơ ló mấy tiếng, người đàn ông gật đầu quay đi, lát sau đem về đưa cho anh Đạt 5 cây mía, chị Bích mừng đến ứa nước mắt; thế là bé LyLy có 1 bình nước mía bú ngon lành, Mạnh hỏi mượn cây dao (ngoài Huế kêu là cái rựa), có dao; Đạt nhỏ cạo sơ vỏ cây mía rồi chặt mỗi cây làm 5 khúc để bó lại cho gọn, ông An nói anh Đạt chia cho mỗi người 1 lóng mía. Lóng mía chỉ dài chưa bằng 1 gang tay nhưng ngon và quí biết là bao, chúng tôi tước vỏ ra; cắn gảy từng miếng nhỏ nhai thật kỷ; ép cho ra hết chất nước trong lóng mía, nó ngọt ngào như không có thứ gì ngọt hơn. Tôi rủ Khải:-” mỗi lần gặp làng Thượng tụi mình xin họ cho tụi mình đi lùng quanh làng, vui ghê,” Khải cười gật đầu.

Nhờ có một ít lương thực của những người Thượng tốt bụng mà chúng tôi cảm thấy trong lòng phấn chấn nên đi nhanh hơn, đến quá trưa chúng tôi mới nghỉ chân, Đạt nhỏ chuẩn bị nướng bí, mấy trái đu đủ đã chín vàng nên anh Đạt xẻ ra chia cho mỗi người 1 miếng nhỏ, chị Bích lựa miếng chín nhất cho bé Ly ăn, bé mút mút miếng đu đủ rồi vổ tay cười thích thú. Trưa và chiều nay cả đoàn được ăn nhiều đồ ngọt, thật là sung sướng, số bắp khô được tách hột cắn nhỏ chiều nay sẽ nấu, tối mới được ăn, nhưng chỉ ăn phân nửa mà thôi, phân nữa dành sáng mai ăn lấy sức mà… đi, còn nải chuối chưa được chín thì để dành. Ngồi buồn Mạnh nảy ra sáng kiến lấy râu bắp làm sợi thuốc lá, còn lá bắp thay giấy vấn bên ngoài, thế là các anh con trai có được những điếu thuốc lá bằng râu bắp hút cho đở ghiền, ngồi với nhau phì phèo nhã khói lên trời;cả nhà khen Mạnh nức nở, tôi và Hằng, Minh cũng bắt chước nhưng chịu không nổi, ho sặt sụa, bị chị Bích la cho một tăng. Rừng bao giờ cũng đẹp, đầy bí ẩn và nhiều nguy hiểm mà chúng tôi thì cứ phải đi trong rừng, sông lúc nào cũng nên thơ, nước sông lúc nào cũng mát dịu nhưng gặp cơn mưa lớn, sông bổng thét gầm dữ dội và chúng tôi lại không thể đi xa được con sông.

Mấy hôm nay cứ lẩn lút trong rừng, men theo sông, theo suối mà đi, đêm nằm ngủ thì cứ ngã lưng trên đất, trên cát hoặc trên lá cây rừng, cái đói là bạn thường trực với chúng tôi, hình như không ai có ý niệm gì về thời gian nữa, cứ sáng đi; trưa nghỉ, xế trưa đi; chiều nghỉ… riêng tôi; tôi chỉ ghi đươc rất ngắn gọn vào quyễn sổ nhỏ của mình, để không quên ngày tháng và những chuyện đã xảy đến với chúng tôi. Tôi nằm trên đám lá khô dưới một gốc cây lớn, hai tay khoanh lại làm gối kê đầu nhìn lên trời, những đám mây trắng nõn nà lẫn trong màu xám bạc đang lững lờ bay dưới nền trời xanh, đẹp quá đi thôi… Đang lim dim buồn ngủ thì bé Lan rụt rè đến bên tôi, tự nhiên tôi cảm thấy thương nó quá, mấy hôm nay tôi đã thờ ơ; vô tình với nó dù bé vẫn lặng lẽ đi bên cạnh tôi, vẫn thích nắm lấy tay tôi; thế nhưng trong lòng tôi vẫn không có sự hiện diện của bé Lan hay của Hưng; Phi, tâm hồn tôi vẫn cứ lãng đãng nơi đâu dù chân vẫn bước; mắt vẫn nhìn. Bé Lan cũng bơ vơ như tôi, số phận của bé còn thê thãm hơn tôi vì bé không biết cha mẹ bé đang ở đâu? còn sống hay đã chết? còn tôi, tôi biết cha mẹ mình còn ở Nha Trang, đang yên lành chờ mong tôi về nhà. Tôi nhìn bé Lan và lòng bổng dưng thương bé quá, tôi nắm tay bé kéo xuống nằm bên tôi, mái tóc bé rối bời, nó đưa bàn tay gầy trơ xương lên đếm:

– 1 nè; 2 nè; 3 nè… cô ơi mình đi được mấy ngày rồi hả cô? sao đi hoài vẫn chưa về tới nhà hả cô?

– Mình đi đươc 5 ngày rồi, làm sao cô biết được chừng nào mới về đến nhà, cứ đi theo chú Đạt là về tới nhà thôi.

– Cô ơi; chắc ba má cháu đã về nhà rồi đó cô, kỳ lắm cô, buổi tối hôm đó cháu đang ngủ ngon tự nhiên ba má kêu cháu dậy, ba má bồng em bé, dắt tay cháu nói là cả nhà mình đi chơi xa, – bé òa khóc – cô Thủy ơi cô biết ba má cháu đi đâu không? cháu nhớ quá cô à.

– Nín đi con, kể cô nghe ở nhà bé Lan làm gì? ba má làm gì?

– Ba đi lính, má bán hàng ngoài chợ, cháu biết quét nhà bồng em cho má. Cô ơi, cháu kể cô nghe; hồi đêm cháu mằm mơ thấy ba má với lại bé Xíu nhìn cháu cười mà sao cháu kêu hoài không ai chịu nghe, cháu buồn lắm đó cô, cô Thủy ơi, mình đừng đi với chú Đạt, cháu mỏi chân lắm, cô đưa cháu về nhà cháu nghe cô…

Làm sao nói cho bé Lan hiểu bây giờ? Tôi ngồi dậy ôm bé Lan vào lòng, dấu mặt tôi vào mái tóc khét nắng của bé, tôi khóc thầm, có biết bao câu hỏi nhưng không có được một câu trả lời, chính tôi đây; tôi cũng không hiểu nổi tại sao và vì sao.

Khải đến ngồi bên tôi, hai đứa nhìn xuống dòng sông bên dưới; Khải mơ mộng:

– Nơi đây đẹp quá Thủy nhỉ, anh không muốn đi tiếp nữa, hay… em ở lại cùng anh…

Tôi cười:

– Ở đây để làm người tiền sử hả? Khải không sợ chết đói à? rồi đủ mọi thứ thiếu thốn…

Khải ngắt lời tôi:

– Vậy chứ người Thượng họ cũng sống được đó thôi.

Tôi lắc đầu:

– Họ khác; mình khác.

– Ối dà, đừng lo; ngày ngày anh đi kiếm đồ ăn đem về cho Thủy, bất quá mình cũng làm rẫy như họ…

Tôi xô Khải ngả chổng chân lên trời:

– Anh làm như tụi mình đóng phim kiếm hiệp vậy đó, cứ xách kiếm te te đi chơi, không làm gì mà cũng có cơm ăn, vậy là tụi mình giống… cái bang rồi…

Có tiếng Hằng cười khanh khách sau lưng:

– Con nhà Khải mơ mộng quá trời, em tôi lại sống trên mây rồi.

Mấy đứa tôi cùng cười lớn, bao nhiêu ưu phiền mệt nhọc theo tiếng cười bay đi mất. Anh Đạt đứng ở trên đồi vổ tay ra lịnh:

– Mấy đứa, mau mau mang giày vào; đi tiếp. Mất nhiều thời gian lắm rồi đó nghe,” -“Đi thì đi..”. Tôi sửa lại đôi giày cho bé Lan; tôi nói với bé mai cô sẻ gội đầu cho bé, từ bây giờ tôi sẽ chú ý chăm sóc cho bé, gần gủi với bé nhiều hơn; tôi nhớ đến giấc mơ bé kể lúc nảy và tôi sợ… Tôi nhìn lại nơi tuyệt đẹp này, cũng có phần nào lưu luyến, Khải lôi tay tôi: “còn nhiều nơi đẹp lắm; đi thôi”

Đang đi thì Đạt Nhỏ lượm được 1 miếng cơm cháy khô queo dính cát nhỏ bằng bàn tay nằm cạnh 1 cái chốt của vc, Đạt Nhỏ bẻ ra chia cho mỗi người 1 miếng nhỏ xíu bằng lóng tay, chúng tôi gở cát dính trên đó rồi bỏ vào miệng ngậm, nước miếng làm mềm những hột cơm cháy, thèm cơm quá đi thôi.

Anh Đạt mở bản đồ ra xem; hiện giờ chúng tôi đang ở khoãng giữa dòng sông Adun và nhánh nhỏ của sông Êpa, chương trình của anh Đạt là đưa mọi người ra khỏi khu rừng này, cặp theo sông, gặp được khúc sông nào cạn sẽ lội qua, khi qua được bên kia sông rồi thì… tiếp tục đi trong rừng, bám dọc theo đèo Măngyang; từ đó xuôi xuống theo sông Êpa về đến Tuy Hòa. Ý nghỉ về lộ trình này cứ đeo bám trong đầu anh Đạt, đã mấy ngày rồi mà chúng tôi chưa tới được sông Êpa, hiện giờ đoàn người đang ở trên 1 ngọn đồi cao, phía đưới là 1 nhánh sông nhỏ, có vẻ sâu, anh Đạt hối mọi người phải đi nhanh mới được, anh chỉ vào mấy điểm màu trên bản đồ và giải thích cho chúng tôi biết: nơi nào có dân, nơi nào là sông, nơi nào là đường…. v… v… nhưng nhũng nơi như thế này chỉ có người dân tộc thượng dựng làng sinh sống, còn người kinh thì ở đồng bằng, phố thị. Anh Đạt nói phải đi làm sao để chiều mai đến được chấm đen này, anh chỉ cho tôi xem “cái chấm đen;” ấy trên bản đồ, tôi chẵng hiểu và chẵng nhìn ra được cái gì cả. Thật tình tôi thấy anh Đạt thế nào ấy, hể ở bên này sông thì anh chỉ mơ tưỡng bên kia sông; mà qua bên kia sông rồi anh lại muốn về lại bên này. Bà An phải dựa vào ông An mà đi, bà có vẻ mệt ghê lắm, hôm nay bà không nói chuyện với các con, bà cũng không cười với các cháu, có lẻ bà bịnh?

Chiều xuống rất nhanh, khi chúng tôi dừng chân là khi trời nhá nhem tối, Ngân đang nấu số bắp đã xin được lúc trưa, bao nhiêu người lớn là bấy nhiêu cái “máy cắn bắp;” người nào cũng bỏ vô miệng vài hột; cắn bễ làm đôi, vừa làm vừa nói chuyện tiếu lâm chọc cho nhau cười, Khải đang ép mía cho bé Ly Ly bú, chị Bích nằm dài trên đám lá khô, Bé Ly nằm trên người chị đang ra sức bú những giọt sữa rất hiếm hoi của mẹ. Tiếng anh Đạt vang lên phá tan sự im lặng của mọi người:

– Ngày mai sẽ vượt sông, đoạn sông này không sâu lắm, chừng ngang ngực của mình thôi, mấy người lớn cõng mấy cháu bé trên vai, còn các cô bám vào nhau mà lội qua, đồ đạt thì khi đưa các cháu qua rồi, quay trở lại mang đồ sang. – Ông An hỏi:

– Làm sao con biết là cạn, nhỡ như khúc sông này sâu thì sao? nguy hiểm lắm con ạ.

– Con vừa thăm dò xong, không sâu đâu cậu à, phải cố mà đi cho nhanh, mùa mưa đến sớm như thế này mình dể bị kẹt ở trong rừng…

Anh Đạt bước ra chổ khác ngồi, nhìn anh có vẻ đăm chiêu; tôi biết anh đang rất lo. Tôi hỏi riêng anh Đạt:- “bên kia sông có gì mà sao anh cứ bắt mọi người chạy qua chạy lại hoài, đi như hình ziczac vậy đó ?” -“Anh cũng không biết bên kia sông có gì nữa, nhưng có cái gì đó cứ thôi thúc anh phải qua bên kia; dù rằng sau khi qua bên kia rồi anh lại thấy… phải trở lại bên này, tự nhiên anh cảm thấy mình không phải là mình mà là ai đó, nói ra sợ cả nhà lo, Thủy giữ kín cho anh.” Anh Đạt nói với tôi điều này xong; hình như anh có vẻ nhẹ đi một chút; nhưng tôi lại cảm thấy lòng mình trở nên nặng nề hơn. Hưng thắc mắc: -“Tại sao không ra đường cái quan mà đi, tôi biết đèo Măngyang đẹp lắm đó, chứ mình cứ đi mãi trong rừng như thế này biết bao giờ mới tới Tuy Hòa, mà biết đâu về tới đó, nó cũng mất như pleiku. ”

Anh Đạt gắt: – Đã là mình đang cố tránh vc, ra đường nhựa là gặp họ ngay, lúc đó họ lùa mình về lại Pleiku, rồi bắt mình đi nô dịch khổ sai có mà chết, còn đi trong rừng như thế này có nhiều hy vọng về đến Nha Trang, Nha trang có mất thì mình vượt biên vào Sài Gòn…

Những điều anh Đạt nói làm cho mọi người bồi hồi, lòng đầy hy vọng và phấn chấn tinh thần, tôi nhớ cha mẹ tôi lắm, nhớ hàng dừa trước sân nhà, nhớ giếng nước trong veo ngọt nhất vùng, nhớ nhà thờ Vĩnh Phước… nhớ bãi biển cát trắng, nước xanh, và tôi như nghe được tiếng sóng vỗ rì rào… rì rào… Ngày mai sẽ “sang sông;” chưa bao giờ tôi nôn nao như vậy, tôi nói với Hằng:-” sông này sao giống… sông Bến Hải; nó chia cắt đôi bờ, nên mình cứ muốn qua bên kia.” Chúng tôi gồm những người như: Anh Đạt, Hưng, Phi, Khải, Mạnh là những quân nhân, chị Bích, Hằng và tôi là những giáo sư, còn Minh, Hoa, Kiều, Ty, Ty Anh, là học sinh… Và thêm nữa là Ông Bà An; đang ngồi bên này sông để mơ về “nơi bình yên chim hót “.Mỗi chiều khi ngừng nghỉ Hằng lại hát “này người yêu, Người yêu tôi ơi…” bên kia sông, rồi bên kia nữa; có anh bên đó không? Tôi nhớ; tôi mong; tôi chờ đợi và tôi suy tư, cuộc chiến này hoàn toàn phi lý và phi nhân mà cái chết là sự kết thúc không báo trước. Cả một thành phố nhốn nháo, cuống cuồng chạy trốn vì sợ, một nỗi sợ vô hình, mà sự sợ hãi rất dể lây lan, nó như một bịnh dịch không sao ngăn chặn nổi, vc hay quá, đã làm cho người dân sợ chết khiếp, nhất là những gia đình có người đi lính… mà nhà nào lại chẳng có người bị đi lính và phải đi lính kia chứ, đó là sự bắt buộc rất hiển nhiên và tự nhiên thôi.

Trời tối dần, phía bên kia sông chỉ còn là một màu tím thẫm, nồi bắp cũng đã nhừ, chúng tôi mỗi người chỉ được một nắm bắp, bắp của người Thượng trồng thật ngon; nó vừa ngọt vừa bùi lại vừa dẻo, mùi thơm dể chịu. Tôi bỏ vài hột vào trong miệng; nhai thật lâu, thật kỷ để cảm nhận thật đầy đủ những hương vị đặt biệt của từng hạt bắp, dù sao cũng cứ nghỉ rằng: “ăn là một nghệ thuật;” và làm bớt đi cái phàm tục của mình, tôi nuốt thật chậm để cho cổ họng mình cũng được hưỡng nhờ cái vị ngon của bắp…, bé Lan lại đến bên tôi, tôi đếm đúng 10 hột chia cho bé ( thật ra là chỉ 5 hột đã cắn làm đôi). Chỉ sợ đêm nay trời đổ mưa, anh Đạt moi từ dưới đáy sacmarin lấy ra cái poncho, phòng hờ trời có đổ cơn mưa, dùng nó để che mưa thật là tuyệt. Buồn quá, chúng tôi rủ nhau ra mé bờ sông ngồi chơi, trên trời có những vì sao đang lấp lánh, một số ngôi sao đã bị mây che phủ. Bà An đang ngồi nói chuyện với Kiều, Ty và mấy đứa cháu, tôi nghe tiếng bà cười vui; lâu lắm rồi; kể từ ngày leo kên chiếc GMC đến nay mới nghe được tiếng cười của bà, mấy đứa chúng tôi vui lây. Tôi ôm bé Lan vào lòng; đu đưa nhè nhẹ, Hưng; Phi tới ngồi gần tôi; chúng tôi nói chuyện, hỏi thăm nhau, kể từ lúc nhập vào đoàn nhà chị Bích, đây là lần đầu tiên 3 đứa tôi nói chuyện nhiều với nhau, Hưng hỏi tôi đủ thứ chuyện, tôi kể cho 2 người nghe đại khái đôi chút về mình:

– Cha mẹ tôi ở Nha Trang, quê tôi làng Phủ Cam; Huế; cha tôi là Dân Biểu Quốc Hội khóa 2 của thời ông Ngô Đình Diệm, Dòng họ HỒ – ĐẮC, lúc nhỏ tôi học trường JEAN – D’ARC, sau Mậu Thân cả nhà vào Nha Trang, học trường Lê Qúi Đôn, đậu tú tài 2 lên Đà Lạt học đại học Văn Khoa và Sư Phạm, rồi xin lên Pleiku dạy, ở nơi tận cùng bằng số đó chẳng sợ ai để ý kỷ luật vì tôi ưa gom giờ dạy lại gần liền nhau; dành những giờ trống để bay lên Đà Lạt chơi.

-Thủy dạy trường nào? Kể cho tụi anh nghe chuyện của Thủy đi.

– Tôi dạy trường Nam Trung Học Pleiku, môn Văn – Sử – Địa, học trò của tôi có đứa cao bằng cô giáo, trường ở trên đường Hoàng Diệu; nằm giữa trường Tuyên Đức của Tàu và Trường Phao Lồ của các Soeur, trên một ngọn đồi; qua khỏi trường đến cuối con đường, qua bên kia đường có một thung lũng, tôi đặt tên là Thung Lũng Hồng, vì mỗi sáng sớm ra đó nhìn xuống dưới thấy cỏ có màu phớt hồng của nắng, đẹp lắm.Ngoài những giờ dạy ở trường Pleiku tôi còn dạy thêm môn Pháp Văn của trường Tư Thục Minh Đức 2 ở Phú Thọ…

Phi nói đùa:

– Học trò lớn mà cô giáo còn nhỏ như thế có bị xảy ra chuyện vòng tay học trò không?

– Cũng có vài lá thư tỏ tình của mấy “chú bé con” mới lớn, đọc cũng vui vui.

Anh Phi cũng ở Nha Trang, phi đoàn 114, lên Ban Mê Thuột bị kẹt lại, phải di tãn bằng đường bộ, anh hỏi tôi:

– Khải là gì của Thủy? rồi chị Bích, Hằng…

– Tôi dạy cùng trường Nam Tr. học với chị Bích, với lại cũng dạy trường Minh Đức 2 ở Phú Thọ chung với Hằng, tụi mình đang đi cùng với cả gia đình chị Bích, Bố mẹ của chị là ông bà An, cả nhà kêu bằng cậu mợ vì ngày xưa ở ngoài Bắc gia đình chị thuộc giới quí tộc, Đạt là em kế, rồi đến Hằng, Khải, Luật, Minh, Kiều, Ty, còn Thấm là em vợ của anh Đạt, mấy cô nhỏ kia là em họ của chị, anh hỏi Khải là gì của tôi? tôi cũng không biết nữa, nhưng Khải lãng mạn và hát rất hay, còn Minh là 1 chàng trai đang lớn, đúng hơn đó là một thiếu niên rất dễ thương, rất tình cảm; chững chạc, ít nói, tâm hồn sâu sắc lắm đó… mà thôi, sao tôi nói nhiều quá, tôi sẽ không nói thêm nữa đâu.

– Thủy kể chuyện hay lắm đó? với lại Thủy có cái răng khểnh rất xinh… biết không?

Tôi cười:

– Biết chứ, ai cũng khen như vậy. Khải từ trên dốc chạy xuống kêu tôi “- Thủy ơi; mợ gọi em kìa;” Khải nắm tay tôi kéo đến chổ bà An, tôi hỏi: – mợ nói gì con? -con biết từ lâu, cậu mợ quí con lắm, mợ mong khi về đến Sài Gòn con sẽ là con của cậu mợ nhé; con đồng ý không?.

Tôi không trả lời được câu hỏi của bà, nhất là vào lúc này, sự sống còn không biết có giử được hay không đây nói gì đến chuyện xa vời kia, tôi không trách bà, lúc này bà đang vui trong lòng, niềm vui hiếm hoi ít ỏi mới tìm lại được. Thời gian đến chơi với gia đình chị Bích là thời gian tôi đang sống ngập trong nổi đau khổ và nhung nhớ, tôi loay hoay tìm kiếm cho mình một phương thuốc để xoa dịu nổi đau đớn đó; nhưng tất cả chỉ là tạm thời trong chốc lát mà thôi. Đã khuya lắm rồi, anh Đạt ra lịnh:

-Thôi nào, mọi người đi ngủ thôi. Mợ đừng làm cho Thủy bối rối, cứ để mọi chuyện được tự nhiên mợ à ,(cám ơn anh Đạt lắm lắm).

Đêm nào cũng thế, hể nhắm mắt dổ giấc ngủ là tôi lại thấy những ánh chớp bừng lên, rồi sắt thép cùng xác người tung lên cao, rồi máu đỏ thắm đất, máu nhuộm cả một giòng sông, văng vẳng bên tai tiếng khóc la kêu gào, là tiếng nổ rung trời chuyển đất, những hình ảnh của chết chóc cứ ám ảnh tôi, nó ở mãi trong đầu tôi chẳng chịu buông tha cho tới lúc tôi phải khóc một hồi rồi mới ngủ được. Đêm nay ngồi nói chuyện với 2 anh chàng phi công này, tâm hồn tôi hơi xao xuyến bâng khuâng vì họ ở cùng phi đoàn của anh ấy… ngày xưa…

23/03 /1975

Mặt trời lên cao; nắng ban mai nhảy nhót trên những ngọn cây; len lỏi vào từng kẻ lá như những sợi chỉ vàng óng ánh, nắng chiếu vào mặt, nắng soi vào mắt, lúc đó chúng tôi mới thức dậy, anh Đạt là người nôn nóng lên đường mà cũng dậy trể như mọi người, chúng tôi nhào xuống sông, nước mát lạnh làm cho chúng tôi tỉnh táo. Một ngày mới đầy tươi đẹp, đầy màu sắc: mây trắng, trời xanh, nắng hồng óng ã, gió thì dìu dịu phất phơ… nếu không vì chuyến đi về vùng tự do đầy gian khổ này; mà được ở lâu nơi đây thì thích quá. Mỗi người chúng tôi được 1 nắm bắp như đêm qua, ăn xong chuẩn bị hành trang lên đường. Hôm nay bà An có vẽ rất mệt mỏi hơn bao giờ hết, hình như sức khỏe của bà rất kém.

Sáng nay chúng tôi phải lội qua sông, sau cơn mưa đêm hôm nọ nước trên nguồn đổ về dâng cao và chảy mạnh nên chúng tôi phải mò mẩm từng bước mới lội qua được bên kia bờ, con trai phải đi làm 2 chuyến: sau khi cõng mợ và các cháu nhỏ qua bên kia rồi, phải lội ngược trở lại; đội đồ đạc trên đầu, mỗi người nắm tay 1 đứa con gái dắt qua, đến giữa dòng Ngân loạng choạng trượt chân ngã xuống, 2 tay chới với đang lúc nước chảy mạnh, chúng tôi la hét vang cả một góc trời, cũng may Hớn kéo tay Ngân lên kịp. Khi tất cả chúng tôi qua sông được an toàn, mọi người ngồi nghỉ mệt, ai cũng hú hồn hú vía vì chuyện vừa rồi, áo quần đứa nào cũng bị ướt, thôi thì cứ để nguyên trên người nhờ nắng hong khô, chỉ mấy đứa bé là không bị ướt, dù sao cũng phải cố mà đi tiếp. Một đoàn người áo quần sũng nước đội nắng mà đi; lôi thôi; lếch thếch như một đám ăn xin du mục, cũng chẳng khác nào một lũ điên, đâu rồi hình ảnh của những chàng Sĩ Quan QĐVNCH oai phong lẫm liệt, đâu rồi hình ảnh của các quí cô tiểu thư khuê các? bây giờ thì mất hết cả rồi, chỉ còn một đám… tàn binh trông rất thê thảm.

Nắng nóng bỏng, trời oi bức nồng nực không có lấy 1 ngọn gió, tôi thở khó nhọc; lổ mũi như có khói bốc ra, mắt tôi cay mờ, đầu nặng như đeo đá, chân bước không muốn nổi, anh Đạt thì luôn miệng hối:” -nhanh lên nào, sao mà chậm quá cứ như là rùa bò,” Tôi đi như người bị mộng du, bây giờ đến lượt cơn đói hành hạ chúng tôi, đoạn rừng này không có trái gì để ăn, kể cả trái sung hay trái ngái, một nơi hoang vu, không có con đường mòn nào để chứng tỏ có bước chân của người Thượng; mà chỉ toàn là rừng cây với núi đá. Đạt Nhỏ ngừng lại nói với anh Đạt:

– Phải để 2 bác và mọi người nghỉ, không ai đi tiếp nổi đâu, bây giờ tất cả ngồi đây chờ tôi đi dọ đường, cố kiếm 1 con đường mòn, có đường mòn là có làng thượng đâu đó hoặc là nương rẫy của họ, tới lúc đó mình tùy cơ ứng biến.

Nói xong Đạt Nhỏ bỏ đi, chúng tôi ngồi bệt xuống đất chờ đợi, không biết thời gian bao lâu Mạnh mới trở về, mọi người chăm chăm nhìn anh chàng để đoán kết quả, Đạt Nhỏ thở ra có vẻ nhẹ nhỏm: – Gần đây có một làng Thượng nghèo, nhưng vẫn tốt hơn là không có, nào cùng đi…

Chúng tôi uể oải đứng lên đi theo Đạt Nhỏ, len lỏi sâu trong rừng 1 tí, xuôi theo bóng nắng 1 đoạn rồi chếch về bên trái gặp 1 con suối nhỏ (đổ về sông Êpa) nơi đây có 1 buôn thượng nghèo nàn, với vài nóc nhà sàn chơ vơ hiu quạnh, anh Đạt mở bản đồ ra xem, nhưng vì làng quá nhỏ nên chi không có trong bản đồ, nhưng theo trong này nếu đi ngược lên phía đèo Măngyang thì nơi đó có 1 buôn làng lớn tên là AnTrưng, nhưng nếu đi ngược lên phía trên là về lại… Nơi Chốn Cũ…Tôi chỉ vào mấy con đường vẻ trên bản đồ, nói với anh Đạt:

– Ngày đầu gặp vc, đoàn mình ở gần đèo Măngyang, mình cũng đã bò ra khỏi rừng để tới con đường này, rồi anh lượm được bịch gạo với cái nón sắt, sau đó cả đoàn rút vô rừng, đi mấy ngày trời mà cũng chỉ loanh quanh lòng vòng, lên đồi, xuống dốc, vô rừng ra suối, qua bên kia sông rồi về bên này sông…đoàn mình đâu có đi được bao nhiêu đâu, nếu bữa đó mình cứ đi thẳng xuống; không chừng mình đi được nhiều…

Anh Đạt nhíu mày: – Không phải đâu, lúc anh và Khải bò ra lượm đồ, thì tụi mình ở gần buôn Hra, chỉ là đầu đường đèo mà thôi, sau đó mình rút về đi theo sông Ađun -Thủy xem đây này – anh Đạt chỉ vào 1 điểm trên bãn đồ – Ở đầu cây cầu này là nơi cả đoàn xe bị chận lại, ngay Phú Bổn lúc đó vc pháo kích tưng bừng khói lửa, ngày gặp mấy ông vc là tụi mình ở chổ này, sau đó bò ra quốc lộ, rồi lùi ngược sông Ađun, vì sông này gần thị trấn Măngyang, không xa Hàm Rồng bao nhiêu, anh phải đưa cả nhà đi băng rừng để tránh vc. Pleiku mất rồi, thành phố bỏ ngỏ mà, thấy chưa.

À, thì ra là vậy, như vậy Phú bổn là tâm điểm của Qui Nhơn, Ban mê Thuộc và Pleiku. Trong bản đồ có 1 con đường nhỏ tách ra từ QL19, con đường này cặp theo sông Êpa tới thị trấn Cheo Reo, hai con sông Adun và Êpa gặp nhau nhập chung làm 1 dọc theo sông này có 1 con đường lớn, con đường và giòng sông chạy song song với nhau đi qua các buôn làng nhỏ, sau đó đến thị trấn KrongPa, cuối thị trấn là ranh giới của Tuy Hòa… Như thế chúng tôi phải đi rất nhiều cây số đường rừng, lại lên đồi; xuống dốc, lại loanh quanh loằng ngoằng nhưng dù sao khi gặp được làng Thượng ai nấy đều vui mừng, thở phào nhẹ nhỏm.

Mặc dù đây chỉ là 1 buôn Thượng nghèo nhưng có còn hơn không, đám con trai lại đi tảo thanh lương thực, Tôi và Hằng dù mệt vẫn muốn đi theo nhưng bị la: chỉ vướng chân. Tôi nhìn quanh chổ mình ngồi: nơi đây là một rừng tre dại; thân tre nhỏ bằng cườm tay của tôi, không cao vút như tre làng Phủ Cam của tôi, nó cũng mọc từng bụi, chúng tôi xuống sông rữa mặt, nước sông mát rượi làm dịu cơn mỏi mệt. Bao nhiêu lần vượt sông là bấy nhiêu lần hy vọng, nhưng bên này sông hay bên kia sông cũng thế mà thôi, vẫn chỉ là sự hoang vắng, là rừng cây; bãi cát cùng với sự thinh lặng của không gian. Tôi cảm thấy chung quanh mình mịt mù vây phủ không lối thoát. Chiều nay; ngồi trên đồi với một rừng tre xanh mướt, tôi nhìn xuống dòng sông bên dưới, tôi nghỉ về mình, tôi tìm tôi trong kỷ niệm, kỷ niệm của tôi lãng đãng mờ hơi sương, tại sao tôi cứ mãi nhớ nhung về những tháng ngày đã qua? đi như thế này lắm lúc tôi muốn nổi loạn, muốn gào thét thật to, rồi tôi lại muốn khóc; khóc thật lớn, khóc cho bể cả không gian mà trút tất cả mọi thứ đang chất chứa trong tâm hồn tôi để không còn lại một thứ gì, cho tâm hồn tôi được nhẹ nhàng thanh thãn.

Bé Lan lay lay vai tôi làm tôi tỉnh “cơn mê;” trở về với thực tại, bé đưa tay chỉ ngược lên phía trên giòng sông:

– Cô Thủy ơi, xem kìa;

Tôi nhìn theo tay bé chỉ và reo to:

– Có người kìa, chị Bích ơi, Hằng ơi, lẹ lẹ lên…

Đó là 2 người Thượng đen thui, một đàn ông và 1 đàn bà, tôi đoán đó là 2 vợ chồng, họ đang lưới cá ở khúc sông phía trên, tôi nắm tay bé Lan chạy tới gần để xem, 2 người họ; mỗi người 1 bên, 2 tay cầm 2 góc của 1 miếng vải mùng dài độ 3m; 2 góc cho chìm sâu dưới nước, 2 góc ở phía trên, họ cúi sát xuống cho tấm vải nằm dựng đứng theo chiều ngang ngăn dòng nước rồi đi tới từ từ, sau đó họ nâng tấm vải lên theo thế nằm ngữa, trên tấm vải mùng có mấy con cá nhảy lưng tưng, chúng tôi ngạc nhiên lẩn thích thú nhìn cảnh lưới cá đơn sơ mộc mạc này, họ làm đi làm lại nhiều lần như vậy, số cá lưới được, họ xâu vào 1 thanh tre chẻ nhỏ, sau đó treo trên một cành cây ven sông, ở trên bờ chúng tôi lẻo đẻo đi lên đi xuống theo 2 người đó (trông chúng tôi lúc này thật buồn cười, như 1 bầy con nít khù khờ tội nghiệp). Nhìn những con cá của họ; đứa nào cũng… thèm. Mấy chàng trai sau khi “tảo thanh lương thực;” họ mang về mấy trái bí, đu đủ, chừng chục trái bắp, tôi chạy lên lôi tay Khải xuống, mấy người con trai chạy theo, Minh vổ tay reo lên:

– Mình bắt chước họ, lấy cái mùng bắt cá đi anh Đạt.

Cả một khúc sông đầy tiếng reo vui của đám trẻ nhỏ và người lớn. Vậy là cái mùng có thêm 1 công dụng, khi 2 người thượng lên bờ đi về nhà họ, anh Đạt, Khải, Minh, Đạt Nhỏ, Phi, Hớn nhào xuống sông, 6 chàng trai với 1 cái mùng vật lộn với giòng sông kiếm cá, vui quá là vui, mỗi lần kéo tấm mùng lên trong đó có mấy con cá vùng vẩy Ty Anh, Ty em, My cò, bé Lan vổ tay reo hò, chị Bích bồng Ly ly xuống coi mấy cậu bắt cá, sinh hoạt này điễn ra một cảnh thanh bình vui vẽ, chúng tôi tạm rời xa mọi thực tại đáng buồn. Mãi đến khi trời tắt hẳn nắng chúng tôi mới kéo nhau… “tung tăng đi về nhà “.

Số cá lưới đựơc là 27 con; to bằng ngón tay cái, mấy trái đu đủ chỉ mới chín hườm, Chị Bích dặn Ngân lấy cá nấu canh với đu đủ, cho vào 1 chút muối (gói muối Khải cất kỉ lắm nên khi trời mưa vẫn không bị ướt), ấm nước dùng để nấu canh, còn cái nón sắt nấu bắp, thế là… bao nhiêu người là bấy nhiêu cái máy cắn bắp, chúng tôi vừa làm vừa nói chuyện vui đùa. Ôi chao; nhờ những con cá bé nhỏ mà chúng tôi có được niềm vui lớn, cùng với một luồn sinh khí mới thổi vào tâm hồn mỗi người trong chúng tôi.

Tối nay chúng tôi được ăn canh đu đủ nấu với cá, chất tanh của cá hòa quyện với vị ngọt của đu đủ, vị mặn của muối sao mà ngon, mà quyến rũ quá đi thôi, cọng thêm với những nắm bắp vừa dẻo vừa thơm lại vừa bùi… những thứ đó cùng đưa vào miệng ngậm chung với nhau… Ai ơi đừng nuốt vội, hảy cứ nhai từ từ mà thưỡng thúc; mà cảm nhận; thích lắm đó, hảy cứ ngậm cho lâu rồi phân tích từng vị một: đâu là ngọt; là tanh; là thơm tho; là dẻo, bùi và mằn mặn…(sao tôi phàm tục thế)… Nhưng…tôi đang thưỡng thức tinh hoa của trời và đất thôi mà.

Bà An đòi nghỉ ngơi vài ngày ở đây vì bà rất mệt, hơn nữa ở lại nơi đây cũng vui;còn hơn là cứ lầm lủi đi mãi trong rừng; nhưng anh Đạt không chịu anh muốn đưa cả đoàn đi tiếp, lòng anh đang nôn nóng lo cho vợ và 3 con của anh. Anh cho rằng “mẹ nhỏng nhẻo với bố;” với lại bà thiếu ý chí, tinh thần suy nhược nên cơ thể bị yếu theo. Nửa đêm Bà An khóc, giữa rừng khuya; khi vạn vật đều thinh lặng, tiếng khóc của bà nghe nảo nề làm sao, ông An vổ về bà, giọng ông nhừa nhựa vì đang cơn ngái ngủ. Phía dưới kia là tiếng róc rách của giòng nước đang chảy về xuôi, không ai ngủ được nữa vì tiếng khóc của bà An, Khải rủ tôi ra bờ sông ngồi nghe Khải hát; vẫn là những bản nhạc của LOBO, giọng Khải sao mà buồn quá. Tôi ngồi nơi đây mà nghe: giọng khóc tỉ tê của bà An, giọng vổ về buồn ngủ của ông An, tiếng nước dưới sông đang chảy với tiếng hát của Khải buồn buồn… tất cả đang xoáy sâu vào lòng tôi đau nhói, có ai trả lời được dùm tôi : biết chừng nào chúng tôi mới ra khỏi nơi đây? Tâm hồn chúng tôi đều tan nát như nhau, ai cũng có một nổi miềm riêng. Đêm về thường ưa suy nghĩ lung tung và thường rất sợ hãi.

Trời lại không thương chúng tôi rồi, nửa đêm bổng đổ cơn mưa lớn, mưa như thác nước trút đầu gềnh; lớn hơn cả cơn mưa hôm trước, chúng tôi vội vã chui vào những lùm tre, ngồi thật sát vào nhau cố tránh những giọt nước phủ phàng đang tuôn lên người chúng tôi một cách vô tình không thương xót, mặc dù đang bị khốn khổ vì ướt; nhưng tôi vẫn cố lắng tai để nghe những âm thanh của nước đang cùng nhau hòa tấu: Tiếng ầm ầm từ trên nguồn đổ về nghe vọng dội, tiếng róc rách chảy qua các gềnh đá nhỏ nhẹ êm tai, tiếng rủ rỉ khi nước lách qua những gốc cây và tiếng mưa rơi rì rào… rì rào…trên lá. Sấm chớp xẹt sáng xang lè cả một góc trời, dù nhắm mắt thật kỷ nhưng ánh sáng rợn người vẫn lóe trong mắt tôi nhức nhối. Tôi ôm chặt bé Lan, bé cố thu người thật nhỏ; thật sát vào tôi; nó khóc nức nở, cả người bé run rẫy trong lòng tôi làm tôi cũng khóc theo. Nước ở đâu trên trời mà nhiều quá, trút xuống mải không ngừng nghỉ, không cạn nguồn, nước chảy qua chân; qua mông đít, nước len lỏi vào từng ngóc ngách trên người chúng tôi làm ước đẩm, lạnh buốt. Chiều nay được ăn một miếng canh cá nấu với đu đủ và một nắm bắp hầm nhừ, niềm sung sướng hạnh phúc chưa tan thì đã phải trả giá bằng một cơn mưa quá chừng quá đổi… mưa và mưa mãi…

24/03/1975

Mãi đến gần sáng mưa mới tạnh, nước trên cao vẫn chảy mạnh len lỏi qua các khe đá kêu róc rách, tất cả đồ đạt áo quần của chúng tôi mang theo đều ướt chèm nhẹp, trời không có nắng để phơi đồ nhưng cũng phải trải trên những ngọn cây nhờ gió thổi cho khô. Bà An lên cơn sốt, mọi người rất là lo lắng, nhất là anh Đạt, anh không muốn ở lại đây lâu, chờ chừng nào đồ đạc hơi khô sẽ đi tiếp, anh bàn với chị Bích và Khải: – phải làm 1 cái cáng để thay nhau khiêng mợ. Ông An và chị Bích không chịu; sợ đi kiểu đó bà sẽ mệt hơn, bà cần phải được nghỉ ngơi một cách tuyệt đối, điều trở ngại lớn nhất là sau cơn mưa đất đai đều ẩm ướt làm sao nằm nghỉ lại ở nơi đây? Đạt nhỏ nói: – hay là làm 1 cái giường dã chiến cho mợ nằm, cũng không khó, lấy 4 khúc tre đóng xuống 4 góc đất, chẽ tre làm vạt giường, rồi làm mái nhà che mưa, lấy lá tre lợp nhà… Hằng trề môi: – nói nôm na là làm 1 cái chòi, nhưng tại sao lại tính chuyện lâu dài vậy? Anh Đạt đứng lên, thở phù 1 cái nói với bố: “- con sẽ đi tìm 1 cái chòi thượng bỏ trống, thường thì họ làm 1 cái chòi ở trong rẫy để canh mùa màng, cậu mợ và cả nhà ở đây chờ con, cùng chăm sóc mợ cho kỉ .” Anh quỳ gối ôm 2 vai bà, dổ dành, trấn an:

– Mợ đừng lo gì cả, mọi chuyện đã có chị em con lo, bên cạnh mợ có đầy đủ cậu và chúng con, mợ cố vui khỏe cho chúng con vững tinh thần.

Tuy nói thế nhưng tôi thấy trong mắt anh có 2 giọt nước long lanh chỉ muốn trào ra, khi anh đứng dậy, tôi cảm thấy thương cho anh quá. Anh Đạt đi lâu lắm, chúng tôi sốt ruột; lo lắng bồn chồn, cứ nhìn về lối mòn anh đi lúc nảy…ôi mừng quá, anh đã về, anh báo tin vui :” – Cách đây chừng 1 cây số có cái chòi của Thượng bỏ không, nhìn còn rất tốt, trong chòi lại có rất nhiều bắp, chúng mình đưa mợ đến đó nghỉ ngơi vài ngày.

Ai nấy đều mừng rở, Khải cõng mẹ đi theo anh Đạt, chúng tôi lỉnh kỉnh xách đồ đạc theo sau, Khải mệt rồi tới phiên Mạnh, tôi cảm động thay cho gia đình chị Bích khi thấy Mạnh nhiệt tình như người trong một nhà, đường đi tới cái chòi khúc khuỷu quanh co, nó nằm chơ vơ giữa 1 rẫy bắp củ, trong chòi có rất nhiều bắp khô, có lẽ đây là những trái bắp được họ chọn lựa để dành làm giống cho mùa sau, bà An được đặt nằm trên sàn chòi. Tôi nhìn kỷ cái chòi canh này và nhận thấy đây hình như không phải là chòi canh, mà là nơi để họ nghỉ ngơi khi gặt hái mùa màng và làm kho cất giử giống má. Họ làm cái chòi này một cách tỉ mỉ khéo tay đến không thể nào ngờ được; nó có hình chử nhật, tôi đoán một bề dài chừng 4m bề kia chừng 3m, sàn chòi là những thanh cật tre chẻ nhỏ; vót láng được xếp đều đặn ngay ngắn dọc theo chiều dài của nó và được đan dính vào với nhau bằng những sợi cật tre mãnh; nhỏ xíu, nhờ vậy mà sàn chòi phẵng lì vừa êm vừa mát, khi nằm lên đó nó sẽ cho ta một cảm giác thật dể chịu, phía trên mái của chòi họ làm công phu hơn, vô cùng tinh tế và có một kỷ thuật thẩm mỹ đến cao độ: những thanh tre được chẽ rất đều, vót thật trơn gát lên mái nhà chòi – có độ cao và nhọn chảy dốc xuống – từng thanh tre nhỏ xếp cách đều nhau chừng 1 phân; đặt lên trên nhũng cây đòn tay và được cột lại với nhau bằng những sợi tre như ở dưới sàn, sự đều đặn và cách khoãng nhau giửa các đòn tay và các cây xà ngang không thể nào chính xác hơn được nữa, họ dùng lá tranh để lợp mái, và cách lợp cũng vô cùng công phu, ba phía của chòi được che kính bằng những phên tre cũng được làm một cách rất tỉ mỉ, họ chừa trống 1 phía, riêng cả 3 phía kia họ treo từng lớp bắp sát vào nhau không chừa 1 kẽ hở nào; nó đều đặn như vảy cá; để phơi nắng và hong gió, như vậy chắc chắn đây là nơi để dành giống cho mùa sau đồng thời là nơi phơi giống cho khô, đầu óc họ thật tuyệt vời.

Số bắp hôm qua bị ướt mưa bây giờ đem ra nấu, nhờ vậy nó mau nhừ, nhưng phải thật nhừ như cháo để bà An dể ăn, trán bà nóng hổi mà người bà lại run lập cập, anh Đạt, Khải, Minh; lật đật đốt lửa trước chòi để sưởi ấm cho bà, ông An, Minh, Khải ngồi bên cạnh đang chà xát tay chân bà cho bớt lạnh, mọi người ai cũng lo lắng và buồn đến chảy nước mắt. Bà tỉnh dậy đòi uống nước, cháo bắp cũng đã nhừ, chị Bích đút cháo cho bà ăn nhưng bà nuốt rất khó khăn, mỗi lần nuốt 1 muổng cháo là bà nhăn mặt khổ sở, cả nhà ngồi bên cạnh dổ dành năn nỉ bà ăn, cố gắng cho mau khõe để về Sài Gòn gặp Luật, tôi thấy bà nhướng mắt lên để nuốt miếng cháo và nuốt luôn cả nước mắt, bà gầy gò, má cóp trơ xương, 2 hố mắt sâu hun hút, mặt bà vêu vao da vàng vọt, những ngón tay teo tóp, đôi chân bà khẵng khiu, tôi xót xa ứa nước mắt leo lên ngồi cạnh bà, nắm bàn tay bà bóp nhẹ, bà nhìn tôi hơi mỉm cười sau đó bà nhắm mắt như muốn ngủ. Cả nhà thay phiên nhau ngồi cạnh bà, riêng ông thì không rời bà lấy nữa bước, ông buồn rầu, đôi mắt ông luôn nhìn bà xót xa đau đớn. Ngồi mãi cũng chán, tôi bỏ ra ngoài tìm chổ nghỉ trưa, Hằng cũng ra ngồi bên tôi, mặc dù 2 đứa khác nhau về nhiều mặt: tính tình, sự suy nghỉ và những cái khác nửa nhưng chúng tôi lại rất hiểu nhau, thường chia sẽ cho nhau những lúc cần thiết nhất, tôi quí Hằng vì Hằng biết cách im lặng nghe tôi khóc bởi một lý do nào đó và kịp lúc dẩn tôi ra phố để cho tôi nguôi ngoai nổi buồn.

Chiều xuống chầm chậm, tôi thích buổi chiều nhưng rất sợ đêm tối đến. Có công việc để làm rồi đây, số bắp trên chòi đủ để nuôi sống chúng tôi trong thời gian chờ đợi; với điều kiện người Thượng không đến lấy và đuổi chúng tôi đi. Bây giờ chúng tôi cùng nhau gở hột bắp, nói nôm na là “lẩy bắp hay tẻ bắp;” vì phải làm nhiều nên mấy ngón tay của mọi người bị sưng phồng đau đớn, nhưng vẫn phải cố gắng tẻ cho thật nhiều để dành cho những ngày sau không sợ bị đói khi đi trong rừng, phải hy sinh 2 cái áo sơ mi của ông An để làm bọc đựng bắp; cứ trải rộng cái áo ra đổ bắp vào rồi túm cái áo lại, cột chặc, thế là xong, thật đơn giản, trong cái khó thường ló cái khôn; cũng như việc nhóm lữa nấu nướng, vì hộp quẹt diêm đã hết, Mạnh đã nghỉ ra cách: mỗi lần nấu nước hay bắp, lúc nào cũng phải đút vào 1 cây củi khô và to, khi tàn ngọn sẽ vùi cây củi đó vào tro để nó cháy âm ỉ hôm sau lên đường thì xách nó theo…nên không còn khó khăn mỗi lần nhóm bếp, chúng tôi gọi đùa là : “bếp lữa lang thang “.

Vừa tẻ bắp vừa nói chuyện cho đến khi 2 tay không thể làm nổi nữa, nhìn lại số bắp tẻ được cũng khá nhiều, vài đứa ngồi hát vu vơ, chiều xuống nhẹ nhàng, chung quanh cảnh vật mờ mờ hơi sương, Ngân cũng đã nấu xong nồi bắp, chúng tôi quây quần cùng ăn tối; phần ăn được nhiều hơn những lần trước. Tối nay không ai còn lòng dạ nào mà nghe radio, mỗi người đều mang một tâm trạng riêng, nhất là bà An đang bịnh, không ai còn muốn nghe những câu hứa hẹn hảo huyền, và những lời tuyên bố viễn vông cùng với thái độ huyênh hoang lớn lối. Thà rằng cứ sống trong hy vọng mơ hồ của chính mình, bây giờ thì niềm tin của chúng tôi đã bị lung lay ít nhiều, điều duy nhất chúng tôi muốn là làm sao sớm đoàn tụ với gia đình. Ngọn lữa bên chòi đang cháy bập bùng; sáng lung linh, ông An, chị Bích và các cháu nhỏ đang ngủ say, Ngân, Thắm, Hoa, Kiều nằm cạnh nhau kễ chuyện ma, chúng vừa la nho nhỏ vì sợ, vừa rúc rích cười vì thích thú, đó là những cô bé chỉ trên dưới tuổi 18, vẫn rất hồn nhiên vô tư, cứ cuống cuồng chạy theo gia đình, không hiểu vì sao phải chạy, cũng không biết vc là ai, như thế nào và ra làm sao. Bên đống lửa lúc này chỉ còn Anh Đạt, Hằng, Khải, Minh, Hớn, Đạt nhỏ, Hưng, Phi và tôi, buồn quá Khải hát, thế là chúng tôi làm 1 đêm văn nghệ “bỏ túi;” giữa núi rừng nương rẫy để tạm quên đi những gì đang đè nặng trong tâm hồn mỗi đứa, chúng tôi đang mò mẫm đi tìm lại chính mình thuở trước với những ước mơ, những đam mê ngọt ngào, Khải vẫn hát những bản nhạc của Lobo và thêm bãn Let it be của The Baetle, làm cho hồn tôi thổn thức, Hằng cứ thích hát Cỏ Hồng, còn anh Hưng ca bài Tuyết trắng… Đêm nay; bên ánh lửa buồn này, có những người ngồi nhớ 1 vùng trời đã mất, 1 quê hương đã xa và 1 cuộc tình đã chết, lòng nhói buốt run rẫy đến từng sợi lông tơ. Tôi nhớ cha mẹ, nhớ vú, nhớ anh em tôi; và tôi còn nhớ anh ấy đến quay quắt, quặn thắt cả ruột gan… muốn khóc lắm mà sao nước mắt cứ chảy ngược vào tim, trong chúng tôi ai cũng có một nổi nhớ và muôn ngàn nổi lo.

Bé Lan nằm gối đầu trên đùi tôi ngủ từ lâu, hai chân tôi tê cứng, tôi nâng đầu bé lên rút chân ra từ từ, tội nghiệp con bé quá, Hằng lấy mền trải ra, chúng tôi nằm xuống, mong cho đêm đừng dài và mong cho ngày mau đến, thỉnh thoãng bé lan kêu lên trong giấc ngủ “ba ơi, má ơi;” tôi xoa xoa lưng bé, tôi lại nghỉ về giấc mơ của nó hôm nào… qua ánh lữa nét mặt nó còn đọng vẻ kinh hoàng, tôi nắm lấy bàn tay của bé, lòng xốn xang khi nhớ bé cầm mấy trái sung trên tay ngắm ngía rồi đếm lui đếm tới: “- cô ơi, trái này ăn liền, trái này để dành mai ăn, nhưng mà nó chát quá cô à…”. Ngọn lữa đã tàn, đêm nay trời có trăng; trăng không tròn lắm; ánh trăng bàng bạc phủ lên mặt nước sông mờ ảo ẩn hiện ở phía dưới xa kia; gợn sóng lăn tăn đẹp nảo nùng như cảnh liêu trai…đêm trăng ơi, có biết trăng đã gợi lên trong lòng tôi nổi nhớ xót xa quay quắc về những đêm trăng ngày xa xưa ấy khi chúng tôi còn bên nhau, chúng tôi đã cùng đi bên nhau dưới ánh trăng lung linh huyền ảo, ngồi cạnh nhau bên đập nước Phú Thọ để xây mộng mai sau…còn bây giờ thì bên cạnh tôi có 1 cuộc đời bé bõng nhưng mang những mất mác quá lớn lao. Đêm nay trăng đẹp quá mà lòng tôi thì rất buồn.

_________________________

… CÒN TIẾP ..

 

CHÂN MỀM TRÊN ĐÁ

HỒ THỦY

KỲ THỨ 5

25/03/1975

Bịnh của bà An trở nặng nên anh Đạt đành phải quyết định nghỉ lại, chờ đến chừng nào bà khỏe hẳn rồi mới đi tiếp, nhờ có cái chòi này (phải gọi là nhà sàn mới đúng vì nó cao hơn mặt đất khoãng 8 tấc, vừa rộng lại vừa đẹp) mà bà An nằm nghỉ được thoải mái, cũng không sợ bị mưa hay nắng. Sáng nay tôi theo mấy anh con trai trở lại khúc sông hôm qua để bắt cá, thật buồn cười vì sáng nay khi quay lại giòng sông cũ chúng tôi mới khám phá ra 1 con đường tắt rất gần nơi cái chòi; chỉ chừng 300m, hèn gì đêm hôm qua tôi nhìn thấy ánh trăng lấp loáng trên mặt nước, khúc sông này nên thơ quá làm chao đảo lòng tôi, tôi dẫn bé Lan xuống sông tắm gội thật kỉ cho bé, chị Bích soạn bộ đồ của ty em cho bé đem theo để thay, tôi chọc cho nó cười, hai chúng tôi thơ thẩn đi dọc theo bờ sông lượm những hòn đá màu xám tròn; trơn láng để dành chơi ô quan, rồi lang thang vào sâu trong rẫy hái nhũng bông hoa dại, đi chán tôi và bé quay lại chổ mấy chàng đang bắt cá, Khải kêu to: – “Thủy ơi, xem này;” Khải cầm mấy con cá đưa lên cao vẩy vẩy cho tôi thấy sau đó liệng qua cho Minh. Hôm nay mấy chàng lưới được chừng 1 chén cá, nồi bắp Ngân nấu từ sáng sớm giờ đã nhừ, chị Bích biểu Ngân bỏ cá vô nồi để thành nồi cháo bắp nấu với cá. Bình thường nấu cá mà không đủ gia vị thì nó tanh ói, nhưng lúc này chỉ cần được như vậy là nhất rồi, không ai còn để ý về mùi tanh của nó nữa. Hơi nóng từ nồi cháo bắp nấu với cá bốc lên nghi ngút, Hằng vừa thổi vừa đút cho bà An ăn, bà ăn được nữa ca cháo nóng; mồ hôi bà đổ ra chảy ròng ròng trên trán, ai nấy đều vui mừng, nồi cháo dù thiếu thốn đủ thứ gia vị nhung ăn ngon vô cùng, bà An đã bớt sốt và có vẽ tỉnh táo hơn hôm qua nhiều, bà đã ngồi dậy nói chuyện với mọi người trong gia đình, mấy đứa con chị Bích ngồi sát vào bà, một cảnh tượng trông thật đầm ấm vui vẽ, tôi rủ Hưng, Phi, Đạt nhỏ ra bờ sông chơi, giữa lưng chừng trên bờ và dưới nước có 1 tãng đá lớn, chúng tôi leo lên đó ngồi, 2 chân thòng xuống nước, những làn sóng nhỏ va đập nhẹ nhàng vào chân của chúng tôi tạo nên một cảm giác dể chịu thích thú vô cùng, đang ngồi hưỡng thụ thì Hằng chạy tới, Hằng cũng leo lên ngồi trên tãng đá kế bên tôi, cô nàng nhìn qua bên kia sông và hát “này người yêu; người yêu tôi ơi…”… Đạt nhỏ khen giọng Hằng hát hay, tôi kể cho Mạnh nghe:

– Chị Bích hát hay hơn Hằng nhiều, không thua gì Thái Thanh, ngày xưa anh Thi mê giọng ca của chị Bích rồi cưới chị, đó là chị kể cho Thủy nghe, mà anh Thi đẹp trai và oai phong lắm đó…

Hằng cười “- Thủy biết gì mà nói… ”

Ngồi trên tảng đá nghịch nước mãi cũng chán, tôi rủ Hằng đi thơ thẩn ngược lên trên giòng sông, hai đứa ngạc nhiên vì cảnh thiên nhiên với dòng sông xinh đẹp ở nơi đây, Hằng và tôi chọn 1 gốc cây lớn mọc ở ven sông, 2 đứa ngồi tựa lưng vào đó, tay tôi hờ hững xé nát nhũng chiếc lá vàng đưới gốc cây, cảnh đẹp nhưng sao lòng tôi buồn quá, có điều gì đó không rỏ rệt đang làm tan nát trái tim tôi, phải chăng niềm tin không còn? hay chuyến đi đầy bất trắc này? và nhất là tình yêu của tôi đã mất ?? ? không hiểu sao mỗi lần ngồi thinh lặng trước một cảnh đẹp tôi hay buồn và nghỉ ngợi lung tung. Phải kiếm việc gì đó để làm; tự nhiên tôi nảy ra sáng kiến làm 1 đôi giày bằng vỏ khô của trái bắp, mà thứ đó ở quanh rẫy thiếu gì, tôi sai bé Lan đi gom cho thật nhiều vỏ bắp đem về, tôi tìm 1 loại cây có vỏ mõng mà dai rồi tước nó ra từng sợi nhỏ làm thành những sợi dây, sau đó tôi lấy 1 cây que xỏ từng lá vỏ bắp rồi cặm cụi kết nó lại với nhau từng lớp, từng lớp cho thật dày và vuông như tấm thãm nhỏ, cuối cùng tôi luồn sợi dây quanh tấm thãm, tôi biểu bé Lan đặt chân vào rồi tôi rút dây thắc chặt cho nó ôm gọn chân con bé, tôi làm được 2 chiếc như vậy, thế là con bé có 1 đôi giày bằng vỏ trái bắp rất độc đáo và rất… tiền sữ. Bé Lan tung tăng nhảy nhót chạy về chòi khoe, một lát sau thì mấy cô em gái ào đến, tôi vừa làm cho tôi vừa chỉ cách cho mấy đứa, một trò vui mới bắt đầu với nhũng đôi giày thời tiền sữ, chúng tôi chia nhau công việc: gom lá, tước vỏ cây, kiếm que tre làm kim xỏ lá… tôi lấy 3 cây que xỏ vào 1 chiếc lá rồi đố: “cái gì đây? “, vừa lúc đó Khải ra tới, anh cười kí đầu tôi: “Thủy nói ai ba que xỏ lá hả?” “- ơ; Khải cũng thông minh ghê; “, tiếng cười của chúng tôi hồn nhiên vui vẽ, nhưng có ai biết cho rằng… ? Hằng đưa ra 1 ý hay:-” trong thời gian chờ mợ khỏe, tụi mình làm nhiều đôi giày như thế này để dành mà băng rừng lội suối,” tôi tán thành ngay “- mấy ông vc có đôi dép râu cụ Hồ thì tụi mình cũng có đôi giày của ông Thiệu, thua gì ai…”(ông Thiệu không có râu). Con gái làm giày thì con trai đi lưới cá… không ai còn rảnh để mà buồn.

Mấy anh con trai không thích ngồi lâu một chổ, ngoài việc lưới cá dưới sông, họ ưa vào sâu trong rẫy để kiếm thêm thức ăn phụ, đó là những gì còn sót lại trong nương rẫy, tôi và Hằng rất thích lang thang theo mấy anh, chiều nay chúng tôi vào trong làng Thượng thấy 2 vợ chồng người lưới cá đang phơi những con cá trên 1 cái nong, 2 người cười đưa nguyên 2 hàm nướu, không thấy 1 cái răng nào, đi quanh trong làng cho tới khi mỏi chân chúng tôi mới quay về, ôm theo chiến lợi phẩm; cũng là mấy trái đu đủ, mấy cây mía, riêng Mạnh; móc trong túi ra 1 gói muối to bằng trái ổi (không gì quí bằng… ) Đạt nhỏ cười: – Làng này nghèo lắm, trong làng có 1 cô bé xinh hết biết, da ngăm ngăm bánh mật duyên quá trời, cô em lén cho tôi gói muối này đây. chà… chưa gì đã thấy nhớ em rồi.

Khải nói đùa: – Tim ông rung rinh rồi hả? Mạnh nheo mắt nhìn Hằng: – có lẽ thế…

Trong mấy trái đu đủ có 1 trái chín trông thật ngon, anh Đạt gọt vỏ đưa mời bà An ăn, anh nói đu đủ là loại trái cây có nhiều chất bổ nhất, dành phần mợ ăn nhiều mau khỏe, phần còn lại chia cho mấy đứa nhỏ, còn người lớn chịu khó ngồi nhìn… Bà An ăn miếng đu đủ chín một cách ngon lành, bà khen nó rất ngọt. Đêm nay chúng tôi đi ngủ sớm, giấc ngủ đến dể dàng hơn những đêm trước; nhờ có tiếng dế nỉ non đều đều như ru ngủ.

Thế nhưng… nữa đêm có tiếng ông An hoảng hốt gọi các con: “- Đạt, Khải, Bích… ơi, mợ các con làm sao thế này…” Chúng tôi tất cả đều bật dậy chạy đến chòi, bà An đang sốt run lẩy bẩy, hai hàm răng của bà va vào nhau kêu lạch cạch, anh Đạt lật đật khều que củi đang ngún tro đưa lên miệng thổi phù phù cho nó cháy bùng lên, Minh, Hằng hấp tấp quơ quào hốt vỏ bắp đun vào, Đạt nhỏ, Hưng… chạy quanh kiếm cành cây khô, và những gì có thể cháy đều thẩy vô đống lữa để sưỡi ấm cho bà, kể từ lúc đó những người lớn không một ai ngủ được, tất cả thay nhau ngồi bên cạnh bà, và canh đống lữa không cho tàn, riêng mấy đứa bé vẫn say sưa giấc nồng.

26/03/1975

Trời hừng sáng, bà An vẫn sốt mê man không ngồi dậy nổi, không khí nặng nề bao trùm lấy chúng tôi, không một tiếng nói, không một nụ cười, mọi người buồn bã lo lắng nhìn bà, Khải kêu tôi đến ngồi cạnh bà cùng với Khải, tôi cầm lấy bàn tay gầy trơ xương của bà mà ứa nước mắt, tôi thương bà lắm vì bà rất tốt với tôi, mỗi lần tôi theo chị Bích hay Hằng đến nhà chơi, ông bà rất ân cần niềm nở, những bữa cơm ở nhà ông bà đem đến cho tôi nguồn an ủi khi phải sống xa gia đình. Bây giờ thì bà đang nằm đây, một nơi heo hút không có tên gọi, trong cái chòi nghỉ của người Thượng, đang từng giờ từng phút vật lộn với cái chết để tranh dành sự sống, tôi nhìn bà với bao nhiêu câu hỏi ở trong đầu, dĩ nhiên là bà chẳng thế nào trả lời tôi được khi mà bà đang mê man. Ở mãi nơi đây buồn và sợ, tôi đi ra bờ sông, leo lên ngồi trên tãng đá lớn nhìn nước chảy về xuôi, nắng ban mai yếu ớt run rẫy trên những cành cây ngọn cỏ, cảnh vật bên kia sông sao mà đẹp lạ lùng, như một bức tranh vẽ. Nước chảy mạnh, tôi gửi theo dòng nước nhũng nổi niềm tâm sự của riêng mình, chao ơi; dù đã cố quên nhưng sao lòng vẫn nhớ, dù không muốn nghỉ đến nhưng sao hồn mãi vọng theo… Bao nhiêu câu hỏi cứ luẩn quẩn ở trong đầu; nhiều quá làm đầu tôi muốn vở tung; Rồi ngày mai, ngày kia và những ngày tiếp đến, điều gì đang chờ đợi tôi? tôi sẽ thế nào và tôi sẽ ra sao? có bị loay hoay ở mãi trong khu rừng này không? có về được phía bên kia không? nếu cùng đường có phải quay lại Pleiku không? tôi sợ lắm nếu phải trở về nơi chốn ấy, trở lại vùng trời của một thời yêu dấu, cảnh củ còn đó mà người xưa đâu mất. Thành phố đã từng thân quen sẽ trở thành xa lạ, tôi sẽ cô đơn, sẽ buồn ghê lắm, đi trên con đường nào cũng gợi nhớ những bước chân quấn quýt bên nhau, từng gốc cây ôm từng kỷ niệm, góc phố nào cũng là điểm hẹn hò đưa đón, và quán cà phê Vị Thủy là nơi 2 đứa ngồi ươm mộng mai sau… không đâu, làm sao trở về lại nơi ấy để lòng “Đã nát càng thêm nát;” không, tôi sợ lắm. Có lẽ tôi ngồi đây lâu ghê lắm vì nắng đã lên rất cao, tôi dời đô tới gốc cây già bên mé sông, bóng cây che mát trên đâu; sao mà buồn ngủ quá, có ai đó ru tôi không?… Em ơi hảy ngủ anh hầu quạt đây… có tiếng người nào đó kêu tôi: ” – Thủy ơi; em đâu rồi “…

Hôm nay dù đói nhưng không ai muốn ăn, nổi buồn lo làm mọi người có cảm giác miệng lưỡi đắng nghét, nồi bắp chỉ vơi một ít, không ai làm nổi việc gì cho ra hồn, con trai không buồn lưới cá, con gái chẳng thèm khâu giày. Tôi lững thững ra bờ sông ngồi một mình, chung quanh yên lặng quá, mới hôm qua thôi, nơi đây còn vang bao tiếng cười vui của bầy con gái khi khâu xong 1 đôi giảy, và tiếng reo hò của đám con trai khi bắt được 1 con cá, khúc sông này có dấu chân, tiếng cười của chúng tôi, nghĩa là nó đã trở thành kỷ niệm trong tôi, mai này khi rời khỏi nơi này, có lẽ tôi sẽ nhớ và buồn lắm vì một khi đã trở thành kỷ niệm thì có bao giờ vui đâu, tự nhiên tôi bùi ngùi lẩn bâng khuân xao xuyến, trong đầu tôi có biết bao nhiêu điều thắc mắc trăn trở. Bây giờ thì tôi muốn ngủ lắm, đừng ai lên tiếng kêu tôi… nhưng mà… ước gì có một người hát cho tôi nghe rằng:… Tôi ru em ngủ, một sáng…

Trời sắp về chiều, nắng dịu dàng ngả bóng phủ lên mặt sông, lên cỏ cây hoa lá, những tia nắng nhảy múa trên mặt nước lấp lánh sáng như những sợi chỉ vàng, không biết tôi nằm ngủ được bao nhiêu lâu bên gốc cây này cho tới khi có những tiếng thét lớn; rồi tiếng khóc la; kêu gào đau đớn của cả nhà chị Bích tôi mới giật mình thức giấc, thế có nghĩa là bà An đã vĩnh viển ra đi, bà nằm chết trong cái chòi bỏ trống giữa nương rẫy hoang vu xa lạ với rất nhiều và rất nhiều nổi uất ức. Tôi chạy nhanh về chòi, cả nhà chị Bích đang vật vã bên xác bà, ông An ôm cứng vợ, ông cứ hôn mãi vào trán bà, Chị Bích, Hằng, Khải, Đạt, Minh, Kiều, Ty… người níu tay, người níu chân bà mà khóc lóc thảm thiết, tôi đứng trân trân như trời trồng, tôi cũng muốn chạy đến ôm bà, tôi cũng muốn khóc như mọi người nhưng sao tôi không nhúc nhích gì được, lâu lắm; tôi mới từ từ ngồi bệt xuống đất, ý nghỉ của tôi lộn xộn, nhảy múa lung tung, mọi cảm giác của tôi trộn lẩn vào với nhau như 1 đống xà bần, nhưng tôi biết chắc chắn 1 điều là tôi đang rất thương tiếc bà.

Tôi không thể nói được lời nào để an ủi gia đình chị Bích, tôi cũng không biết làm gì để xoa dịu nổi đau đớn vì một mất mác quá đổi lớn lao này, tôi chỉ biết im lặng, nắm tay Khải, Minh; Hằng… để tỏ lòng muốn chia sẽ của tôi… Lâu lắm, cho tới khi trời bắt đầu chạng vạng, anh Đạt đốt 1 đống lửa to để có đủ ánh sáng mà thu xếp những việc cần thiết, anh và Khải sữa sang tư thế cho bà được nằm ngay ngắn, Hằng nhẹ nhàng thay áo quần cho bà; bộ đồ đẹp nhất. Ánh lửa lung linh huyền ảo, gió thổi làm cho ngọn lữa bập bùng quằn quại như đang múa một vũ điệu ma quái, chúng tôi ngồi bên nhau lặng lẽ, trăng đêm nay không sáng lắm vì có nhiều mây che phủ, ông An ngâm thơ cho vợ nghe, chị Bích khoe đó là những bài thơ ông làm từ ngày yêu bà, nhìn ông cứ âu yếm vuốt tóc bà, tôi đau lòng quá, cuối cùng ông đọc 1 bài thơ vĩnh biệt bà mà ông vừa mới sáng tác, khi đọc bài thơ này ông òa khóc nức nở, khóc thật lớn làm tấc cả mọi người đều khóc theo.

Ở một nơi như thế này; giửa núi rừng hoang vu và 1 nương rẫy bỏ trống, bên ngọn lữa đêm khuya, dưới ánh trăng mờ ảo bao trùm lên vạn vật cùng với xác bà An nằm trong chòi, cảm giác rờn rợn bao bọc chung quanh, tôi mong trời mau sáng, không làm sao ngủ được, tôi ngồi bên đống lữa, lắng nghe tiếng nước chảy của con sông bên dưới, tiếng côn trùng rã rích, tôi ví như tiếng rừng đêm đang chuyện trò, Đạt nhỏ lấy cây kèn Acmonica ra thổi bài Lòng Mẹ, đôi mắt anh chàng đắm chìm trong nổi buồn khó tã, tiếng kèn của Đạt nhỏ réo rắc trong đêm đen tỉnh mịch đưa tiễn linh hồn bà An về một nơi xa thật xa. Mấy chị em Hằng nghe tiếng kèn acmonica của Đạt nhỏ, cùng đến ngồi bên cạnh, khi Đạt nhỏ dứt tiếng kèn, một khoãng không im lặng lại bao trùm cho tới khi anh Đạt lên tiếng:

– Ngày mai phải làm gì đây? chôn mợ ở đây hay đưa mợ đi cùng? bây giờ đầu óc tôi rối bời, phải hỏi ý cậu xem cậu muốn như thế nào.

Chị Bích buồn rầu: ” – Lúc này cậu không thể suy nghỉ gì được đâu, chị em mình quyết định với nhau thôi;” Minh đưa ra ý kiến: – “Có lẽ nên chôn mợ ở đây. ”

Hằng không chịu: – Tại sao lại phải chôn mợ nơi đây, chúng mình chẳng ai biết đây là đâu, mai sau nếu muốn tìm mợ mang về với mình thì làm biết đâu mà tìm? nhất định phải mang mợ theo cùng.

– Khó lắm, mang theo như thế nào?

Anh Đạt suy tính: – Đến nước này chúng ta đành phải liều đi ra đường Quốc lộ, vc chắc cũng không nỡ làm gì mình khi thấy mình đang mang xác mợ theo bên cạnh, chúng mình vừa đi vừa kiếm một buôn làng nào lớn, có tên làng, mình sẽ chôn mợ ở bên đường, một nơi dễ nhận ra, mình sẻ đánh dấu thật đặc biệt, mai sau có lúc nào đó chúng mình tìm hài cốt mợ đưa về.

Rồi anh phân chia công việc: – Sáng sớm mai anh nhờ Hưng, Đạt nhỏ, Phi tìm chặt cho anh vài cây tre to bằng cổ tay, dài chừng 3m để làm đòn gánh, tìm loại vỏ cây mà Thủy khâu giày ấy, lấy thật nhiều để bện lại thành sợi dây dài, chắc, càng nhiều sợi càng tốt, còn anh; Khải, Minh sẽ quấn mợ trong poncho, mình lấy dây buộc túm 2 đầu che kín đầu và chân của mợ, ở giữa mình cột làm 4 đoạn, Mạnh khéo tay làm thắt dùm anh mấy cái khoen tròn để xỏ cây đòn gánh vào, bọn anh sẽ thay phiên nhau gánh mợ, mỗi người một đầu.

Chị Bích lại khóc, chị trách tôi: – Trước khi chết mợ nhìn đủ các con, lúc đó em ở đâu, làm gì? sao không ngồi với mợ?

Tôi không thể trả lời chị và tôi cũng không biết phải trả lời như thế nào, bởi vì lúc đó tôi đang ngồi bên bờ sông, đang đi tìm câu trả lời cho chính những câu hỏi mà tôi tự đưa ra:

1 / Tại sao người ta lại pháo kích vào đoàn GMC chở đầy người dân đi di tản ở cây số 168?

2 / Chúng tôi là những người vô tội, may mắn lắm mới thoát chết, có người bị tan xương nát thịt, có biết bao nhiêu gia đình ly tán, có biết bao nhiêu đứa bé trở thành mồ côi như bé Lan? Tại sao?…

3 / Tại sao chúng tôi trở thành mục tiêu cho họ pháo kích? vì vô tình hay cố ý?

Không ai trả lời những câu hỏi này của tôi, nó cứ luẩn quẩn ở trong đầu, làm tôi luôn nhức nhối. “- Chị Bích ơi, em biết chị muốn nói với em điều gì rồi, nhưng thôi khoan đã chị à”

27/03/1975

Hằng lay lay vai gọi tôi thức dậy để làm lể tẩm liệm cho bà An, tôi là người sau cùng xuống sông rửa mặt súc miệng, trời vẫn còn mờ hơi sương, khi quay trở về đã thấy mọi người đứng xếp thành 2 hàng trước nhà sàn, Đạt và Khải trải thẳng tấm poncho ra giữa sàn rồi cả 4 người con ẵm bà lên đặt vào đó, tất cả mọi người cúi đầu lặng yên cầu nguyện cho linh hồn của bà sớm siêu thoát, tôi làm dấu thánh giá đọc kinh Kính Mừng, nguyện xin Chúa ban cho bà được ơn cứu rổi, 5 phút yên lặng qua đi, những tiếng sụt sùi nho nhỏ vang lên; sau đó là những tiếng kêu gào thãm thiết và khóc la nức nở, chị Bích; Hằng và Kiều ngồi bệt xuống đất dẩy dụa vật vã khi anh Đạt và Khải, Minh… lấy 2 thanh tre ép sát vào 2 bên người bà, thêm 2 thanh đặt dưới lưng, sau đó cuộn tròn cái poncho lại mấy vòng, Đạt nhỏ, Hưng, Phi mỗi người phụ 1 tay; chia đều thành 6 khoanh; mỗi khi cột một khoanh anh Đạt lồng vào 1 cái khoen để xỏ cây đòn gánh vào (mà Đạt nhỏ đã thức 1 đêm bên ánh lữa để làm) sau đó anh và Khải cố sức siết thật chặc, trông như 1 đòn bánh tét, Mấy người vừa làm vừa khóc, nước mắt nước mủi chảy đầy mặt, thỉnh thoãng đưa tay lên chùi, riêng ông An ngồi bất động từ đầu cho đến khi các con làm xong việc, ông lầm thầm nói chuyện một mình và ông đọc thơ, lúc này thì tôi cũng khóc nhiều ghê lắm, khóc vì thương mọi người và thương cả chính tôi nữa. Khi việc bó xác bà An đã hoàn tất, chúng tôi mỗi người tìm bẻ 1 cành cây khô nhỏ;đốt cháy và cắm trước xác của bà thay cho cây nhang, rồi cùng nhau quì lạy, trước khi lên đường mỗi đứa ăn 1 nắm bắp, vẫn chưa ai nói chuyện được với nhau, mọi việc xảy ra quá nhanh, quá đột ngột và chúng tôi vẫn còn bàng hoàng chưa tỉnh táo, cũng không ai nghỉ đến số bắp ở trong chòi còn rất nhiều, và rất cần để mang theo.

Phải lên đường thôi; tôi nhìn quanh; lòng hơi bâng khuân xao xuyến khi từ giả nơi đây với ít nhiều lưu luyến; thi hài bà An được kính cẩn nhẹ nhàng đưa xuống, anh Đạt gánh phía trước, Khải gánh phía sau, ông An đi bên hông, tay ông nắm một góc tấm pôncho như nắm lấy bà, chúng tôi nối đuôi nhau thành hàng dài theo sau. Một đám tang lặng lẻ ra đi vào một buổi sáng sớm khi nắng chưa lên khỏi ngọn cây, không một mãnh khăn tang trên đầu và người chết chẳng có được cái quan tài, mấy người con gái không ngừng khóc, tiếng khóc tỉ tê nghe rất buồn, mấy đứa cháu cũng buồn; khóc theo người lớn, một đoàn người lôi thôi lếch thếch, đầu để trần, chân đi giày lá, mặt mủi đen thui đang lầm lủi bước… Xác bà An tuy nhẹ nhưng 2 vai của 2 anh em cứ so lên làm cái cổ rụt xuống, lúc đầu 2 người đi những bước chậm và nhẹ nhưng càng lúc càng nhanh, sợ mặt trời lên cao thì mệt. Chúng tôi đã ra tới con đường nhựa, đây có lẻ là QL, nhưng sao mà im vắng thế này? không một tiếng xe cộ, không một bóng người, cũng chẳng có 1 mái nhà, cảm giác rờn rợn nhưng dù sao khi ra đến đây rồi chúng tôi hơi nhẹ trong lòng một chút. Sau cơn mưa hôm kia trời chỉ hiu hiu nắng và sương chưa tan hẳn,, nhưng khi mặt trời lên cao, sương tan dần thì nắng bắt đầu gay gắt, hơi nóng từ đường nhựa bốc lên hừng hực, ngực tôi như bị ai đó ép chặt lại, hơi thở trong lổ mủi nóng hổi, tôi thở rất khó khăn, tôi kêu lên: “CHÚA ƠI XIN HẢY CỨU CON; “, tôi sợ lắm, sợ phải chết dọc đường như bà An, và tôi thầm lặng đọc kinh KÍNH MỪNG, bất ngờ tôi thấy bên vệ đường 1 tấm lịch nhỏ có in hình ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP; mừng quá nên quên hết những cảm giác đang làm tôi mệt mỏi đau nhức, tôi lượm tấm lịch lên, vùa đi vừa coi ngày tháng trong đó, ôi chao, sắp tới lể CHÚA PHỤC SINH rồi… Trên quãng đường chúng tôi đang đi bắt đầu xuất hiện những dấu vết tàn phá khủng khiếp của bom đạn, những sự kinh hoàng của trận đạn pháo của mấy ngày trước, xe cộ nằm ngổn ngang đủ mọi tư thế dọc theo con đường dài, chiếc lật nghiên, chiếc chổng 4 bánh lên trời, chiếc thì bẹp dúm, có một số xe nằm bên lề đường. Những đồ dùng của gia đình như tủ lạnh, tivi, máy may… bị vất bỏ đầy đường, có lẻ để nhẹ xe mà chạy cho nhanh. quãng đường này cũng giống như đoạn QL19 ở đầu cầu suối đôi, theo như trong bản đồ mà anh Đạt cho tôi xem thì đây là con đường rẽ của QL19 từ đèo An Khê chạy thẳng về thị trấn Cheo Reo, và thị trấn Cheo Reo là nơi gặp nhau của 4 ngã đường: 1 / ngã quay về Hàm Rồng rồi trở lại Pleiku, 2 / ngã rẽ qua Ban mê thuột, 3 / ngã đi ngược lên phía trên để về An Khê và Qui Nhơn, 4 / đường về Tuy Hòa ngang qua Phú Bổn. Hiện giờ đoàn người đang đi trên con đường về thị trấn Cheo Reo, và từ Cheo Reo chúng tôi sẽ đến Tuy Hòa, rồi sau đó thì… A; một tia sáng lóe trong đầu tôi, tôi đã có được câu trả lời cho những câu hỏi tại sao và tại sao của tôi; một khúc phim quay chậm trong đầu tôi; và được tóm lược lại như sau:

Ngày 10/3/75 vc tấn công dồn dập Ban Mê Thuột, trước tình hình đó người dân trong thành phố Pleiku được lệnh di tản hoàn toàn. Lộ trình di tãn theo kế hoạch đã vạch ra là: đoàn xe chở dân chúng đi theo QL 19 xuống Qui Nhơn sau đó từ QN về Nha Trang trên QL 1, nhưng vào những ngày tiếp theo sau đó Qui Nhơn bị đánh chiếm, thế là đoàn xe chúng tôi đi không xuống QN nữa mà đi về ngã Tuy Hòa thẳng tới Nha Trang, đúng hơn thì những tỉnh đồng bằng miền Trung cũng được lịnh di tãn từ trước, cũng về QN và Nha Trang, như thế tất cả mọi ngã đường đều được trưng dụng để đưa mọi người ra khỏi những thành phố mà QĐVNCH không thể nào trấn giữ nổi. 15g30 – 16/03/75 chúng tôi lên xe rời khỏi thành phố Pleiku, đoàn xe chạy rất chậm và phải dừng lại hoài vì bị nghẻn đường, có nơi chỉ nhích từng chút một; chậm như rùa bò. Đến 9g sáng 17/03/75 đoạn đường ngay đầu cầu Suối Đôi bị vc pháo kích dử dội; quân bắc việt cố chặn đoàn xe đang chở dân di tãn, chúng tôi đã phải bỏ chạy tán loạn, tất cả các con đường đều bị bắn chận, và nó nằm ngay Phú Bổn, ranh giới tỉnh Phú Yên theo QL19 về Qui Nhơn. Có nghĩa là quân BV không muốn chiếm 1 thành phố bị bỏ ngỏ, trống trơn, không có dân; nên họ dùng đủ mọi cách; mọi giá, kể cả làm cho bao nhiêu người dân vô tội phải bị chết, với biết bao thảm cảnh đau thương đã xảy ra; để giữ dân ở lại, và đoạn đường này là một bằng chứng cho điều đó. Chúng tôi ở giữa của 2 làn tranh chấp dành giật: một bên kéo chúng tôi và đưa chúng tôi đi cho bằng được, một bên quyết lôi; giữ chúng tôi ở lại bằng mọi giá, vậy thì bên nào thương; bên nào thật tâm lo cho chúng tôi đây?

Có mùi thối khủng khiếp ở đâu đây, chúng tôi dáo dác nhìn quanh… – ối… à… kia kìa…Đạt nhỏ kêu lớn; đồng thời chúng tôi thấy một thây người bầy nhầy đầy cả ruồi và kiến bu đen còn dòi thì lúc nhúc bò trong miệng, trong mủi, trong 2 con mắt… mặt người này chỉ còn là những hố sâu đầy kiến, ruồi và dòi bọ trông rất là ghê rợn, chúng tôi nổi hết cả da gà, chóng mặt, mắc ói, đứa nào cũng bịt miệng; mủi chạy thật nhanh, vượt qua cả anh Đạt và Khải, tội nghiệp 2 anh em Đạt, Khải đang cố đi thật nhanh, không dám chạy vì sợ xác mẹ bị xóc. Khi mũi chúng tôi không còn ngửi mùi hôi nữa, mọi người ngừng lại bên một gốc cây lớn có tán xòe rộng đầy bóng mát che phủ một khoãng đất trống bên đưới, chúng tôi ngồi nghỉ mệt, mặc dù bụng đói nhưng không ai muốn ăn, chỉ muốn được uống nước mà thôi. Anh Đạt cho mỗi người uống 1 ngụm nhỏ, nước trong ấm còn rất ít mà nơi đây lại cách xa con sông, Minh lượm được 1 gói bột vị tinh trong bao mì gói chia cho mỗi người nếm 1 chút xíu, ôi chao; ước gì bây giờ được ngậm 1 viên kẹo ngọt… mơ mộng viễn vông và thèm muốn đủ thứ…

Đến lúc lên đường rồi, lần này Mạnh, Minh thay cho Đạt, Khải. Minh gầy, nhỏ con nhất trong gia đình nhưng lại rất chững chạc, mấy ngày qua đã làm cho Minh gầy ốm hơn… “đã ốm càng thêm ốm..” đôi vai cậu bé rút lại dưới sức nặng của mẹ, nhìn Minh tôi rất xót xa thương em, 2 chân Minh bước hơi loạng choạng. Chúng tôi đi đưới cái nắng càng lúc càng gay gắt và sức nóng càng lúc càng tăng cao, đứa nào cũng lầm lủi, chân nọ đá chân kia, mấy đứa con chị Bích được người lớn cõng từng đoạn, hết mệt thả xuống đất đi tiếp, tôi nắm tay bé Lan dắt đi bên cạnh mình, làm sao tôi cõng nổi bé đây. Không một ai biết được mình sẽ đi bao lâu nữ và không ai biết được chừng nào mới gặp 1 nơi thích hợp để chôn Mẹ, cứ nhắm mắt nhắm mủi mà đi thôi, nhưng hình như chúng tôi đang muốn nổi… điên vì sợ hải, muốn cắn xé một cái gì đó, anh Đạt trấn an chúng tôi, nhưng chính anh cũng đang sợ như chúng tôi, sợ rất nhiều thứ, phải ngừng lại nghỉ mệt, chiều xuống nhanh, mặt trời đang ngả về tây, bóng cây đổ dài theo bóng nắng. Không hiểu sao chúng tôi cùng nhìn sững vào cái xác của bà An, tôi lẩn thẩn nghỉ nếu như mình bị chết, chắc mình sẽ bị vùi thây xuống 1 cái lổ nào đó ở đâu đó… khát và mệt, Mạnh hình như đang suy nghỉ điều gì đó, anh chàng nhìn mông lung và. . . khóc thì phải, sao tôi kỳ cục quá, nhìn ai cũng thấy như là họ đang khóc. Khải đứng lên nói là đi kiếm nước uống, Ngân đưa cho Khải cái thùng, tôi đi theo Khải len lỏi qua các bụi rậm, bất ngờ 2 đứa thấy 1 hồ nước, mừng quá 2 chúng tôi chạy nhanh đến, đó là 1 cái hố bom, sau mấy cơn mưa lớn; hố bom đầy nước trở thành 1 cái hồ, nước trong hồ nổi váng màu vàng, Tôi và Khải nhào xuống…- “ôi; đã quá…” lúc này chẳng nghỉ gì tới bịnh, sau khi uống nước no bụng 2 đứa…tỉnh cơn mê, lúc đó mới phập phồng lo sợ, về tới chổ mọi người đang nghỉ chân, tôi kể lại cho chị Bích nghe, chị la tơi bời, chị cấm không cho ai được ngu như -“con nhà Khải và cái Thủy;” thật buồn cười là khi thấy hố bom đầy nước 2 đứa quẵng cái thùng nhào xuống uống cho đã, sau đó chạy về báo tin vui, quên luôn cái thùng… Đạt nhỏ theo Khải đến hồ, tìm lại được cái thùng, anh chàng xách về 1 thùng đầy nước, Ngân nấu một ấm nước đâỳ, có được nước rồi anh Đạt bắt mọi người đi thêm 1 quảng đường nữa, kiếm chổ nào tốt để nghỉ qua đêm.

Hoàng hôn buông xuống, nhớ câu thơ của ai đó mà tôi quên tên: “Hoàng hôn rồi lại hôn Hoàng..”, nghỉ cũng vui vui, mặc dù không có chổ vừa ý nhưng phải nghỉ lại nơi đây thôi, Ngân cùng Hoa chuẩn bị nấu bắp, nấu nhiều hơn một chút còn để dành mai ăn rồi đi thật sớm, bên bếp lữa đêm nay với xác bà An nằm đó, dù buồn lắm nhưng phải nói chuyện cho có tiếng người, chúng tôi nói đủ thứ chuyện “trời ơi đất hởi;” những chuyện tào lao cở “tề thiên bắn đại liên;” nhưng không ai dám cười lớn tiếng vì ông An đang ve vuốt cái poncho bọc thân xác bà An trong đó. sao tối nay nhiều muổi quá, hết nói chuyện lại quay qua đập muổi cho mấy đứa nhỏ. Mong đêm chóng qua cho trời mau sáng, rồi mong trời đừng đổ cơn mưa, mong đường không còn xa… mong… và… mong… nhiều điều mong ước lắm.

28/03/1975

Mặc dù suốt đêm gió chuyển hướng và thổi mạnh nhưng may là trời không mưa, chúng tôi không ai ngủ được nhiều ngoại trừ mấy đứa bé, mới hừng đông là đã phải thức dậy chuẩn bị lên đường, một ngày như mọi ngày: ăn 1 nắm bắp rồi khăn gói quả mướp đi tiếp. Sáng nay anh Hưng và Phi thay cho Minh và Đạt nhỏ, hai người tự nguyện làm việc này như muốn chia sẽ nổi đau của gia đình chị Bích. Chúng tôi đi được một quảng đường cũng khá dài, đang định tìm nơi có bóng cây để ngồi nghỉ mệt thì thấy 1 nhóm người từ trong rừng đi ra, lúc đầu chúng tôi tưởng đó là người dân tộc nhưng không phải; họ là người kinh như chúng tôi; nhìn kỷ thì đó là 1 gia đình, ông chồng mặc cái áo mai dô đã ố vàng, cái quần kaki xanh, bà vợ đội trên đầu cái áo kaki của chồng, chân mang đôi vớ nhà binh, chị ôm trên tay 1 em bé quấn trong cái khăn lông nhà binh, một bà già đang dìu chị, thêm 3 đứa bé lủ khủ níu áo cha mẹ, chúng tôi dừng lại, rồi nhìn nhau với cái nhìn ái ngại thông cảm; có đôi chút ngạc nhiên, anh Đạt hỏi trước:

– Anh… chị… sao vậy?

Người chồng trả lời: – Gia đình tôi đi từ Kontum, lúc bị họ pháo kích dử quá, tụi tôi chạy trốn vô rừng, đâu chừng 10 ngày rồi đó, chẳng nhớ được… vợ tôi sanh trước khi di tản 1 tuần, khổ hết sức may mà gặp làng của Thượng, họ cho bắp, bí mà ăn tạm; ở đỡ, nhưng tới lúc này chịu hết nổi rồi vì vợ tôi yếu lắm, thôi thì…

Họ nhìn cái gánh có vẻ thắc mắc: -… gì vậy…

– Mẹ tôi đó, chết chiều hôm kia, có lẻ bị sốt rét rừng, gần 10 ngày nay gia đình tôi cũng loanh quanh lẩn trốn trong rừng, tụi tôi kiếm buôn Thượng nào lớn lớn để chôn bà. Bây giờ anh đưa gia đình đi đâu?

Về nhà thôi, hôm qua nghe có tiếng xe chạy rần rần, tôi bò ra xem, xe của vc, họ chở nhiều dân trên xe lắm, cứ về rồi tính tiếp, ở trong rừng chỉ có mấy ngày thôi mà… dài như cả năm, thấy mẹ và vợ con mình đói khổ quá… tôi không chịu được, ra đây đón xe trở về nhà…

Chị Bích phân vân một chút, sau đó chị biểu Ngân lấy trong nồi 2 nắm bắp chín đưa cho bà già, anh Đạt hỏi thăm làng Thượng mà họ tá túc ở đâu? xa hay gần? ông ta đưa tay chỉ vào phía sau lưng mình: – cũng khá xa, đi tuốt trong sâu, mà làng nhỏ xíu hà. Tôi hiểu rỏ ý anh Đạt khi hỏi câu đó, tần ngần chào nhau rồi chúng tôi đi tiếp. Hai chân tôi nặng nề kéo lê từng bước, gặp gia đình này rồi lòng tôi lại ngổn ngang “trăm mối tơ vò;” không sao phân tích được từng thứ tình cảm cho rỏ ràng chính xác; vừa buồn bả, vừa nôn nao, lại vừa chán chường muốn buông xuôi, cọng thêm nổi ray rức, khổ đau, chờ đợi… mọi thứ cứ trộn lẩn vào nhau; xoáy sâu làm nát bét trái tim tôi như một ly cóc tai xay nhuyễn, không tách ra được từng loại trái cây gì với trái gì, duy có một điều tôi biết rỏ ly cốc tai đó không có đường và các thứ trái cây còn sống nhăn, đắng nghét.

Qua gần 2 ngày phơi nắng và 1 đêm phơi sương xác bà An bắt đầu có mùi, càng lúc mùi thối càng nặng nề, phả đầy 2 lổ mủi; nhất là khi chúng tôi đi phía sau lại ngược gió nên ai nấy phải vừa đi vùa bịt mủi, đến nước này anh Đạt đành phải cho chúng tôi đi trước, anh và Khải gánh xác mẹ theo sau, đã qua khỏi buổi trưa, phải đi làm sao cho được càng nhiều càng tốt nếu không muốn chôn mẹ đọc đường, nổi thương xót mẹ làm mọi người đi như chạy, mong trời thương cho gặp được nơi tốt để chôn bà, vì ai cũng muốn mai sau sẽ đưa bà về nhà.

Chiều rồi đó. Gió chiều nay thổi mạnh làm mùi thối bốc ra bao phủ cả không gian, hình như xác bà An đang chương phình, căng cứng trong tấm poncho, chúng tôi dừng chân nghỉ tạm bên đường, câu hỏi cứ vương vấn mãi trong đầu của mọi người: phải làm gì bây giờ? không ai dám trả lời; bỏ thì thương mà vương thì tội, ai cũng xót xa đau đớn. Không một ai muốn đi tiếp;mọi đôi chân đều nặng như đeo đá, anh Đạt ngồi im, đầu gục xuống làm hai vai anh nhô cao, anh không dấu nổi sự mệt mỏi chán nãn của mình, những ngày qua anh đã cố hết sức để gồng gánh một trách nhiệm quá lớn của gia đình, anh cố đứng vững cho chúng tôi được nương tựa vào, lúc này thì vẻ cứng rắn của anh đã mất tiêu, anh đưa tay chùi nước mắt, tôi ngậm ngùi nhìn anh, buồn lắm lắm… Chúng tôi ngồi mãi ngồi hoài, mỗi người theo đuổi một ý nghỉ riêng, không ai nói chuyện với ai cho tới khi trời nhá nhem, ngày sắp tàn, mấy đứa bé mếu máo khóc vì đói và vì muổi cắn, lúc đó chúng tôi mới tỉnh cơn… mộng du. Nhưng kìa… Ah;đây là mơ hay tỉnh? trong sự im lặng của chiều tà văng vẳng đâu đây nương theo làn gió có tiếng chiêng; tiếng cồng lúc to lúc nhỏ; vừa trong thanh vừa trầm đục;chúng tôi cùng đứng bật dậy như cái lò xo; và nữa kìa… những ánh lữa bập bùng trong ánh hoàng hôn, anh Đạt reo lớn tiếng: “Phía trước có làng thượng… mau, đi mau…” anh và Khải lật đật gánh xác bà An đi mà như chạy; Minh dìu bố, mấy đứa bé không chạy nhanh như người nên chúng tôi chia nhau mà cõng và ôm, xách…đồ đạt. Không biết động lực nào khiến chúng tôi chạy nhanh như thế, mới một phút trước đây thôi nếu có con ruồi nào bu vào mép chưa chắc đã đuổi, thế mà bây giờ…chạy cứ y như vận động viên điền kinh. Đó là một buôn làng lớn nằm bên đường, hôm nay trong làng có hội, anh Đạt bắt đám đàn bà con gái chờ ở ngoài đường cách làng chừng 100m; để đám đàn ông con trai vào làng dò xét tình hình;nhưng chỉ có ông An và Hằng phải ở lại canh chừng xác bà, còn chúng tôi vừa nôn nóng vừa tò mò nên lò dò đến gần và đứng lấp ló ngoài cổng làng, Ngân lấy những nắm bắp cuối cùng nấu lúc nghỉ chân ban chiều chia cho ông An và các cháu, mổi người chừng chục hột bắp, rồi chạy theo tôi. Chúng tôi chờ đợi mấy anh con trai chừng như cũng mỏi mòn, mải lúc sau mấy anh chàng trở ra mặt mủi có vẻ hớn hở tươi tỉnh lắm, tụi tôi háo hức, nôn nóng nghe kể về chuyến thăm dò, ông An cũng chạy tới, Khải vừa xoa xoa bụng vừa kể thay:

– Khi tụi này vào trong làng;làm như họ biết tụi này bị đói, họ đem ra 1 rá cơm nguội trộn khoai, tụi tôi mỗi đứa ăn được nữa chén, gạo của người Thượng ngon quá chừng; vừa dẻo vừa ngọt…

Tự nhiên tôi giận Khải đến ứa nước mắt và có đôi chút ghét nữa… mới ngày nào anh chàng còn đòi móc trái tim của mình ra nhờ tôi giử dùm, bây giờ có nữa chén cơm trộn khoai Khải cũng ăn một mình, chẳng nhớ chừa cho cái người đang giử dùm trái tim mình một miếng của nữa chén cơm…trả lại Khải trái tim của Khải, ai hơi đâu mà giử không công…tôi trách Khải mà nước mắt rưng rưng: – “anh ích kỷ, chỉ biết ăn một mình không chừa cho Thủy; lại còn khoe;” Anh Đạt binh Khải: – “chủ nhà họ vét nồi, còn kêu mấy nhà bên cạnh, gom góp được chừng đó tụi anh đứa nào cũng đói nên lở quên, ăn xong mới… nhớ, xin lổi cả nhà…” anh gải gải đầu nhìn thấy mà tội nghiệp. Ông An vội hỏi:

– Xác của mợ các con tính sao? có chổ để chôn mợ không?

– Ah quên, con có hỏi xin ông chủ nhà ở đầu làng rồi, họ không cho đem xác người chết vô làng, phải để xa xa, ngày mai họ chỉ chổ cho mình chôn, mà chỉ được chôn ở ngoài làng, họ sẽ đưa cho mượn cuốc; xẽng…

Ai nấy thở phào nhẹ nhỏm, coi như vấn đề quan trọng nhất đã được giải quyết, đến vấn đề… bao tử và sự giận hờn; tôi đòi Đạt nhỏ dẫn tôi và Hằng vào làng, chị Bích, Ngân, Hoa, Minh, Kiều, Thấm cũng đi theo, thâm tâm người nào cũng muốn có chút gì đó bỏ vào bụng, đồng thời xem hội làng cho vui. Trời tối nhưng nhờ có trăng; dù trăng không sáng lắm, (vì tôi không bao giờ để ý tới ngày âm lịch) nhưng chúng tôi cũng nhìn thấy được cảnh trong làng dưới ánh trăng mờ. Đúng là hôm nay làng có hội nên vui vẻ lắm, người ta cười nói líu lo, trai làng gọi các cô sơn nữ bằng những tiếng… “hú…hù…oa…oa…”, cả con trai con gái đùa giởn với nhau một cách hồn nhiên vô tư, làng này giàu có và đông dân, chính giữa làng là một căn nhà rông dài có mái nhọn cong vút, chung quanh là những căn nhà sàn nhỏ, dưới sàn nhà tôi thấy:heo, bò, gà, vịt, trâu… đang nằm ngủ ngổn ngang; còn trên sàn là người ở, nhà nào ở giữa sàn cũng có 1 bếp lửa đang cháy đỏ riu riu, các chú chó chạy loanh quanh sủa inh ỏi khi thấy chúng tôi. Đến một căn nhà gần cuối làng Mạnh chụm 2 tay đưa lên miệng kêu: “hú… hù… oa…òa…; “một bà già từ trong nhà bước ra; từ trên sàn bà ta nhìn xuống chúng tôi rồi líu lo 1 tràng tiếng thượng, chẳng ai hiểu bà ta nói gì, Đạt nhỏ dùng ngôn ngữ quốc tế bằng tay, anh chàng chỉ vào bụng chúng tôi sau đó chỉ vào miệng, bà già cười đưa ra 2 cái nướu, miệng bà ta móm xọm không còn 1 cái răng nào, bà có vẻ hiểu chúng tôi muốn gì và hỏi chúng tôi bằng tiếng kinh “- ăng cưm hớ…”…cả đám gật đầu ” – dà…” bà ta bước xuống sàn nhà trên cái thang bằng một lóng cây tròn đẻo từng nấc và ra dấu cho chúng tôi đi theo – từ nhà này sang nhà khác – đến mỗi nhà bà lại kêu người trong nhà ra; chỉ vào chúng tôi rồi líu lo 1 tràng, người nào cũng lắc đầu, đến căn nhà sàn thứ 6 (may mắn thay;) khi nghe xong người này gật gật đầu đi vào trong; lát sau đem ra cho chúng tôi một gói lá chuối trong đó là bắp nấu chung với gạo nếp, mọi người mừng quá chắp 2 tay xá xá tỏ dấu cám ơn rồi nhanh chân đi như chạy ra khỏi làng, chúng tôi cùng ăn mà ứa nước mắt, ăn xong mới cảm thấy mình nhục nhả và hèn hạ thế nào ấy, nhưng phải công nhận rằng cơm của người Thượng ngon; ngọt làm sao. Đêm nay chúng tôi được bình yên nằm ngũ cạnh làng Thượng giàu có này, bên tai là tiếng chiên; tiếng cồng lúc to lúc nhỏ theo làn gió, văng vẳng đâu đây có cả tiếng đàn guitar vọng lại đầy tha thiết, sâu sắt, lay láy rất riêng biệt của núi rừng Tây Nguyên… tùm… túm… tum… túm tum…tờ…rùm…tum túm tum…Tôi tưỡng tượng ra hình ảnh của những nàng sơn nử đang nhảy múa bên ánh lữa bập bùng…và tôi đi vào giấc ngủ cùng với nhửng điệu nhảy trong mơ

Advertisements
This entry was posted in Hồi ký chiến trường, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s