Dak-Séang 1970 (Kỳ 2)

– Vương Mộng Long –

Báo cáo đầu tiên là Chuẩn úy Trung đội trưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm bị bắn vỡ bọng đái. Tiếp đó, hai Trung đội trưởng còn lại, Thiếu úy Phan Ngọc Ðồng và Thiếu úy Nguyễn Trọng Kháng cũng bị thương nhẹ.

Giao tranh kéo dài hai giờ đồng hồ. Ðịch bỏ chạy, để lại gần hai chục xác. Quân bạn thiệt hại mất một phần ba đại đội, vừa chết vừa bị thương.

Sợ địch sẽ tăng viện tấn công lần nữa, Ðại úy Thu đã cho lệnh Lê Hùng cố gắng tải thương và rút toàn bộ đại đội về với tiểu đoàn.

Nhưng mới đi được nửa đường đơn vị này lại bị địch chặn đánh ác liệt, Trung úy Lê Hùng bị thương nhẹ vì B.40.

Cuối cùng ông Tiểu đoàn trưởng đành nhờ Gunships can thiệp để giúp 3/23 rút về khu rừng thưa hướng Ðông nằm cố thủ.

Trong suốt thời gian đó đại đội của Trung úy Mừng cũng bị Việt-Cộng tấn công từ hướng Bắc. Khe suối cạn ngăn cách giữa Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 23 và Ðại Ðội 4/23 đã bị một lực lượng cỡ đại đội của Việt-Cộng chốt giữ, cắt đứt đường lui. Khoảng hai giờ chiều, Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 23 không còn liên lạc được với Trung úy Trần Mừng nữa.

Nghi ngờ rằng địch đang chuyển quân, Ðại úy Thu xin pháo binh và phi cơ liên tục đánh chặn trên tất cả các đường tiến sát quanh ngọn đồi anh đang trú đóng. Từ đó cho tới xế chiều, tình hình tạm lắng dịu, chỉ còn pháo binh của ta và không quân Mỹ hoạt động mà thôi.

Ðúng năm giờ chiều ngày 8 tháng Tư, ngọn đồi trung tâm, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 23 bị Việt-Cộng pháo kích như mưa. Tất cả Pháo Binh Cộng-Hòa từ Ben-Het, Dak-Tô và Tango cũng được lệnh quay mũi súng về hướng núi Ngok-Remang để ngăn chặn địch. Cả một vùng rừng núi trùng điệp chỉ còn là một cột khói và bụi khổng lồ cao ngút trời.

Trong thung lũng Dak-Lao súng nổ ran như pháo Giao-Thừa. Ðứng cách xa hơn ba cây số, tôi còn nhìn rõ những lằn đạn lửa chằng chịt, đan nhau, chéo qua, chéo lại sáng cả một vùng. Bộ chiến bắt đầu lúc trời sụp tối. Anh Thu cho biết địch tấn công biển người từ hai hướng Tây và Nam, nhiều đợt liên tiếp nhau. Quân hai bên đã đánh xáp lá cà nên Không quân Hoa-Kỳ được yêu cầu đánh cận phòng. Thiếu tá Lê Phú Ðào và viên Cố Vấn Trưởng phải liên tục thay nhau đối đáp với nhân viên điều không tiền tuyến trên trinh sát cơ  O.V.10.

Vì  phi cơ  oanh kích theo trục Tây- Ðông, nên mỗi khi đánh bom xong, A 37 lại liệng sát trên Tango, lấy đà, rồi vọt lên cao,  tiếng động cơ gầm rú ầm ầm, làm ù tai người dưới đất. Trên đỉnh Ngok-Remang hỏa châu soi sáng tựa ban ngày.

Vào lúc súng nổ rộ ác liệt nhứt thì liên lạc truyền tin với Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân bị cắt đứt. Cùng lúc, Trung tá cố vấn trưởng cũng mất liên lạc với Ðại úy cố vấn của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân. Vì không còn liên lạc được với quân bạn, nên không yểm đành tạm ngưng. Thiếu tá Tòng cho lệnh Trung sĩ Minh (Ban 3) dò tìm các đài hiệu trên tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, nuôi hy vọng.

Mãi gần mười giờ đêm, chúng tôi mới nghe tiếng Trung úy Mừng gọi liên đoàn xin tiếp cứu. Ðại Ðội 4/23 của anh bị đánh giạt xuống một cái khe núi hướng Ðông Bắc vị trí cũ, rồi bị lạc trong rừng lau sậy hướng Nam suối Dak-Lao. Thiếu tá Ðào cho lệnh Trung sĩ Hồng (Ban 3) mang một máy PRC 25 ra ụ cối 81 ly bắn trái sáng để hướng dẫn đoàn quân của Trung úy Mừng đi theo hướng nước chảy mà tìm về bờ sông Pơ-Kô.

Bất chợt, trên máy Viễn-Thám, tôi nghe Trung úy Nguyễn Văn Hùng gọi,

– Lê Lai đây Hồng Hà! Lê Lai đây Hồng Hà! Có nghe được không? Trả lời!

Mừng quá, tôi vội gắn cái loa khuếch âm vào máy, để tất cả mọi người có mặt trong trung tâm hành quân đều nghe.

Tới nước này, tôi chẳng còn câu nệ chuyện dùng ám danh hay ngụy thoại gì nữa, cứ bạch văn mà xài,

– Hồng Hà! Ðây Lê Lai! Phải Hùng Cá Sấu đó không?

– Tao đây, Long ơi!

– Mày hiện nay ra sao? Cho tao biết đi.

– Mẹ kiếp! Tao bị gãy hai chân rồi! Lính của tao thì áo đỏ, áo vàng lền khên (đỏ: chết, vàng: bị thương) Tụi tao đã chơi hết mình, nhưng tụi nó đông quá! Chắc tao không trụ được lâu đâu mày ơi!

– Anh Thái Bạch thế nào?

– Tao giữ mặt Tây, anh Thu nằm bên mặt Ðông với thằng Bao. Thằng Bao nói anh Thu chết rồi!

– Ðể tao lệnh cho thằng Mạnh Mẽ (Mừng) quay lại cứu mày!

– Nó chịu trận từ mờ sáng tới giờ, chắc không còn hơi sức đâu mà cứu tao.

– Thế còn thằng Bao. Nó có giúp gì cho mày được không?

– Thằng Bao cũng sắp hết đạn. Nó đang chuẩn bị rút. Nó cho người sang khiêng tao đi. Nhưng lính của tao bị thương nhiều lắm! Bỏ đàn em mà chạy thì tao không làm được. Thà chết thì thôi!

Hùng nói một hơi không nghỉ, tiếng nói của nó lẫn với tiếng súng chát chúa nghe như sát bên.

– Vậy thì tao có thể làm gì để giúp mày bây giờ?

Hùng Cá Sấu không trả lời. Hình như nó phải ngừng đàm thoại để tiếp tục bắn nhau?

Một hồi sau,

– Tao giục thằng Bao chạy rồi. Tao đoạn hậu cho nó chạy. Mày đón nó!

Tôi sang máy liên đoàn gọi Nguyễn Công Bao, nhưng không nghe ai trả lời.

Tình hình chắc chắn đang nguy kịch lắm nên tôi không nghe Hùng nói gì thêm. Lòng tôi bồn chồn, nóng như lửa đốt. Chúng tôi người này nhìn người kia, mà không ai biết sẽ phải làm gì lúc này. Chợt loa khuếch âm oang oang tiếng thét giựt giọng, lẫn với tiếng súng ròn rã, còn có cả tiếng “Oành! Oành!” của lựu đạn và thủ pháo,

– Lê Lai đây Hồng Hà! Tao bị tràn ngập rồi! Mày bắn lên đầu tao đi! Mau lên!

Tôi hướng về Trung tá Sâm,

– Thằng Hùng xin bắn lên đầu, xin Trung tá quyết định!

Trung tá Sâm nhìn sang Thiếu tá Tòng,

– Chỉ Ðại úy Thu mới có thẩm quyền. Giờ đây số phận cố vấn cũng không biết thế nào? Mình có xin oanh kích trên đầu quân bạn, chắc gì Mỹ nó chịu?

Thiếu tá Ðào trao đổi vài câu với ông Trung tá Mỹ, rồi lắc đầu,

– Họ không chịu!

Trên đầu máy bên kia, Hùng Cá Sấu hổn hển, nghẹn ngào,

– Lê Lai đây Hồng Hà!… Long ơi! Long ơi!… Tao phải bắn… viên đạn cuối cùng rồi!… Vĩnh biệt mày!

Rồi máy của Hùng tắt phụt. Tôi chết lặng người, tai ù đặc như bị ai bưng kín.

Những người khác trong trung tâm hành quân có thể hiểu rằng bạn tôi đã tự sát, nhưng chắc có lẽ họ không biết ý nghĩa sâu xa của danh từ “Viên đạn cuối cùng” này đâu. Danh từ ấy mang ý nghĩa của một sự đứt gánh giữa đường đầy chua xót, đồng thời cũng biểu hiện cái nghĩa khí can vân của một Cựu Sinh-Viên Sĩ-Quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam.

Năm xưa, trên ngọn đồi 1515, Ðà-Lạt, vào những giờ học “Lãnh Ðạo Chỉ Huy”, chúng tôi đã nghe thầy dạy lặp đi, lặp lại bao lần:

“Sau này ra chiến trường. Khẩu súng Colt các anh đeo bên mình sẽ là khẩu súng chỉ huy giúp các anh leo lên tới cấp tướng. Nhưng nhớ giữ lại viên đạn cuối cùng, dành cho chính các anh, giúp các anh không rơi vào tay địch.”

Lời khuyến cáo này đã trở thành câu kinh nhật tụng mỗi khi ra trận của chúng tôi, những sĩ quan xuất thân từ Trường Võ-Bị.

Ðêm 8 tháng Tư năm 1970, dưới chân ngọn Ngok-Remang (Kontum) cao ngút tới mây, “Cùi” Nguyễn Văn Hùng, Tham Mưu Ban 5 Liên Ðoàn của Khóa 20 Võ-Bị đã đứt gánh giữa đường, phải sử dụng đến viên đạn cuối cùng.

Từ lúc ấy cho tới sáng, tôi như một pho tượng, ngồi chôn chân trong một góc của trung tâm hành quân.

Sáng 9 tháng Tư, Thiếu tá Tòng ra lệnh cho Ðại úy Nguyễn Ngọc Di Trưởng Ban 3 dẫn theo hai anh lính hộ tống và một hiệu thính viên, lội qua sông để gặp Trung úy Mừng. Ðại úy Di có nhiệm vụ tập họp các cánh quân của Tiểu Ðoàn 23, dàn hàng án ngữ mặt Tây của Tango, bờ bên kia sông.

Trưa ngày 9 tháng Tư, Ðại Ðội 1/23 của Ðại úy Nguyễn Công Bao cùng một số quân nhân thuộc Ðại Ðội 2/23 cũng về tới bờ sông, nhập chung với cánh quân của Trung úy Trần Mừng.

Ðêm 9 tháng Tư từ hướng Bắc, Việt-Cộng mở hai đợt tấn kích vào điểm đóng quân của Ðại úy Nguyễn Ngọc Di. Nhưng A.C 119 và pháo binh trực xạ từ Tango đã đẩy lui hai đợt tấn kích này.

Sáng 10 tháng Tư Ðại tá Nguyễn Bá Thìn, Tư Lệnh Mặt Trận ra lệnh cho Biệt Ðộng Quân tái chiếm những ngọn đồi mới bị mất.

Trung tá Sâm ngoắc tôi vào lều riêng. Ông thì thầm,

– Ông (Ðại tá) Thìn cho phép mình tạm thời gửi vài toán trinh sát lên thăm dò trước để báo cáo với ông Tướng (Lữ Lan) rồi tính sau. Ông có thể giúp tôi việc này được không?

Tôi gật đầu,

– Vâng! Tôi sẽ thi hành ngay.

Trên danh sách Ðại Ðội Trinh Sát có bốn sĩ quan, nhưng chỉ ba người thực sự có mặt là các ông Thiếu úy Ðinh Quang Biện, Thiếu úy Nguyễn Văn Nhờ, Thiếu úy Nguyễn Quang Minh. Một ông nữa có tên, nhưng không biết lưu lạc phương nào là Thiếu úy Lê Trọng Huế. Ông này vừa trình sự vụ lệnh cho tôi buổi sáng, buổi chiều đã có lệnh đi tăng phái đâu đó mất tiêu.

Ðại Ðội Trinh Sát của Liên Ðoàn 2 có một trung đội xung kích và bốn toán Viễn-Thám, do Thiếu úy Ðinh Quang Biện (Khóa 25 Thủ-Ðức) chỉ huy. Thiếu úy Biện là một kiện tướng xuất thân từ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Những lúc thiếu sĩ quan trưởng toán, hoặc khi có nhiệm vụ gì đặc biệt, ông đại đội trưởng này thường đích thân dẫn Viễn-Thám vào vùng.

Trung đội xung kích có chừng trên, dưới hai mươi quân nhân, do một Thượng sĩ người Nùng chỉ huy. Mỗi toán Viễn-Thám có sáu người. Hai trưởng toán cấp sĩ quan là Thiếu úy Nhờ và Thiếu úy Minh. Thiếu úy Nhờ là trưởng toán xuất sắc nhứt.

Hiện thời ông Nhờ đi phục kích, ông Minh đang nằm Quân Y Viện Pleiku vì sốt rét. Hai hạ sĩ quan trưởng toán là Trung sĩ Lê Sanh Ma và Trung sĩ Nguyễn Lợi đều đã bị thương vì mìn. Vì thế, tôi quyết định sẽ cùng Thiếu úy Biện gánh vác công tác này.

Từ ngày đảm nhận chức vụ Trưởng Ban 2 Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân thay thế Ðại úy Ty, tôi đã trải qua nhiều lần “đi toán”. Chừa ra những phần đất thuộc trách nhiệm của các trại Dân-Sự Chiến-Ðấu, tôi đã đặt gót giày trên suốt dải Trường-Sơn từ ranh giới Quảng-Tín tới ranh giới Phước-Long. Lần vất vả nhứt là vụ tái chiếm căn cứ Kate (Quảng-Ðức) cuối năm 1969 trong chiến dịch giải vây Bu-Prang. Lần đó may mà Gunships cứu viện kịp thời, chứ không thì tôi và anh cố vấn Mỹ đã bị Việt-Cộng “tó” rồi.

Lần này nhiệm vụ của tôi không khó khăn lắm, chuyến đi cũng ngắn ngày, tôi lại được toàn quyền ứng phó với những biến cố sẽ xảy ra, do đó tôi không cảm thấy lo lắng gì cả.

Trưa 10 tháng Tư tôi và Thiếu tá Lê Phú Ðào bay ra Phi trường Phượng-Hoàng, thuyết trình cho phi hành đoàn Hoa-Kỳ tình hình bạn, địch, vị trí nghi ngờ có phòng không của Việt-Cộng, và các địa điểm thả quân dự trù.

Rồi theo đúng kế hoạch, Thiếu tá Lê Phú Ðào bay theo C&C (máy bay chỉ huy) hướng dẫn Gunships oanh kích bốn bãi giả để đánh lừa địch.

Trong khi đó, tôi âm thầm thả toán Bravo của Thiếu úy Biện trên một ngọn đồi cách mục tiêu chừng một cây số về hướng Tây. Sau đó vài phút, toán Alpha của tôi đáp xuống bìa làng Dak-Lao, cách mục tiêu hơn một cây số về hướng Bắc. Ba giờ chiều chân tôi đạp đất. Rồi trong vòng mười giây, chúng tôi biến mất trong rừng cỏ hôi.

Di chuyển cách bãi đáp chừng trăm mét, tôi cho Alpha dừng lại, quây thành một vòng tròn, án binh chờ mặt trời lặn. Tôi thử máy với Bravo và Bạch Mai (Trung tá Sâm) rồi mở bản đồ ra nghiên cứu lộ trình hướng tới mục tiêu tối nay.

Trong khi trực thăng võ trang còn đang oanh kích bốn bãi giả trên vùng đồng tranh hướng Ðông Bắc, chúng tôi chợt nghe tiếng chân người chạy “Huỳnh! Huỵch!” trên con đường mòn vắt chéo dưới chân ngọn đồi Alpha đang trú ẩn.

“Khẩn trương lên! Khẩn trương lên!”  tên Việt-Cộng chỉ huy, vừa chạy, vừa lớn tiếng hối thúc đồng bọn.

Ðã có ít nhứt là ba, bốn toán Việt-Cộng hối hả chạy về hướng trực thăng đang vần vũ. Có lẽ đây là một đơn vị cơ động của địch có nhiệm vụ tập kích các bãi đáp trực thăng? Hôm đầu tháng, chúng đã bắn rơi ba, bốn trực thăng Hoa-Kỳ khi họ thi hành một cuộc đổ bộ của bộ binh vùng Nam Dak-Séang.

Chừng mười phút sau, tôi nghe tiếng bốn, năm khẩu cối của Việt-Cộng từ hướng Tây bắn ào ào sang khu vực có những bãi đổ quân giả.

Tôi không có nhiệm vụ thám sát vùng địch đặt cối, cũng như chặn đánh các đơn vị địch di chuyển trong vùng này. Do đó tôi chỉ báo chuyện này cho Thiếu tá Lê Phú Ðào để ông tùy nghi. Khoảng một giờ sau, các toán Việt-Cộng lại nối đuôi nhau ngược đường về khu rừng già hướng Tây.

Chiều xuống, toán của tôi bắt đầu di chuyển tới điểm hẹn. Ðiểm hẹn nằm trên con đường mòn cũ bên con suối nhỏ dưới chân ngọn đồi của Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân.

Rừng tối đen như mực, rời tay khỏi lưng áo người đi trước là bị lạc ngay. Chúng tôi cứ nhắm hướng 3200 ly giác trên địa bàn mà tiến.

Chui ra khỏi rừng cỏ gai, chúng tôi rơi vào một triền dốc nồng nặc mùi thối của xác chết.

Chợt như chân giầy của tôi giẫm lên một cái sọ dừa, tôi trượt về phía trước, mũi giày dính theo một miếng bầy nhầy nhớp nháp như miếng bánh tráng ướt. Tôi té nhào, đánh rơi cái bản đồ.

Tôi đành dừng lại, ngồi xuống, quơ tay mò mẫm, nhưng không thấy cái bản đồ đâu.

Tôi móc cái đèn pin mini ra, bàn tay trái bụm cái loa đèn cho bớt sáng, rọi một vòng sát đất. Tôi tìm được cái bản đồ ngay dưới giày của tôi!

Trong lúc quýnh quáng, tôi đã đạp lên cái bản đồ, mũi giày còn vướng một mảng da đầu người chết, với mớ tóc bầy nhầy máu thịt.

Chúng tôi tiếp tục đi theo triền cỏ tranh, lâu lâu lại đá phải một thây ma, hoặc một cái ba lô. Tới một lối mòn cùng hướng tiến, tôi kéo áo cho người đi đầu theo đường mà đi. Ngờ đâu, mặt đường nơi này ngổn ngang xác người. Vấp phải một thây ma, tôi bị ngã nhào, đập mặt lên cái thây nằm phía trước. Cứ thế, người đi trước bị té, kéo theo người đi sau. Tay chân, quần áo, súng ống dính nhớp nháp chất thịt thối, thở không nổi.

Posted in Hồi ký chiến trường | Leave a comment

Dak-Séang 1970 (kỳ 1)

Vương Mộng Long

image.png

Trung Úy Vương Mộng Long

Ngày 23 tháng Ba năm 1970 tôi nhập viện xin giải phẫu vết thương cũ nơi sườn trái để lấy ra một mảnh đạn cối 82 ly.

Bác sĩ của Bệnh Viện 71 Dã chiến Hoa-Kỳ ở  Pleiku đã phải khoét một lỗ lớn cỡ lòng bàn tay bên sườn tôi, lấy mảnh đạn ra, rồi nạo hết thịt thối bám trên ba cái xương sườn. Vì vết khoét khá lớn, nên không thể khâu vá bằng chỉ, mà được nhét đầy băng vải tẩm trụ sinh, rồi đắp lại bằng một tấm băng lớn dày hai lớp chứa bông gòn ở giữa.

Tôi được điều trị ngoại trú, cứ hai ngày, phải trở lại bệnh viện một lần để thay băng. Mỗi lần thay băng là một lần đau muốn chết. Gần mười ngày sau tôi mới thấy các đốm thịt màu hồng bắt đầu nhô lên trên mặt vết mổ. Nhưng mỗi lần chùi rửa để thay băng, máu tươi vẫn tuôn ra ròng ròng.

Chiều 3 tháng Tư, từ bệnh viện về, vừa vào nhà, tôi đã thấy Trung sĩ Triêm đang ngồi chờ tôi nơi phòng khách. Ông Trung sĩ Ban 2 Liên Ðoàn mới từ mặt trận về ghé thăm tôi. Ông cho tôi hay tin, Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân của Thiếu úy Ðinh Quang Biện đi đầu, đã nhảy nhằm một bãi mìn cũ, trên căn cứ hỏa lực Tango, chết và bị thương cả chục người. Thêm vào đấy, tình hình an ninh căn cứ rất bấp bênh vì ban ngày thì bị cối địch pháo kích, ban đêm lại lo Ðặc-Công Việt-Cộng tấn công. Trung tá Bùi Văn Sâm, Liên Ðoàn Trưởng đang bối rối lắm.

Ông Triêm móc túi, đưa cho tôi mảnh giấy có đôi dòng viết vội của ông Liên đoàn trưởng:

“Ông Long nếu khỏe rồi, thì lên gấp, giúp tôi một tay.”

Cuối thư là chữ ký dài ngoằng gồm đủ tên, họ, và chữ lót của người viết: “buivansam”

Tin tức không vui từ mặt trận do Trung sĩ Triêm mang về, cùng với lời nhắn khẩn thiết của ông Trung tá liên đoàn trưởng đã khiến tôi cầm lòng không được.

Sáng 5 tháng Tư năm 1970 tôi leo lên trực thăng, trong ba lô có mười ngày trụ sinh.

Vừa bay qua Tân-Cảnh vài cây số, tôi đã nhìn thấy một thác nước sáng như bạc, thẳng như sợi chỉ, đổ xuống từ đỉnh Ngok-Kean cao hơn nghìn thước.

Dưới chân núi là dòng sông xanh biếc, uốn khúc ngoằn ngoèo giữa rừng già Trường-Sơn trùng trùng, điệp điệp. Sông Pơ-Kô bắt nguồn từ vùng chân núi Ngok-Linh, chảy ngang Dak-Rôta, qua Dak-Pek, xuống Dak-Séang, tới Phi Trường Phượng-Hoàng (Dak-To), rồi xuôi về Nam.

Tiền đồn Dak-Séang nằm bên bờ Tây của con sông này. Căn Cứ Hỏa Lực Tango (T) lại nằm bên bờ Ðông, xa hơn sáu cây số về hướng Ðông Nam.

Trong màn khói sóng Pơ-Kô, trên Quốc-Lộ 14, Tango ẩn hiện mơ màng nơi bờ Nam của một cây cầu sắt đã gãy từ thời Pháp thuộc.

Càng trực thăng vừa chạm đất, đạn cối 82 ly của Việt-Cộng đã bay tới ào ào. Tôi vội nhảy ra khỏi máy bay, ôm đầu nhào về hướng bờ sông. Trên căn cứ, sáu khẩu 105 ly đua nhau bắn trả vào những điểm nghi ngờ hướng Ðông.

Pháo kích vừa ngưng, Trung tá Sâm cồng kềnh trong áo giáp và nón sắt, đã ra tận bờ sông dắt tôi vào trung tâm hành quân liên đoàn.

Ông đẩy tôi tới trước mặt một vị Thiếu tá cũng dềnh dàng nón sắt, áo giáp, súng đạn, bản đồ, như đang chuẩn bị đi bay,

– Giới thiệu với ông, đây là Thiếu tá Tòng, mới thay Trung tá Bé.

Tôi đứng nghiêm chào ông tân liên đoàn phó,

– Chào Thiếu Tá, tôi là Trung úy Vương Mộng Long, Trưởng Ban 2.

– Mình là anh em mà, chú Long há! Nghe nói chú đang nằm nhà thương?

– Vâng, tôi vừa mổ xong, vết thương chưa lành thì nhận được lệnh gọi lên đây.

Thiếu tá Chung Thanh Tòng Khóa 5 Thủ-Ðức, là người Nam. Ông ăn nói rất nhỏ nhẹ và lịch sự. Vừa trao đổi vài lời, tôi đã có thiện cảm với ông.

Trung tâm hành quân liên đoàn ồn ào như cái chợ. Hầu như ai cũng bận rộn, tất bật. Loa khuếch âm của các máy truyền tin không ngớt tiếng đàm thoại của các hiệu đài. Ông Trung tá Cố Vấn Trưởng chỉ kịp bắt tay tôi một cái, rồi hối hả chạy theo Thiếu tá Tòng ra trực thăng để bay yểm trợ Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân đang chạm địch.

Trung tá Sâm cho tôi biết, một sư đoàn Cộng-Sản đã bao vây căn cứ Dak-Séang gần nửa tháng nay rồi. Vùng hướng Bắc của chúng tôi, hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh ngày nào cũng đánh nhau ác liệt với một trung đoàn Cộng-Sản, nhưng vẫn chưa bắt tay được lực lượng Dân-Sự Chiến-Ðấu trú phòng trong trại Dak-Séang. Hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân tăng viện cũng gặp phản ứng mãnh liệt của địch bên hướng Tây Pơ-Kô. Tin tức do tài liệu nhặt trên tử thi của địch cho thấy Trung Ðoàn 66 Cộng-Sản trụ vùng hướng Nam Dak-Séang, còn Trung Ðoàn 28 Cộng-Sản án ngữ hướng Bắc tiền đồn này. Ban ngày Gunships và A.1 (Skyraider) Hoa-Kỳ vần vũ, ban đêm Spectre (A.C 130) và Shadow (A.C 119) thay nhau bao vùng.

Ông Trung tá Liên đoàn trưởng xác nhận, nhiệm vụ của tôi kỳ này không nhằm vào địch tình, mà nặng về công tác chống Ðặc-Công và chống pháo kích. Tôi sẽ điều hành công tác phòng thủ để ông Thiếu tá Lê Phú Ðào, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân có thể rảnh tay phối hợp với cố vấn Hoa-Kỳ lo phần không hỏa yểm. Ðại úy Nguyễn Ngọc Di, Trưởng Ban 3 Liên Ðoàn có vẻ đuối sức lắm rồi. Mới cách nhau chưa tới hai tuần lễ mà tôi thấy tóc anh Di đã bạc đi nhiều lắm.

image.png

Vị trí Dak-Seang

Rời trung tâm hành quân, tôi đi tìm ông y sĩ trưởng của liên đoàn xin tá túc, vì anh binh nhì nấu cơm và anh hạ sĩ mang đồ ngủ của tôi đã chết vì mìn ngay ngày đầu tiên nhảy xuống Tango.

Sau khi vứt cái ba lô vào lều của Y Sĩ Trung úy Hoàng Ðình Mùi, tôi theo chân Thiếu úy Biện đi kiểm soát hệ thống phòng thủ.

Căn cứ hỏa lực Tango nằm “ngay boong” trên một cái đồn cũ của Tây. Trừ ra phần bề mặt quốc lộ là không có dấu đào xới, còn hai bên đường, trong cỏ, hầu như cứ cách vài thước, lại có một cái lỗ do Công Binh để lại, sau khi đã đào lấy mìn đi. Trong lúc các hoạt động của căn cứ diễn tiến liên tục, thì hai chuyên viên tháo gỡ mìn bẫy vẫn thận trọng dùng lưỡi lê đi xăm xoi từng thước đất vùng nghi ngờ, tìm những quả M16 còn sót lại.

Vì biết chắc chắn rằng mình đang đi trên một bãi mìn, chỉ một giây lơ là, là banh xác ngay, tôi cảm thấy tóc gáy của mình dựng lên như lông nhím.

Tôi nghĩ rằng, nếu cứ để mọi người tự do đi tìm bụi bờ, phóng uế lung tung, họ có thể đạp phải mìn chết oan mạng, nên tôi đã chỉ định vị trí sáu cái cầu tiêu dã chiến trong vòng đai để Trung sĩ Triêm đôn đốc toán lao công đào binh hoàn tất trước khi trời tối. Sau đó, tôi cho đại đội trinh sát giăng thêm hai hàng kẽm gai Concertina trên tuyến Ðông để phòng chống Ðặc-Công.

Tính tới ngày 5 tháng Tư thì Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 2 và hai Tiểu Ðoàn 22 và 23 Biệt Ðộng Quân đã có mặt trong vùng Nam Dak-Séang hơn một tuần lễ rồi. Mọi nỗ lực tiếp viện cho Dak-Séang đều nằm bên hướng Tây của sông Pơ-Kô. Hướng Ðông hoàn toàn bỏ trống.

Hầu như ngày nào cũng vậy, cứ nghe tiếng trực thăng, “Bạch! Bạch!” ở đằng xa, hoặc khi pháo binh trên căn cứ vừa khai hỏa, thì trên mặt đất, ai nấy lại lo chuẩn bị núp đạn cối của Việt-Cộng. Vị trí cối địch không xa lắm, chỉ loanh quanh đâu đó vùng đồng tranh giữa Ngok-Tang và Pơ-Kô. Nhưng khổ nỗi, ta không có quân để truy đuổi địch.

Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 mang danh là đơn vị cấp đại đội. Thực ra, nó không có bảng cấp số, quân số phải lấy từ ba tiểu đoàn cơ hữu của liên đoàn. Lúc cao nhất, đếm đầu từ quan tới lính, tính luôn thủ kho, tài xế, cũng chỉ được trên dưới sáu chục mạng. Sau khi cả chục người chết và bị thương vì mìn, đơn vị này còn lại hơn bốn chục người thôi. Hiện nay, nó chỉ đủ sức bảo vệ Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn. Pháo binh phải tự túc việc canh gác phần đất của họ. Thành ra, lúc các khẩu đội bận tác xạ thì phòng tuyến của pháo binh hầu như bị bỏ ngỏ.

Chính vì sơ hở này mà đêm 1 tháng Tư, một mũi xung kích của Tiểu Ðoàn 37 Ðặc-Công Việt-Cộng đã có cơ hội lọt vào đánh gãy càng hai khẩu 105 ly của ta, rồi ném ba, bốn bánh bộc phá trên nóc lều của trung tâm hành quân liên đoàn. Cũng may, không có ai bỏ mạng.

Trước tình trạng này, tôi quyết định dồn tuyến phòng thủ thành từng ụ ba người, mỗi tổ cách nhau chừng hơn mười thước, ban đêm sẽ gác đôi, một ngủ, hai thức. Khoảng giữa hai ụ phòng thủ được gài bẫy sáng để báo động. Bằng cách này, pháo binh sẽ được Biệt Ðộng Quân bảo vệ vòng ngoài, khi hữu sự, họ có thể yên tâm làm phận sự của mình mà không lo bị địch tấn công.

Vì tôi, nên ông bạn bác sĩ của tôi đã ra lệnh cho Ban Quân Y dựng thêm một cái nhà bạt trên bãi sậy nằm giữa căn hầm chứa thương binh và căn hầm của Ban 2 để tôi và Bác sĩ  Mùi trú ngụ.

Ðêm ấy pháo binh bắn liên tục để yểm trợ cho một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh bị địch ồ ạt tấn công nhiều đợt, trong khu vực hai cây số Nam Dak-Séang. Tới khuya, chúng tôi mới chợp mắt được. Mờ sáng ngày 6 tháng Tư, tôi bị Mùi gọi giựt dậy,

– Dậy mau! Nhưng nằm im đó! Coi đây!

Ông Trung úy bác sĩ run run chỉ cho tôi vật gì đó lòi lên ngay dưới chiếu, nơi ông ta nằm. Thì ra đó là ba cái râu mìn M16! Ba cọng thép đã rỉ sét, bị ông bác sĩ nằm đè lên trên, nên cụp xuống mặt chiếu. Thoạt nhìn, cứ tưởng đó là ba cọng cỏ lác chui qua khe chiếu. Tới lúc coi lại thì hú hồn!

Hai đứa rón rén từng bước leo lên mặt lộ, gọi ông Trung sĩ Công-Binh nhờ gỡ giùm quả M16 đã bị cụp râu. Ai nghe chuyện này cũng cho là hai đứa tôi có thần hộ mạng, nếu không thì đã bị phanh thây đêm qua. Có thể quới nhơn đã phù hộ cho hai đứa tôi cũng nên? Ai đời, đi hành quân mà mang theo chiếu? Nếu anh chàng Hoàng Ðình Mùi này mà trải chỗ nằm bằng poncho, râu mìn sẽ không chọc thủng được poncho, trong khi chúng tôi cứ dẫm đi, dẫm lại trên râu mìn, thì có khi, Mùi và tôi đã nằm trong poncho bay về Pleiku rồi cũng nên?

image.png

Mìn M16 (phải)

Buổi trưa có Chinook tiếp tế đạn pháo binh cho Tango. Chuyến đầu trót lọt. Tới chuyến thứ nhì thì bãi đáp bị địch pháo kích tơi bời, máy bay đành thả bành đạn giữa sông Pơ-Kô rồi vội vàng trở đầu bay về Nam. Lúc đó tôi đang đứng quan sát trên vai của cây cầu đã gãy.  Qua ống nhòm, tôi thấy rõ hai cụm khói trắng bốc lên từ hai vị trí cối 82 ly của Việt-Cộng đặt dưới thung lũng, cách Tango chừng hai cây số. Tôi chạy về hầm Ban 2, lệnh cho Thiếu úy Nhờ và toán Viễn-Thám sáu người của ông ta chuẩn bị năm ngày lương khô.

Chiều hôm đó ông Nhờ dẫn quân tới vị trí mai phục trên khúc đường mòn cách Tango ba cây số về hướng Ðông. Trong thời gian này, tôi bắt hai nhân viên Ban 2 và ba nhân viên Ban 4 cùng Trung sĩ Nguyễn Lác của toán tiếp tế trực thăng ra canh gác đêm trên vị trí mà toán Viễn-Thám của Thiếu úy Nhờ đã bỏ trống.

Không biết toán của Thiếu úy Nhờ có để lộ hình tích gì khiến địch nghi ngờ không, mà tuyệt nhiên mấy ngày sau, không còn trái đạn cối nào rơi xuống Tango nữa.

Hôm đó mặt trận Dak-Séang bên hướng Tây sông Pơ-Kô bỗng trở nên ác liệt hơn. Một máy bay vận tải  C7 Caribou  của Mỹ  đang thả dù tiếp tế cho lực lượng trú phòng thì bị phòng không của địch đặt trong các hốc núi bắn rơi. Từ hôm sau, không quân Ðồng Minh phải áp dụng chiến thuật thả dù ban đêm.

Ngày 7 tháng Tư, máy bay quan sát L.19 báo cho Thiếu tá Lê Phú Ðào biết rằng, có nhiều toán Việt-Cộng ngụy trang bằng vải dù di chuyển trong khu vực đồng cỏ tranh hướng Ðông Bắc Ngok-Remang. Tin này được chuyển ngay cho Ðại úy Nguyễn Văn Thu, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân để đề phòng.

Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân dàn quân theo thế chân kiềng, chiếm lĩnh ba ngọn đồi cao trên triền Ðông Bắc của rặng Ngok-Remang.

Ngọn đồi thấp hướng Bắc do Ðại Ðội 4/23 của Trung úy Trần Mừng (Khóa 18 Thủ-Ðức) trấn giữ.

Ngọn đồi hướng Nam do Ðại Ðội 3/23 của Trung úy Lê Văn Hùng (Khóa 20 Thủ-Ðức) phụ trách.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 23 nằm chung với Ðại Ðội 1/23 của Ðại úy Nguyễn Công Bao và Ðại Ðội 2/23 của Trung úy Nguyễn Văn Hùng.

Cả hai anh Bao và Hùng đều là bạn cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi. Từ trong trường, bạn bè đã gán cho Nguyễn Văn Hùng cái biệt danh “Hùng Cá Sấu” chỉ vì anh ta có cái cằm nhọn nhô ra như cái hàm cá sấu.

Trong Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân có hai trung úy mang tên Hùng, là Nguyễn Văn Hùng và  Lê Văn Hùng, nên anh em quen miệng gọi Nguyễn Văn Hùng là “Hùng Cá Sấu” còn Lê Văn Hùng là “Lê Hùng” để tránh lẫn lộn.

Qua tần số riêng, tôi đã nói chuyện với Ðại úy Nguyễn Văn Thu, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân khá lâu. Anh Thu là dân Long-An, xuất thân Khóa 19 Võ-Bị, ra trường trước tôi một năm. Anh Thu rất mê thi hào Lý Thái Bạch đời Ðường, vì thế, chúng tôi gọi anh với cái tên “Thái Bạch” chẳng phải vì anh làm thơ hay, mà vì anh là tay uống rượu rất cừ.

Anh Thu than phiền rằng sở trường của Biệt Ðộng Quân là chiến đấu lưu động, nay bị chỉ định nằm yên một chỗ như thế này thì quả là điều rất bất lợi. Anh lo sợ có thể bị địch tập trung tấn công đột ngột bất cứ lúc nào. Hôm đó tôi đã cho các anh Thu, Bao và Hùng Cá Sấu biết tần số Viễn-Thám của tôi, để khi bất trắc, họ có thể gọi tôi trên làn sóng trực 24/24 này mà không qua hệ thống liên đoàn.

Sáng 8 tháng Tư một toán tuần tiễu Biệt Ðộng Quân báo cáo rằng, địch đang rầm rộ chuyển quân bao quanh ngọn đồi hướng Tây Nam do Trung úy Lê Hùng trấn giữ. Lê Hùng là tay kinh nghiệm dạn dày, đã lăn lộn trên chiến trường Tây-Nguyên gần năm năm.

Sau khi đích thân quan sát tình hình, vị đại đội trưởng này đã hạ lệnh cho đơn vị để nguyên lều võng đánh lừa địch, rồi gài Claymore, lựu đạn, trên vị trí, sau đó âm thầm rút xuống triền núi hướng Ðông, cách chỗ đóng quân cũ khoảng ba, bốn trăm mét, đào hầm hố nằm chờ.

Quả nhiên chỉ một giờ sau  mìn bẫy nổ ầm ầm, xen lẫn tiếng quân reo, “Xung phong!”

Pháo binh đã có sẵn yếu tố, nên hàng chục tràng đạn hỗn tạp đã tưới xuống, bao trùm ngọn đồi kia.

Tuy vậy, hai giờ sau địch đã kịp thời chuyển tiếp một lực lượng đông đảo khác đánh vu hồi trên điểm đóng quân mới của 3/23. Báo cáo đầu tiên là Chuẩn úy Trung đội trưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm bị bắn vỡ bọng đái.

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTCC – Tháng 4 Máu Và Nước Mắt – Bán Tiểu Đội BCD Với Những Ngày Cuối Tháng 4

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTCC- Cuối Năm Về Đơn Vị Mới

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTCC – Người Tù Binh Hồi Chánh Bên Bờ Sông Ba

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTCC – Bẻ Cổ Con Gà Cồ – Mật Khu A Shau

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTCC – Tình Lính

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTC – Biển Đợi Bến Chờ

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

VBTCC- Bạt Mạng

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

Tiểu đoàn 43/LĐ4 BĐQ & Vị Tiểu đoàn Trưởng sau cùng

Tôi gởi bài nầy có đoạn nhắc về người bạn đồng môn với tôi thời trung học hiện sống ở Texas để nhớ lai tinh thần yêu nước  dũng cãm,hy sinh của chiến sĩ VNCH đã đi vào lịch sữ .Xin đươc tri ân và hảnh diện vì các Anh.
Hơn 36 năm trước, lúc 8 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, tại văn phòng của Liên đoàn trưởng Liên đoàn 4/BĐQ trong căn cứ Long Bình, Biên Hòa, có mặt ba anh Tiểu đoàn trưởng (Khang 42, Xẻn 43, và Quang 44)

Trung tá Sáu, Liên đoàn trưởng nói:

– Lý do mời ba anh lên đây, vì sáng sớm hôm nay Bộ Chỉ Huy BĐQ/Sàigòn có công điện cho Liên đoàn, phải cắt ra một Tiểu đoàn tăng cường ngay cho Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (Hốc Môn). Ai trong các anh tình nguyện đi?

Một phút im lặng, không nghe ai trả lời. Trung tá Sáu tiếp:

– Vậy đề nghị cho các anh bốc thăm?

Vừa nghe bốc thăm, tôi phản ứng:

– Thưa Trung tá, nếu anh Khang, anh Quang không đi, tôi, Tiểu đoàn 43 tình nguyện đi.

Liên đoàn trưởng liền quyết định:

– Nếu vậy, anh Xẻn về chuẩn bị Tiểu đoàn ngay. Đến 10:30 sẽ có đoàn quân xa đến trình diện anh. Xuất phát càng sớm càng tốt. Khi rời đây và tới nơi, anh phải báo về Liên đoàn.

Tôi đáp nhận và chào Liên đoàn trưởng. Anh Khang và anh Quang chúc tôi may mắn.

Dù Tiểu đoàn trong tình trạng ứng chiến, nhưng với thời gian chuẩn bị cấp bách như vậy nên việc gom quân có ít nhiều khó khăn. Với quân số gần 300, tôi phân lên 25 xe GMC, lệnh ra Xa Lộ Biên Hòa trực chỉ hướng Saigon – Quang Trung. Bấy giờ hơn 11 giờ trưa ngày 29-4-1975.

Khi đoàn xe chạy đến ngã tư Thủ Đức và Trường Bộ Binh, tiểu đoàn bị một chốt Quân Cảnh chận lại bảo không thể vào Sàigon bằng lối Xa Lộ nảy vì đang đang có trận đánh nhau giữa hãng Xi Măng Hà Tiên và Cầu Tân Cảng. Đoàn xe buộc phải quẹo phải đi qua chợ Thủ Đức, nhưng đến gần Cầu Bình Lợi thì lại gặp một đơn vị Nhảy Dù kéo kẽm gai không cho qua. Tôi phải lên đầu đoàn nói chuyện với anh Đại đội trưởng ở đó và được phép qua cầu.

Có một điều khá may mắn cho tôi, nếu chọn Xa Lộ Đại Hàn đi Quang Trung ngay từ đầu hay khi gặp đơn vị Dù tôi quẹo phải hướng Lái Thiêu rồi quẹo trái qua Quang Trung, có thể chúng tôi đã bị VC phục kích hoặc tao ngộ chiến với họ và nhiệm vụ đi Quang Trung đã không đơn giản.

Sau khi qua Cầu Bình Lợi, qua Ngã Tư Xóm Gà, ra Đường Chi Lăng, vượt Ngã Tư Phú Nhuận, qua Bộ Tổng Tham Mưu tới Ngã Tư Bảy Hiền, quẹo phải 400 mét hướng Quang Trung, tôi ra lệnh cho đoàn xe ép sát lề phải dừng lại. Một cảnh tượng bất thường hiện ra, mới hơn 1 giờ chiều mà đường vắng tanh, không một bóng người qua lại, không một xe cộ lưu thông. Tôi bảo tài xế lái vào gần sát một xe bán thuốc lá lẻ bên đường và hỏi cô bán thuốc:

– Cô ơi, cho tôi hỏi thăm, tình trạng không bình thường thế này xảy ra từ lúc nào vậy cô?

Được cô trả lời:

– Thưa ông, lúc 10 giờ sáng mọi sinh hoạt đều bình thường, nhưng đến gần 12 giờ trưa thưa dần, thưa dần và vắng luôn như hiện nay.

– Cám ơn cô. Cô có nghe ai nói từ đây đến Vina Texco, đến ngã tư An Sương có Việt cộng không?

– Dạ, không nghe.

Kinh nghiệm nghề nghiệp cho tôi biết như vậy là đoạn đường từ đây đến Quang Trung không còn an ninh, đã có địch rồi. Tôi gọi ngay các Đại đội trưởng lên đầu máy gặp tôi và tôi ban một Lệnh hành quân ngắn gọn:

– “Sau khi nghe lệnh tôi, các anh cho lính để hết ba lô xuống sàn xe, súng đạn nón sắt mang vào người sẵn sàng tác chiến, đứng dọc hai bên thành xe, súng quay ra 2 phía. Khi di chuyển mỗi xe cách nhau tối thiểu 30 mét với tốc độ trung bình. Đang di chuyển nếu bị địch bắn, chúng ta vừa bắn trả lại vừa đi. Khi bị địch bắn, xe nào bị trúng đạn hư, lính tự động xuống xe tìm vị trí chiến đấu; đoàn xe trước chạy lên một đoạn, dừng lại, xuống xe, bố trí chờ lệnh; đoàn xe sau dừng ngay tại chỗ, xuống xe, bố trí chờ lệnh. Chuẩn bị xong các Đại đội báo cáo Tiểu đoàn và Đại đội đi đầu cho xe lăn bánh”

Sau đó đoàn xe lần lượt qua Hãng dệt Vina Texco, tại đây thấy có một đơn vị Nhảy Dù đang bố trí, rồi tới ngã tư An Sương, qua hậu cứ Biệt Kích 81. Binh sĩ trong đó giơ tay chào chúng tôi và họ đang ở các tháp canh, giao thông hào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đến ngã tư Trung Chánh đoàn xe quẹo phải vào cổng số 1 của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, nhưng bị kẽm gai và lính gác chận lại, phải trình Sự vụ lệnh và Công điện tăng cường họ mới mở cổng cho vào. Bấy giờ khoảng 2 giờ chiều 29-4-1975. Khi đoàn xe vừa đậu tại Vườn Tao Ngộ (chỗ tiếp tân của anh em quân dịch) thì bên ngoài Trung Tâm một đoàn xe Việt Cộng dẫn đầu bằng mấy chiếc T54 trên Quốc Lộ I, từ Hốc Môn xuống, cũng đến ngang Trung Tâm, bắn nhau đì đùng với các chốt của Quân Trường bên kia đường. Sau một chập bắn nhau, tiếng súng ngưng. Hai xe T54 đã vào chiếm Trường Dạy Lái Xe, sát Quốc lộ I.

Sau khi lệnh cho Tiểu Đoàn xuống xe bố trí chung quanh Vườn Tao Ngộ, tôi đến Trung Tâm Hành Quân của Quân Trường để gặp cấp chỉ huy. Tại đó tôi gặp được Đại Tá Huấn, Chỉ huy phó (nghe đâu Chỉ huy trưởng đã đi đâu rồi). Khi tôi chào trình diện và báo Tiểu đoàn BĐQ tăng cường đã tới nơi, Đại tá Huấn hỏi:

– Tiểu đoàn anh hiện giờ đang ở đâu?

– Thưa Đại tá, đang bố trí tạm tại Vườn Tiếp Tân.

– Anh có nghe súng nổ ngoài đường không? Xe tăng đã vào Trường dạy lái xe. Anh cho Tiểu đoàn ra đánh ngay mấy cái xe đó cho tôi.

– Thưa Đại tá, đánh là nghề của chúng tôi. Nhưng trước khi thi hành nhiệm vụ nầy, xin Đại tá cho tôi biết một số điều căn bản cần thiết “cách phòng thủ bố trí của Quân Trường, Lực lượng Địch Bạn chung quanh gần nhất, phương tiện tiếp vận yểm trợ…”

– Được, anh theo ông Trung tá này xuống hầm Trung Tâm Hành Quân.

Tại phòng này tôi được xem hệ thống phòng thủ của Quân trường, nghe thuyết trình lực lượng địch bạn trong vùng, vị trí xe tăng VC đang đậu. Nhìn lên bản đồ phối trí lực lượng, thấy chi chít ô chữ nhật màu đỏ (màu cuả địch), tôi hỏi ông Trung tá về lực lượng bạn. Trung tá đó trả lời:

– Chi Khu Trảng Bàng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa đã mất mấy ngày nay, Chi Khu Hốc Môn vừa mất đêm qua.

Tôi hỏi tiếp:

– Thưa Trung tá, Sư đoàn 25 thấy có ký hiệu trên vùng đó, nay còn đó không?

Tôi được trả lời:

– Tất cả đã phân tán về hướng Lái Thiêu – Bình Dương. Coi như mình đã bỏ ngỏ mặt trận phía Trảng Bàng, Gò Dầu. Tiền quân của VC nay đã có mặt tại chợ Trung Chánh và một số điểm chung quanh trường. Quân Trường chúng ta bây giờ trở thành tuyến đầu.

Tôi hỏi ông thêm một vài vấn đề nữa:

– Bây giờ phương tiện yểm trợ gồm có những gì?

– Chỉ còn 2 khẩu 105 ly duy nhất tại Quận Gò Vấp và một số súng cối cơ hữu của Quân Trường.

– Không quân thì sao?

– Chắc chắn không có, không liên lạc được với Biên Hòa, hay ngay cả Tân Sơn Nhất.

– Tản thương có trực thăng không?

– Không có, sẽ dùng Ambulance của trường chở đi Bệnh Viện Cộng Hòa.

– Nếu cần thêm súng đạn, quân số thì sao?

– Không trở ngại, chúng tôi có 10.000 tân binh đang huấn luyện tại đây, sẵn sàng giao cho anh.

– Rất cám ơn Trung tá. Xin Trung tá cho người hướng dẫn tôi ra xem 2 cái xe tăng T54 đang ở đâu trên thực tế.

Trong khi ngồi đợi người tới, tôi mượn điện thoại báo cáo về BCH/BĐQ. Sẵn dịp tò mò, tôi gọi Tổng tham Mưu để dò hỏi tình hình, được anh trực máy trả lời:

– Tôi là Hạ sĩ quan trực máy, giờ nầy Sĩ quan từ cấp Đại Úy trở lên đi hết rồi, không ai có thẩm quyền trả lời ông.

Tôi hỏi lại, họ đi đâu và được trả lời ngắn gọn:

– Dạ, không biết.

Tò mò thêm, tôi gọi Biệt Khu Thủ Đô và nhận được câu trả lời giống hệt như vậy. Buông máy xuống, trong đầu tôi tự hỏi “Bỏ chạy hết rồi sao?” và kết luận “Rắn đã mất đầu”. Với cương vị Tiểu đoàn trưởng hiện tại tôi biết tôi nên làm những gì.

Mười phút sau có một anh Thiếu Úy đến trình diện tôi. Tôi mời anh ta ra xe ngồi ghế trưởng xa. Tôi lái, anh ta chỉ đường. Gặp tay gà mờ không biết rõ vị trí xe tăng địch, anh ta đã chỉ tôi lái tới quá gần chúng nó, đang đậu bên kia hàng rào núp sau mấy bụi tre gai. Thấy chúng tôi, chúng nổ một tràng AK chận lại. Thắng dừng xe, nhảy qua trái đứng sau một gốc cây bên lề quan sát kỹ, tôi thấy chúng có hai thằng ngồi trên nóc xe tăng đang ăn cái gì đó. Tài xế của tôi phải bò lên lùi xe lại thật xa, phần tôi theo hàng cây đi lui từng gốc. Trở lại gặp Đai tá Huấn, Chỉ huy phó, tôi nói:

– Thưa Đại Tá, tôi đã thấy rõ 2 cái xe VC rồi. Nó ở bên kia hàng rào. Cách chúng nó chừng 50 mét, lính mình bố trí dưới giao thông hào rất đông. Với địa hình nầy, nếu đánh tôi phải đưa Tiểu đoàn tôi ra bên ngoài Quân Trường. Chuyện đó tôi sẽ làm, bây giờ tôi đề nghị với Đại tá như thế này: Đại tá ra lệnh cho đơn vị nào ở gần xe tăng nhất, nhảy lên bắt sống chúng nó cho tôi.

– Anh nói đùa, chúng nó là tân binh.

– Thưa, tôi nói thật, giờ này không còn phân biệt tân binh hay cựu binh, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần, chỉ đánh nhau bằng lựu đạn, bằng tay và bắt sống chúng nó thôi. Tôi biết cấp chỉ huy tân binh ở đây là những sĩ quan ưu tú có nhiều kinh nghiệm chiến đấu từ các chiến trường đưa về. Nếu không thành công, tôi sẽ vào đánh ngay thay thế họ (Trả lời như vậy là một trường hợp rất đặc biệt trong đời binh nghiệp của tôi. Lẽ dĩ nhiên tôi có nhiều lý do, nhưng thiết nghĩ không cần phải viết ra đây).

Thấy tôi quả quyết, Đại tá Huấn nhường:

– Thôi đươc, Tiểu đoàn anh làm trừ bị và đợi lệnh tôi.

Tôi trở về vị trí đóng quân tạm ngồi chờ. Đến 7 giờ tối không nghe thêm lệnh gì, tôi lên gặp lại ông Huấn hỏi nhiệm vụ tiếp trong đêm, ông nói:

– Đêm nay anh vẫn trừ bị, nếu Quân trường bị tấn công, thủng chỗ nào anh lấp vào chỗ đó và quan trọng nhất là bảo vệ Trung Tâm Hành Quân của tôi.

Tôi trở lại Tiểu đoàn, họp các Đại Đội Trưởng phân công nhiệm vụ phòng thủ đêm và vào hệ thống truyền tin của Quân Trường để theo dõi diễn biến đêm đó bên trong cũng như bên ngoài Quân trường. Các tiền đồn báo cáo từ 10 giờ đêm đến sáng hôm sau, có tất cả 4 đoàn xe VC chạy ngang Quân Trường hướng về Sài Gòn, và tiền quân của chúng đã vào đến Ngã tư Bảy Hiền, tiến sát Bộ Tổng Tham Mưu vào khoảng 5-6 giờ sáng ngày 30-4.

Đến 8 giờ sáng, từ hàng rào phía Quốc lộ I, VC phát loa vào trường kêu gọi đầu hàng. Chúng nói đêm qua chúng không tấn công vì biết đây là một trường dạy lính. Nếu không cử người ra đầu hàng, 8:30 chúng sẽ tấn công. Tôi báo động Tiểu đoàn và chuẩn bị sẵn sàng phản công. Chúng tôi đợi, đợi, và đợi… Đến gần 10 giờ thì một anh Thượng Sĩ, phụ tá Ban 3 của tôi, hớt ha hớt hải chạy tới:

– Thiếu tá ơi, Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng rồi!

– Ai bảo anh? Tôi hỏi.

– Đây nè, trong Radio nè. Anh mở chiếc Radio anh đang có trong tay cho tôi nghe.

Tôi như từ trời cao rơi xuống, không tin lỗ tai tôi vừa nghe một sự thật. Tôi phải cố nghe lại một lần nữa, rồi tự hỏi “Thế là thế nào? Cuộc đời, sự nghiệp và lý tưởng chiến đấu bảo vệ Miền Nam của mình đến đây phải chấm dứt hay sao?” Tôi bảo anh Ban 3 mang Radio đi chỗ khác. Tôi và Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn kéo lại Tượng Đài Quang Trung Nguyễn Huệ. Tôi bước lên hai bậc tam cấp ngồi xuống phía trước dưới chân Ngài. Thân Tâm dường như tự động chia tay, tôi ngồi đó như xác không hồn. Tình trạng nầy kéo dài gần 20 phút. Tôi tỉnh lại. Việc đầu tiên, nghe mấy cái loa truyền tin của tôi VC đã vào lải nhải kêu gọi đầu hàng, tôi bảo mấy anh mang máy tắt hết các máy truyền tin. Trước mắt tôi cảnh 10.000 tân binh quân dịch rã ngũ, súng đạn vứt lung tung, xe gắn máy đủ loại chen lấn ngược xuôi. Phải nói là Tiểu đoàn 43 của tôi rất kỷ luật, nằm yên tại chỗ, án binh bất động, không một Đại Đội Trưởng nào gọi hỏi tôi bây giờ phải tính sao, phải làm gì. Tôi giữ Tiểu đoàn trong tình trạng như vậy đến quá 12 giờ trưa và sau đó tôi vào Trung Tâm Hành Quân tìm Đại Tá Huấn xem ông ta đang làm gì.

Khi bước chân vào cửa phòng Chỉ huy phó, tôi thấy ông ngồi tại ghế của ông quân phục chỉnh tề, sau lưng cả chục người đứng hàng ngang, tôi đoán họ là sĩ quan trong Ban Tham Mưu của ông, tôi đưa tay lên chào và hỏi:

– Thưa Đại tá, bây giờ Đại tá tính sao?

Ông ta trả lời:

– Anh là đơn vị tăng phái, anh muốn làm gì làm. Chúng tôi sẽ có những lệnh thích hợp cho đơn vị sau.

Bực mình khi nghe ông nói, tôi đưa tay chào và nói,

– Đây là lần cuối tôi chào Đại tá, tôi sẽ không gặp lại Đại tá nữa.

Bước ra ngoài tôi gọi Đại Úy Nghĩa, Ban 3 của tôi, thuật lại lời nói của Đại tá Huấn vừa rồi, và hỏi anh có ý kiến gì không. Anh nói:

– Anh, Tiểu đoàn trưởng, anh làm gì thì làm tôi không có ý kiến.

– Thế thì anh nghe tôi quyết định đây. Vì danh dự, vì trách nhiệm với 300 sinh mạng của thuộc cấp, vì an ninh của tôi và của anh, tôi quyết định cho đơn vị rã ngũ.

Tôi bảo truyền tin gọi tất cả các Đại đội trưởng lên máy gặp tôi ngay. Từ Trung Tâm Hành Quân cách vị trí bố trí quân khá xa tôi ra lệnh họ:

– “Tất cả những gì của quân đội các anh cho lên đoàn xe hôm qua, những gì riêng tư cá nhân các anh mang theo và tìm đủ mọi cách tự túc về nhà. Tôi cho đơn vị tan hàng. Tôi chịu trách nhiệm. Chào tất cả các anh ”.

Cảnh rã ngũ của Tiểu đoàn diễn ra rất nhanh. Từ xa tôi thấy vẫn còn một số anh em binh sĩ chưa chịu đi, cứ lẩn quẩn quanh đoàn xe. Tôi nghĩ, nếu từ chỗ đứng tôi bỏ đi, sau nầy có dịp gặp lại họ, làm sao tôi chứng minh để họ tin giờ đó tôi vẫn còn có mặt với họ. Nhưng tôi tới gặp họ lúc nầy rất nguy hiểm. Biết đâu trong số họ có VC cài trong đơn vị chờ tôi tới “thịt” tôi để lập công. Do dự, ngại ngùng, nhưng tôi quyết định phải gặp họ một lần cho rõ mặt. Đề phòng tối đa, tôi bảo tài xế lái thật chậm, ngồi bên phải với khẩu M16 đạn lên nòng, mở khóa an toàn và sẵn sàng tự vệ. Cách họ 5-7 mét thấy họ không lộ vẻ gì nghi ngờ, tôi ra hiệu dừng xe. Để súng lại xe, tôi bước xuống đi tới họ, lên tiếng trước:

– Sao giờ nầy các anh chưa chịu đi khỏi đây?

Một số chửi thề, đáp trống không:

– Đ.M. nhục quá, chưa đánh đã đầu hàng, chết mẹ nó cho rồi.

Tôi nhắc lại, tôi khuyên các anh nên rời khỏi đây ngay.

– Ông đi đi, mặc kệ chúng tôi.

Tôi tiến đến gần 2 anh hung hăng nhất, bá vai họ và nói chậm rãi:

– Nếu giờ nầy các anh còn coi tôi như một đàn anh, tôi khuyên các anh nên tìm cách về nhà, ở đó cha mẹ và vợ con các anh đang chờ các anh.

– Thôi ông đi đi, nhục quá, sống sao nổi. Sống làm “đếch” gì.

– Này các anh, nếu hôm nay chúng ta thấy nhục, chúng ta cần phải sống hơn ai hết, vì nếu chúng ta tự sát chết, rồi nay mai có cơ hội rửa nhục thì lấy ai làm thay cho chúng ta. Các anh nghe lời tôi, về với cha mẹ vợ con đi, vì giờ này họ đang đợi các anh đấy.

Họ vẫn tiếp tục nói:

– Ông cứ đi đi, để mặc chúng tôi.

– Không, các anh phải đi trước rồi tôi mới đi, hay chúng ta cùng đi, tôi khuyên các anh.

Lần nầy có vẻ họ nghe lời, giọng dịu lại, nhưng họ đòi đốt đoàn xe trước khi chia tay. Tôi bảo để đó tôi lo và họ phân tán hai hướng gục đầu mà đi!

Còn lại 6 thầy trò chúng tôi là những người cuối cùng rời khỏi vườn Tao Ngộ. Đến cách cổng số 2 hướng Đài Phát Tuyến vài trăm thước chúng tôi phân tán chia tay nhau. Tôi và Đại Úy Nghĩa, Ban 3, đi chung. Đi bộ một đoạn đường dài chúng tôi chứng kiến nhiều cảnh tượng thật đau lòng. Không ngờ có ngày chúng tôi phải nhục như vậy. Đến 7 giờ tối hôm đó chúng tôi mới về tới Cư Xá Thanh Đa, nhà của tôi. Nghĩa ngủ lại với tôi một đêm. Sáng hôm sau (1-5) tôi đưa Nghĩa ra Bến Xe Miền Tây về Sóc Trăng, quê hương của anh.

Ba mươi sáu năm nay chúng tôi chưa gặp lại. Hiện giờ Nghĩa và gia đình đang định cư tại Atlanta, Georgia. Chắc Nghĩa chưa quên một ngày dài lịch sử nhiều tủi nhục ấy.

Qua những tình tiết vừa viết lại, tôi rút ra được vài điều:

– Nếu vì một lý do gì đó, sự di chuyển của Tiểu đoàn chậm lại 30 phút, chúng tôi và Việt cộng đã có cuộc tao ngộ không đẹp tại ngã tư Trung Chánh (Hốc Môn). GMC đụng đầu với T54. Không biết ai sẽ thắng ai, nhưng chắc chắn máu BĐQ đã phải đổ nhiều, anh em BĐQ đã phải hy sinh thêm vào giờ thứ 23 và số phận của Tiểu đoàn 43 cũng không phải như thế nầy.

– Tài lãnh đạo chỉ huy của tôi chỉ đáng được ngồi dưới chân Quang Trung Đại Đế thôi (và tôi đã làm như kể ở đoạn trên).

– Giờ phút cuối cùng, thuộc cấp tôi chửi thề, nói trổng với tôi, rồi gọi tôi bằng ông, tôi cho còn khá may mắn. Đây là cái giá phải trả cho một cấp chỉ huy không hoàn thành nhiệm vụ.

– Một số anh em Hạ sĩ quan ở lại quyết tự sát mà không thành vì sự xuất hiện can thiệp của tôi. Trong 36 năm qua nếu họ sống thuận lợi, hạnh phúc, chắc họ đã thầm cám ơn tôi vì nhờ tôi mà họ còn sống, ngược lại họ đã trách tôi một cách thậm tệ.

Nhưng với tôi duy nhất chỉ có một điều, nếu có một ngày nào đó trong những ngày còn lại của đời tôi may mắn được gặp lại họ, tôi vẫn hãnh diện là một đàn anh, một cấp chỉ huy không đến nỗi tồi, không đào ngũ, bỏ anh em.

 Giang Văn Xẻn

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment