Giới thiệu

                                                                        

MỘT Ý CHÍ CHỐNG CỘNG                                                        
MỘT LỜI THỀ GIÀNH LẠI QUÊ HƯƠNG

       DTH.JPG                                   

Kính thưa quý đồng hương và chiến hữu.

Blog Buồn Vui Đời Lính là nơi sưu tầm những bài viết cuả  lính và của những người yêu lính về những kỷ niệm , những hồi ức của những tháng năm dài chinh chiến. Ước mong sẽ gợi lại cho quý đồng hương quý chiến hữu những cảm xúc vui buồn của một thời  giầy sô áo trận không thể nào quên

Chúng tôi mong đón nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng cũng như bài vở của quý chiến hữu thuộc các Quân Binh Chủng để trang blog ngày một thêm phong phú.

Mọi liên lạc xin  gởi email về địa chỉ kbc3506@yahoo.com

Trân trọng kính chào

BĐQ Đoàn Trọng Hiếu

  Kính mong quý cơ quan truyền thông, quý chiến hữu giúp chúng tôi phổ biến rộng rãi tin tức này. Gia đình nào có thân nhân trong hai danh sách dưới đây xin vui lòng liên lạc với chúng tôi
Đoàn Trọng Hiếu (505) 340-9959.Xin để lại lời nhắn. Cám ơn

                          TIN TỨC CẢI TÁNG 61 TỬ SĨ BĐQ VÀ 43 TỬ SĨ SĐ18BB         
                                                       TẠI AN LỘC BÌNH LONG
                     DANH SÁCH 61 TỬ SĨ BIÊT ĐỘNG QUÂN TẠI AN LỘC BÌNH LONG
Họ và Tên Số Quân Đơn Vị Ngày Tử Trận
1 TS Nguyễn Ph        An              51/107…. ĐĐ4 TĐ52BĐQ 11/5/1972
2 B1 Nguyễn tuấn Anh 71/128548 TĐ31BĐQ 25/05/1972
3 Trần trọng  Nhân 68/104289 BĐQ 15/04/1972
4 B2 Đặng văn An 69/149840 TĐ31BĐQ 13/06/1972
5 B1 Trần văn Ba 71/383565 TĐ36BĐQ 11/6/1972
6 B1 Nguyễn văn Cảnh 74/105691 TĐ31BĐQ 18/06/1972
7 Điểu Cao  TĐ74BĐQ  7/1972
8 TS1 Nguyễn Chuyên 73/217507 ĐĐ1 TĐ36BĐQ 15/04/1972
9 B2 Chu văn Cường 74/114054 TĐ31BĐQ 27/05/1972
10 TH S Lê văn cường 64/125135 ĐĐ4 TĐ52BĐQ 16/05/1972
11 HS Nguyễn văn Đang ĐĐ2 TĐ52BĐQ 11/5/1972
12 TS Nguyễn văn Đông 71/103521 TĐ36BĐQ 7/5/1972
13 B2 Trịnh Dũng 73/108848 BCH TĐ52BĐQ 11/5/1972
14 HS Nguyễn văn Được 69/125616 TĐ36BĐQ 10/5/1972
15 HS Dương xú Há 62/179159 TĐ36BĐQ 11/6/1972
16 HS1 Lê ninh Hải 64/189822 TĐ36BĐQ 3/7/1972
17 HS Đỗ văn hai 72/102446 BCH TĐ52BĐQ 7/6/1972
18 ĐU Lê văn Hiếu 65/145324 ĐĐ1TD52BĐQ 13/05/1972
19 HS1 Nguyễn văn Hoài 66/400108 BCH TĐ52BĐQ 1606/1972
20 B2 Trần Hoài 74/109370 ĐĐ3 TĐ52BĐQ 8/5/1972
21 Nguyễn văn Hưởng 73/123516 ĐĐ2 TĐ52BĐQ 2/5/1972
22 B1 Trần đức Lân 61/578478 TĐ36BĐQ 5/5/1972
23 B2 Nguyễn Bá Long 72/147048 TĐ31BĐQ 11/6/1972
24 B2 Hà văn Lượng TĐ36BĐQ 11/6/1972
25 B2 Hồ văn Mão 69/106734 TĐ36BĐQ 10/5/1972
26 B1 Nguyễn văn Nam 74/112571 ĐĐ2 TĐ52BĐQ 11/7/1972
27 Phan văn Nam 63/122313 TĐ36BĐQ 11/5/1972
28 TR U Tr  Đình Phúc 69/209955 TĐ52BĐQ 19/05/1972
29 HS1                 Phương 74/521330 TĐ52BĐQ 11/5/1972
30 B2 Nguyễn văn Quang 71/126277 TĐ36BĐQ 7/6/1972
31 HS1 Nguyễn văn Sơn 66/151819 TĐ36BĐQ 14/05/1972
32 B1 Nguyễn văn Sơn 66/128548 TĐ36BĐQ 20/05/1972
33 HS Phạm Hắt Sơn 69/124285 ĐĐ2 TD52BĐQ 23/05/1972
34 HS1 Đinh văn Song 70/109172 ĐĐ2 TĐ36BĐQ 15/06/1972
35 B2 Kiều văn Tách 73/111521 TĐ36BĐQ 17/05/1972
36 TH T Nguyễn Minh Tâm 63/111171 ĐĐ1 TĐ36BĐQ 15/04/1972
37 HS1 Hồ văn Tám ĐĐ1 TĐ52BĐQ 8/6/1972
38 B2 Đỗ ngọc Tâm 72/149960 TĐ31BĐQ 22/05/1972
39 B1 Lê Thạch 72/204083 TĐ31BĐQ 27/05/1972
40 HS Nguyễn văn Thanh 69/108099 ĐĐ3 TĐ52BĐQ 22/05/1972
41 HS Lê văn Thọ 73/111046 TĐ31BĐQ 14/05/1972
42 HS Nguyễn văn Thơm 72/105570 TĐ36BĐQ 13/06/1972
43 HS1 Trần văn Thuỷ 69/156326 Đ36BĐQ 12/5/1972
44 HS1 Vũ Đình Thuỵ(Thi) ĐĐ3 TĐ52BĐQ 13/05/1972
45 Đỗ Ngọc Tiến 74/189540 ĐĐ3 TĐ52BĐQ 12/5/1972
46 B2 Trần văn Tính 72/112416 TĐ36BĐQ 3/5/1972
47 B1 Đinh Bá Tòng 63/108883 TĐ36BĐQ 21/06/1972
48 TS Nguyễn văn Trường TĐ52BĐQ 8/6/1972
49 B1 Trần văn Tuy 73/114120 TĐ36BDQ 13/06/1972
50 B2 Phạm Văn 73/225395 ĐĐ4 TĐ52BĐQ 14/05/1972
51 Vô danh Nhảy Dù  7/1972
10 hài cốt vô danh

1323833369-1

DANH SÁCH TỬ SĨ SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH ĐÃ ĐƯỢC CẢI TÁNG

DANH  SÁCH  TỬ SĨ  TẠI  AN  LỘC

01-         HUỲNH KIM    HOÀNG         61/159314         SĐ18BB                        1972     THẺ  BÀI

02- B2    LÊ          VĂN   CHIẾN           71/118421         SĐ18BB                        1972    CĂN CƯỚC Q N

03-         LƯU       HỮU    TƯ                 72/120841         SĐ18BB                        1972    THẺ BÀI

04-         TRẦN    MINH   TÂM             72/114020         SĐ18BB                         1972   THẺ BÀI

05-          NGUYỄN VĂN  TÂY                 1944       TĐ1TĐ48SĐ18BB      30-5-1972   Thân nhân đã nhận

06- B1    NGUYỄN VĂN  THÁI            75/104307  TĐ1TĐ48SĐ18BB      21-6-1972    BIA

07- B1   TĂNG       VĂN   NHỎ             75/106671  TĐ1TĐ48SĐ18BB      21-6-1972    BIA

08- B1   LIỄU          VĂN  THANH       72/114633   TĐ1TĐ48SĐ18BB      21-6-1972    BIA

09- B1   TRẦN        VĂN   RỚT             72/143232  TĐ1TĐ48SĐ18BB      20-6-1972    BIA

10- HS1 PHẠM       VĂN    TƯ              59/152334  TĐ1TĐ48SĐ18BB      10-7-1972    BIA

11- B1   NGUYỄN  THẾ     TY               58/866963  TĐ1TĐ48SĐ18BB      10-7-1972    BIA

12- TS1 TRẦN        VĂN     ANH          70/000285  TĐ1TĐ48SĐ18BB      03-7-1972    BIA

13- HS1 ĐẶNG      VĂN    LỢI              70/115479  TĐ1TĐ48SĐ18BB      22-4-1972    BIA

14- HS1 NGUYỄN VĂN   HƯỜNG       57/154870  TĐ1TĐ48SĐ18BB      14-6-1972    BIA+THẺ BÀI

15- B1    TRIỆU      VĂN   BẮC             72/123782  TĐ1TĐ48SĐ18BB      14-6-1972    BIA+THẺ BÀI

16- HS1 TRẦN     BỬU      TỰ               62/137789  TĐ1TĐ48SĐ18BB      14-6-1972    BIA

17- B1    HOÀNG               VÂN            75/103950  TĐ2TĐ48SĐ18BB       03-7-1972    BIA

18- TS1 NGUYỄN VĂN  GẦM (CẦM) 66/107987  TĐ2TĐ48SĐ18BB       03-7-1972    BIA

19- B1   NGUYỄN             TÌNH            73/131047  TĐ2TĐ48SĐ18BB       23-7-1972    BIA

20- TS1 TRẦN     TH         SƠN             67/404383  TĐ2TĐ48SĐ18BB       19-6-1972    BIA

21- HS1  HUỲNH  VĂN    GO (CO)      55/159731  TĐ2TĐ48SĐ18BB       10-6-1972    BIA

22- HS1 TRẦN   QUỐC     SIÊN                485007   TĐ2TĐ48SĐ18BB       30-6-1972    BIA

23- TS1 TRẦN –S –TH –   LONG          70/131561  TĐ2TĐ48SĐ18BB       27-7-1972    BIA

24-         ĐỖ    VĂN           ĐỨC             69/152180  TĐ2TĐ48SĐ18BB       27-7-1972    BIA+THẺ BÀI

25-         PHẠM   NGỌC    LỢI               69/157297  TĐ2TĐ48SĐ18BB       15-7-1972    BIA+THẺ BÀI

26- B1   CHÂU               SUÔL                   505916   TĐ3TĐ48SĐ18BB       18-6-1972    BIA

27-        LÝ    MINH       HOÀNG           70/137106  TĐ3TĐ48SĐ18BB       25-7-1972    BIA

28- B1  TRẦN   VĂN     …….                                   TĐ3TĐ48SĐ18BB       10-7-1972    BIA

29- HS1 NGUYỄN VĂN TRUY             71/121925  TĐ3TĐ48SĐ18BB       18-6-1972    BIA

30- HS1 NGUYỄN VĂN  DƯƠNG        70/143628  TĐ3TĐ48SĐ18BB       03-7-1972    BIA+C C Q N

31-         TRẦN    VĂN     NHU               65/107695  TĐ3TĐ48SĐ18BB       24-6-1972    BIA

32-         NGÔ      VĂN    BÁO                73/128710  TĐ1TĐ52SĐ18BB       01-7-1972    BIA+THẺ BÀI

33-         LÂM     LÊ     NGUYÊN           73/113371        TĐ52SĐ18BB                  1972   THẺ BÀI

34- HS1 NGUYỄN NGỌC DƯƠNG       61/101385        TĐ31BĐQ              13-4-1972    BIA

35- TS   LÊ   VĂN          QUANG           68/400070        TĐ31BĐQ              13-4-1972    BIA

36- HS   TRẦN               THUẬN            72/123834        TĐ31BĐQ              13-4-1972    BIA

37- TS1 SƠN  CẢNH      XUÂN             67/814386        TĐ31BĐQ              13-4-1972    BIA

38- B2   TRẦN  NGỌC  BÍCH                70/080572        TĐ36BĐQ              17-6-1972    BIA

39- B2   NGUYỄN VĂN  ĐỒNG            69/186326        TĐ36BĐQ              17-6-1972    BIA

40-         VÕ   VĂN       SINH                  70/105190         TĐ? ND                 17-4-1972    CĂN CƯỚC Q N

41-         HUỲNH MINH THÔNG           70/212143         TĐ? ND                 17-4-1972    BIA

42-         ĐIỂU               GIA                          1942        ĐĐ 251 ĐPQ                       1972   CĂN CƯỚC Q N

43-         NGUYỄN VĂN  THỜI              47/275205    ĐĐ 251 ĐPQ                        1972   CĂN CƯỚC Q N

44-         NGUYỄN VĂN    NHA                   1900         THƯỜNG DÂN        13-4-1972    BIA

Hình0062.jpg

Posted in Uncategorized | 12 Comments

Huế, Tôi và Mậu Thân

Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

Ó Biển đã bay xa

– Trong chiến tranh Việt Nam, Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là hai binh chủng mà Việt Cộng cố tránh đối đầu càng nhiều càng tốt. Một trong những yếu tố khiến hai binh chủng này làm quân đội miền Bắc khiếp đảm là vì họ có cấp chỉ huy giỏi.

Mỗi tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều mang một tên riêng, trong đó có Tiểu đoàn 2 Trâu Điên và Tiểu Đoàn 8 Ó Biển.

Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 8 Ó Biển, một người con của Huế, đã từ trần ngày 1 tháng 12 vừa qua tại Houston, tiểu bang Texas, thọ 80 tuổi.

Như một lời tiễn biệt Ó Biển giữa lúc đại dịch Covid, chúng tôi xin mời bạn đọc DLB xem lại tường thuật của Trung tá Phán về trận đánh tái chiếm Kỳ Đài ở Huế trong đợt Tết Mậu Thân 1968. Lúc đó, ông còn là Đại úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1 Quái Điểu.

Kế tiếp là một bài thơ của ông trong một ngày buồn ở Mỹ sau năm 1975.

Huế, Tôi và Mậu Thân

Từ Cai Lậy về thủ đô Sài Gòn, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết Giáp và Xóm Mới Gia Ðịnh xong xuôi, Quái Ðiểu Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến về nằm dọc đường Ngô Tùng Châu, Gia Định.

Mười hai giờ khuya họp Tiểu Đoàn, 2 giờ sáng có mặt tại Tân Sơn Nhất, 4 giờ sáng lên máy bay đi, đi đâu không biết.

Ðồ khô và tái trang bị không lãnh kịp. Cứ lên phi trường rồi hay. Ðó đây những loạt pháo kích, những loạt đại liên rời rạc, những đốm hỏa châu lũng lẳng trên bầu trời.

Tôi để lại đằng sau một Sài Gòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc máy bay C.13O khổng lồ nuốt gọn 8OO Quái Ðiểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt mùng.

– Ði đâu bây?

– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.

Lượm, Ðại Đội Trưởng Ðại Đội 1, dân Nha Trang, trả lời. Tôn, Ðại Đội Trưởng Ðại Đội 2 là dân Ðà Lạt, cãi:

– Ðà Lạt.

Phán Phu Nhơn nói:

– Ði đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.

(Khi vào quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội, Huế. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ xương rơi, qua tiếng thét trong máy truyền tin, cái tên ngụy trang “Phu Nhơn” ra đời, nghe thật lạ tai!)

– Máy bay chi bay mãi ri bây?

Thời tiết thật xấu, và rồi bánh phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ dồn ra khung cửa sổ máy bay. Phú Bài!

Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều quấn Poncho đứng nhìn đoàn người gánh gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Giạ Lê, An Cựu.

Phú Bài đó, Tịnh Tâm đó, Cầu Kho đó, Mạ, dì, chị và em mình đó mà không liên lạc được. Tình hình không biết sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỷ niệm thời đi học kéo về trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.

Mười giờ sáng, đoàn GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Giạ Lê, đồng bào hỗn loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai bên đường đóng kín cửa. Dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài, binh sĩ Nhảy Dù từng toán dìu nhau âm thầm đếm bước. Những cái nhìn như nhắn gửi, như lo sợ giùm chúng tôi. Mạnh, Ðại Úy Nhảy Dù, cùng khóa cho tôi biết:

– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi. Thừa (cùng khóa) chết, Phạm Như Ðà Lạt bị thương…

Mạnh khắp người băng bó đang được hai đệ tử dìu đi bộ về phi trường Phú Bài. Mạnh tiếp:

– Phán, mày cẩn thận. Không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu, thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết thành phố, Ðại Nội, Gia Hội. Tụi nó chốt rất kỹ, chỉ còn cái lõm nhỏ ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tại Mang Cá*.

(*Sau này tôi được nghe nói: Vì nghe tin Tướng Ngô Quang Trưởng kẹt nặng nên Đại Bàng Lê Quang Lưỡng, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù đã xua quân đi bộ từ cây số 17 về Huế để cứu Tướng Trưởng. Tôi xin Tướng Lưỡng cho tôi được nghiêng mình chào Ông một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút nào tả nổi này. Ðể đáp trọn tình nghĩa, Lữ Đoàn của Đại Bàng Lưỡng cũng hao hụt nặng nề).

Ðoàn xe dừng lại bên hông đại học Văn Khoa, cách con đường là trường Kiểu Mẫu mới xây, đối diện là đài phát thanh Huế, và trước mặt là cầu Trường Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn, hàng vạn lần qua lại, đầy ắp kỷ niệm.

Nhìn qua chợ Ðông Ba và phố Trần Hưng Ðạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ đã sập, những cột khói ngút trời cách khoảng. Từ đầu đường đến cuối đường Trần Hưng Ðạo không một bóng người. Nhìn bên phải là cầu Gia Hội vắng tanh, những cột khói khác vươn lên… Cả thành phố đã chết, Huế tôi tang thương đến thế sao! Một nhịp cầu đã sập, tôi nghĩ vành khăn tang đã cuốn lấy Huế.

Xuống tàu tại chân cầu Trường Tiền, xuôi dòng Hương xanh biếc ngang Gia Hội, quẹo trái sông Hang Bè, cầu Ðông Ba đó, có tiệm La Ngu ngày xưa chúng tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống ngang tiệm gạo Mụ Ðội, có người con gái đẹp não nùng tên Xuân mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn một lần đi qua đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Qua trường Bình Minh, nơi tôi học năm Đệ Tam, nhiều kỷ niệm đẹp. Ðến Bao Vinh, dân chúng nhốn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.

Tôi hướng dẫn đơn vị vào Mang Cá Nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Ðịch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiễn 107 và 122. Tất cả nằm sát bờ tường để tránh pháo và tìm chổ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung Úy Ðại Đội Phó, kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung Úy Sự là sĩ quan trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân Khóa 19 Võ Bị Ðà Lạt, thủ môn đội tuyển Nha Trang, đúng là đa năng đa hiệu.

Tôi dự buổi họp Tiểu Đoàn khẩn cấp và quan trọng. Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh:

– Phu Nhơn rành địa thế dẫn đầu, 8 giờ sáng mai xuất phát. Kế tiếp là Tôn, Ðại Đội 1, Lượm Ðại Đội 2, tiếp theo là Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cùng Ðại Đội Chỉ Huy, sau cùng là Tòng Ðại Đội 4. Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là trường tiểu học Trần Cao Vân. Trước trường có thành Quân Cụ, vào khoảng một đại đội ta đóng ở đó, không biết còn hay mất.

Phán hỏi:

– Còn phi trường Thành Nội thì sao? Tình hình trong Ðại Nội, Thiếu Tá có nắm vững không?

– Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa Thành Nội tụi nó đều kiền và chốt rất chặt. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, cửa An Hòa, cửa Ðông Ba, Kỳ Đài Phú Vân Lâu v.v.. tụi nó đều chiếm hết.

Trong óc tôi, một bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân mà tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn và an toàn nhất cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới trường Trần Cao Vân, nơi từ 9 tuổi đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy hoa và mộng, nay tôi đang tìm một con đường không có máu để cho anh em chúng tôi đi.

Tám giờ sáng, tất cả gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước đường từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó Mạ tôi, dì tôi, chị tôi và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị gì không?

Thiếu Uý Duật, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 dẫn đầu. Duật xuất thân Khóa 21 Ðà Lạt, hăng say, gan, thích xóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít, chỉ phá mồi. Phán và Ban Chỉ Huy Đại Đội kế tiếp. Thiếu Uý Nghênh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 tiếp theo. Nghênh xuất thân từ “Commando Du Nord”, kinh nghiệm, gan lỳ, thích đánh phé nhưng đánh nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Kế đến là Thượng Sĩ Nhất Mã Khện, Trung Đội Trưởng Trung Đội 3, xuất thân Commando trong Nam, rất gan lỳ, ít nói, mê rượu, không mê gái. Sau cùng là Thượng Sĩ Nhất Hải, Trung Đội Trưởng Trung Đội súng nặng. Hải xuất thân “Commando Du Nord”, người Nùng, lỳ lợm già dặn chiến trường, không rượu, không gái và không thuốc lá.

Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở, thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Ðội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping Pong… Những tiếng nói đó đây:

– Anh Phán đó tề! Anh Phán! Anh Phán…

Tiếng gọi lớn dần và lan dài suốt con đường tôi đi.

Con hẻm sát hồ Tịnh Tâm là đường vào nhà tôi. Mạ tôi đó, dì, chị và em tôi đó, xao xuyến quá! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như mưa. Thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt:

– Mi chạy mau vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi.

Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị thiên đường:

– Con xức cho khỏi gió.

Lính đi ngang hỏi nhau:

– Mạ Ðại Úy sao đầu trọc lóc vậy bây?.

– Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy.

Phán và âm thoại viên vẫn còn dừng lại:

– Nhà mình có răng không Mạ? Bà con thân thuộc có ai bị chi không?

– Nhà ông Quế chủ quán Chiêu bị trúng hai trái nhưng người thì không răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chỉ không biết đi mô.

Chỉ là bạn tôi xuất thân Khóa 17 Võ Bị Ðà Lạt. Tôi xót xa đắng miệng:

– Thôi con đi, Mạ và gia đình đừng lo cho con.

Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán tiếp tục vang lên cho đến giữa hồ Tịnh Tâm.

Tiếng gọi, giọt nước mắt và những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm của tôi. Bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người, tôi và hai âm thoại viên vượt lên đi với trung đội đầu.

Cuối hồ Tịnh Tâm là đường Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo tay mặt theo đường lên nhà ông Ngự Ðạt. Như vậy bên hông mặt của con cái tôi lúc nào cũng có bức thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo trái là trường tiểu học Ðoàn Thị Ðiểm, nhưng tôi không đi con đường này. Tiếp tục đi thẳng qua một con hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn cắp me, nào trộm sấu, nào hái xoài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm người yêu… Con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu khôn quên.

Ðến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Thành Nội dân chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già mách:

– Con đường ni bị bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình ở Ðại Nội bắn ra.

– Còn sân bay Thành Nội ra sao ôn, có ai khôn?

– Ðánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui không biết răng, không biết mình hơn hay thua nữa.

Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật: Băng qua khỏi con đường này, đến một xóm nhà, qua một cái cống thì bên trái là thành Quân cụ. Nghênh và Mã Khện yểm trợ hông mặt cho Duật, và sau đó băng qua đường theo tôi. Con đường chỉ có 5 thước mà hơn một giờ mới vượt qua với 6 thằng em rớt rụng trên mặt đất. Lần mò theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, phi trường vắng tanh. Tôi bảo Duật:

– Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia cống, sau đó cho tất cả con cái mày qua rờ vào thành Quân Cụ, chờ tau lên.

Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với bên trong. Tất cả con cái nằm sát thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng thoáng thấy nón sắt, Field -Jacket, giây ba chạc, không phải tụi nó đâu, chắc chắn là bạn rồi. Thằng đệ tử tôi gọi lớn:

– Ê! Thủy Quân Lục Chiến đây.

Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào tới trong đồn, ông trưởng đồn nói tiếng Huế đặc sệt, ông là Trung Uý Cát, thủ môn nổi tiếng của Huế:

– Ðại Úy ơi, 7 ngày không ra vào nổi, nó bao hết. Trường Trần Cao Vân, Ðại Nội, xóm nhà trước mặt và bao quanh đồn tụi nó chốt hết. Nhà bảo sanh sau lưng trường cách một cái hồ tụi nó cũng chiếm luôn. Dân chúng chạy hết rồi, không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không cho ngóc đầu được, đủ loại: 61, 82 hỏa tiễn 107, 122. Tôi ráng cố thủ đây được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không biết tình hình các nơi khác ra răng.

Tôi trở ra báo cáo về Tiểu Đoàn, lệnh của Tiểu Đoàn Trưởng:

– Phu Nhơn chiếm cho bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh. Tiểu Đoàn Trưởng và Bộ Chỉ Huy sẽ lên ở trại Quân Cụ. Quan sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái am lên đồng, bên cạnh là quán hớt tóc lợp tranh chỉ có một ghế ngồi. Sát đó là ngã ba đường, một đường chạy lên cửa Sập, một chạy về trường Ðào Duy Từ và một chạy đến trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lố nhố bên trong trường. Duật phải chiếm am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B.40. Tôi ra lệnh Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong am không một tổn thất. Tôi gọi Thượng Sĩ Hải đem hai đại liên và một 57 không giật lên tăng cường cho Duật để Duật yểm trợ cho Mã Khện vào trường. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh nghiệm, Mã Khện đã chiếm được một lớp của trường. Nghênh tràn vào cùng với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ. Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học, không sao, có thành của các lớp học che chở.

Tôi kêu Sự :

– Pháo binh có chưa? Kêu về đại bàng Thanh Hoá cứ bắn vào góc thành cho tau.

Ðến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có 7 đã lót đường cho mục tiêu đầu và 3 bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây 57 đến:

– Nhắm ngay vào góc thành, tụi nó bắn rát quá cứ “phơ” cho tau, trật trúng gì không cần, chỉ cần tiếng nổ.

Qua một vạt đất trống, trong một ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló. Duật quay 57 nhắm thẳng:

– Nhột quá, cho em bung cái nhà này đi.

Tôi bỗng thấy có bóng đàn bà, tôi la lớn:

– Khoan bắn, nhà thầy Tiềm.

Rồi tôi băng qua đám đất trống đến nhà gặp cô và các cháu. Không thấy thầy, tôi chào cô và giới thiệu tôi học Sử Địa với thầy ở trường Bồ Ðề và khuyên cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ này vẫn chưa có pháo, làm sao khóa góc thành đó lại. Duật bảo con cái đào hầm hố thật kỹ, tôi dặn:

– Mày cố thủ tại đây cho Tiểu Đoàn lên.

Tôi cùng đám đệ tử lúp xúp chạy đến tiệm hớt tóc để quan sát ngã ba đường và góc Thành Nội. Tôi chợt nghe tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nửa phần thân thể, vừa bị thương nặng lại vừa sanh ra một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé, trông giống như con rắn mối. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đứa bé ngay và chuyển người mẹ về đồn Quân Cụ cho bác sĩ Tựu cứu giúp.

Ðến lúc ấy đại đội tôi đã có 13 chết, 3 bị thương nặng để trải thảm cho đơn vị.

Tối đó, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn Trưởng cho Ðại Đội 2 của Tôn và Ðại Đội 1 của Lượm dưới sự chỉ huy của đại ca Ðã, Tiểu Đoàn Phó, chiếm nhà bảo sanh. Ðoạn đường có 30 thước, cách một hồ nhỏ mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu. Sau 8 tiếng đồng hồ mới chiếm được nhà bảo sanh, Tôn bị thương ngay từ phút đầu, Lộc Ðại Đội Phó lên thay.

Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường rộng vừa đủ cho xe chạy mà hai bên đều khựng. Mưa vẫn rơi ray rức lê thê, thỉnh thoảng cơn gió thật lạnh thổi qua. Có những trận tấn công chớp nhoáng của địch vào Ðại Đội của Lượm và Lộc đều bị đánh bật lui. Ngược lại ta cũng nhiều lần cố tràn qua bên kia nhưng không chiếm được thêm một tấc đất. Hai bên tải thương đều thấy nhau rất rõ. Lượm bị hao hụt nặng, Phu Nhân lên thay. Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên là đạn bắn xuyên mũ sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm. Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu Đoàn. Tối đến pháo địch đủ loại nổ vang trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường, sình lớn mà không lấy được. Phía bên kia bốn năm xác địch vẫn để yên, tụi nó cũng không dám ra lấy về. Cố giữ đất, giữ vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.

Từ căn nhà hai tầng cuối đường nhìn xéo từ nhà bảo sanh, một thượng liên và và trung liên nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con gái mặc áo choàng màu xám, tóc xỏa dài nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa con gái chỉ tới đâu thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn hai phát M16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.

Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bị bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy chửi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo của tụi nó:

– Bồ câu hết thóc!

Tôi nghĩ ngay tụi nó đang thiếu đạn, nếu cứ nằm như thế này, một lúc nào đó tụi nó tập trung tấn công, mình cũng sẽ bị mất vị trí ngay, chỉ vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi đi đến kết luận riêng: “Nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công mình”. Tôi trình với Tiểu Đoàn Trưởng:

– Thiếu Tá cho tôi luôn thằng 2 để tôi tấn công tụi nó. Tôi thấy tinh thần anh em xuống quá và sức khỏe ngày càng hao hụt.

Tiểu đoàn trưởng không cho, bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhơn năn nỉ:

– Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường đánh đột kích rồi rút về. Mình phải chứng minh cho tụi nó thấy mình còn đủ sức chơi tụi nó, thời tụi nó không dám tấn công mình.

Tiểu đoàn trưởng nói:

– Làm kế hoạch xong cho tôi hay.

Tại hầm của tôi anh em đang chờ, họ gồm: Lộc Ðại đội 2, Sự Ðại đội phó của tôi, Duật, Nghênh và Mã Khện. Tôi nói:

– Nằm chờ lâu tau chán quá, chỉ muốn qua đột kích tụi nó rồi rút về.

Tất cả im lặng, tôi tiếp:

– 4 giờ sáng mai mình đột kích, nếu giữ được vị trí thời tau cho tràn luôn. Bây giờ tau chọn 4 toán:

Toán 1: Phán, Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy.

Toán 2: Duật và 3 người thật nhanh và gan dạ.

Toán 3: Nghênh và 3 người.

Toán 4: Thượng Sĩ Nhất Hải và 3 người.

Tất cả trang bị thật nhẹ: mỗi người 20 quả lựu đạn và hai băng đạn cong ráp ngược cho M16.

Sự và Lộc dẫn con cái ra sát bờ đường, khi thấy khói xanh thì lùa tất cả tràn qua. Nếu thấy khói màu vàng, yểm trợ tối đa cho tụi tau dọt về. Sự và Lộc hãy về lo cho con cái, đúng 4 giờ sáng sẵn sàng tại vị trí.

Duật, Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết:

– Tau theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn. Do đó tau quyết định cuộc đột kích hôm nay.

Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:

– Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi. Riêng ông Hải, tôi cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần này đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở lại vị trí tôi cho phép và tôi hứa rằng tôi không nghĩ là ông thiếu can đảm.

Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:

– Ðại úy cho tôi ở lại vị trí.

Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo Hạ Sĩ Nhất Mười. Tôi tiếp:

– Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi.

Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị. Chiều hôm đó, lúc 4 giờ, các toán trưởng lên gặp tôi, có thêm Trung Úy Sự. Tôi hỏi lần chót:

– Có ai xin ở lại cho tôi hay.

Không ai trả lời. Tôi căn dặn Sự nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao và khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa ba toán trưởng bò đến hầm trú ẩn của nhóm tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:

– Cái thứ nhất gần ngã tư là mục tiêu của tau, cái thứ hai kế tiếp có hàng rào là của Nghênh, căn thứ ba cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn thứ tư có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hãy quan sát cho kỹ và cố chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo miễn sao thích hợp thôi.

Tôi tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi. Căn nhà bằng gạch có nhà trên và nhà dưới, kế đó là cầu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xi măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải làm gì để chiếm căn nhà đó. Tôi quay lại nói:

– Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không? Ðúng 4 giờ sáng mai tôi sẽ chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách phải hốt cho bằng được các mục tiêu tôi ấn định.

Trở lại vị trí, tôi dặn dò Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy:

– Tối nay miễn gác, 3 giờ sáng mai gặp tau ở đây.

Sau đó tôi đi gặp Tiểu đoàn trưởng để trình bày kế hoạch. Ông nói:

– Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ!

Tôi nói:

– Nếu Thiếu Tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa tụi nó chỉ cần ho là lính mình chạy hết.

Cuối cùng ông chấp thuận:

– Nhớ là có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt.

Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có gì ngoài đoạn đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới rồi chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ triền miên cho đến 3 giờ sáng.

Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc ăn. Bốn giờ kém mười sáng, toán tôi có mặt tại tiền đồn.

Trời vẫn mưa, mưa xứ Huế có dư âm cái lạnh của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau. Gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn tối mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được. Chuẩn bị! Tôi cảm thấy hồi hộp, chỉ cần bốn cái nhảy vọt là qua bên kia đường nhưng khó như đi lên trời vì con đường này là con đường tử thần làm ranh giới bên ta và địch, là hai mươi ngày trời không nuốt nổi 5 thước đất. Rách nát bao nhiêu cũng vẫn không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị, phải hy sinh để cứu đồng đội.

Vừa suy nghĩ xong, tôi phóng vụt qua ôm bờ giếng. Kế tiếp là Ðiểu, Việt, Can, Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành giếng, mồ hôi ra như tắm mặc dù trời lạnh như cắt. Ðiểu và Can chiếm cầu tiêu. Bỗng một loạt đạn thật giòn và thật gần, tôi quay nhìn ra đường. Phúc và cái máy nát mình nằm trên mặt đường nhựa, dưới làn đạn mịt mùng của địch. Tôi hét lớn:

– Dư, Việt chiếm nhà bếp.

Tôi theo sát lên cầu tiêu bên cạnh Ðiểu và Can. Súng và pháo nổ dồn dập, một B.40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miểng nhỏ đâm đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá nên tôi cùng Ðiểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:

– Ðiểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ. Ðể Việt ở lại, tôi và Can cũng lên nhà trên. Ðiểu và Can giữ cửa chính nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sổ nhìn ra vườn có nhiều luống khoai lang.

Trời sáng hẳn, tôi lắng tai chẳng nghe nhà bên cạnh có gì cả bèn bò trở ra bờ giếng và thấy Duật, Nghênh, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát mồ hôi. Tôi nhìn thẳng vào mấy ổng rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi không dám gọi lớn tiếng, mấy ông kia gật đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn, súng nhỏ, súng lớn nổ khắp nơi và nhất là bên phía tay mặt tôi. Tôi biết rằng tụi tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:

– Thấy gì không Dư?

Dư lắc đầu, tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài. Tôi đoán khoảng 7-8 người đang ở trong một cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào ào vào cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về phía các luống khoai, tôi đếm đủ 11 người đang bò qua, kaki Nam Ðịnh, súng AK và B.40, cách vách tường khoảng 20 thước, 15 thước rồi 10 thước. Tôi đưa súng lên lên định bóp cò thì Dư kéo lại và ra dấu dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt. Dư cũng thế, bốn lựu đạn ném ra cùng lúc, tiếng nổ xé trời, rồi bốn trái tiếp theo. Bên ngoài tường, tiếng hét lớn rồi tiếng rên và sau đó im lặng, tụi còn lại bò sát vào chân tường. Nhìn ra cửa, 5 xác nằm vắt trên luống khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:

– Chết em, Ðại uý!

Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay mặt đầy máu, ruột của Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ, nơi Dư đứng có một lỗ hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới: nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát bụng Dư mà nhả đạn. Tôi bắn một loạt M16 ra cửa sổ, và cứ thế hết quả này qua quả khác tôi ném tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường.

Hai thằng em đã hy sinh, còn bốn thầy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải của tôi, súng vẫn nổ dữ dội. Ðến 10 giờ 30 sáng tôi cho Ðiểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Ðiểu băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau mười phút đi bộ mà hơn một tiếng đồng hồ sau Ðiểu mới về báo cáo là tất cả đã chiếm được mục tiêu. Có đoạn đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi!

Toán Duật: một chết một bị thương.

Toán Mã Khện: hai chết.

Toán Nghênh: một chết một bị thương.

Tất cả là 6 chết 2 bị thương, chúng tôi còn lại 11 người tại tuyến.

Ðiểu bò ra giếng cố đem qua cho tôi một cái máy. Cột máy vào một đầu dây và quăng đầu dây kia qua cho Ðiểu kéo. Can mờ máy liên lạc với Tiểu đoàn:

– Trình đại bàng, tôi sẽ cho tràn ngập vị trí với thằng 2 của Lộc và thằng 3 của tôi.

Ðại bàng hỏi:

– Tại sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về ngay.

Phán nài nỉ:

– Ðây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin đại bàng cho làm luôn.

Ðại bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:

– Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự.

Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói xanh. Suy nghĩ thật kỹ. Suy nghĩ thật kỹ. Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, bốn căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da và mồ hôi vẫn ra như tắm.

Cuối cùng tôi đành bảo Ðiểu chuyển lệnh cho các toán:

– Rút về ngay, mạnh toán nào rút toán nấy, không chờ đợi. Mang thương binh theo, xác chết bỏ lại.

Năm thước đường đi đã khó, về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bao phía, đan lưới thật dày trên mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây? Con cái bên kia đường đưa mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như sao xẹt, nhào vào bờ lề và được anh em kéo ra sau. Ðạn nổ dòn tan cày nát mặt đường. Ðây là mấy đứa bị thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng khi nghe lệnh rút chúng thu hết tàn lực vùng chạy về, chớp mắt không kịp thấy.

Hỏa lực 3 phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi. Các toán đột kích không còn liên lạc với nhau. Ðiểu và Can vẫn giữ căn nhà. Ðịch kiểm soát con đường bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của Khăn Tím và của 2. Tôi lấy chân đạp vào thành giếng phóng người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vội tôi ra sau, tôi dừng lại bảo Lộc và Sự bắn từng loạt một để tụi nó dọt về.

Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trố mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi hộp xót xa cho mấy thằng em. Tôi vừa quay mặt hét:

– Bắn kềm mấy cây thượng liên.

Những bóng người bay vọt qua đường. Tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù. Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em. Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả. Can và Việt nhào đến ôm tôi một cách dữ dội mà đậm đà trìu mến. Lính với tay sờ người, nắm nhẹ áo tôi:

-Ðại Úy, tóc và râu Ðại Úy cháy hết rồi, mặt bị dăm nhiều chỗ.

Cả Ðại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện và sung sướng. Tôi báo cáo Tiểu đoàn:

– Tất cả đã về vị trí.

Bỗng tôi thấy thiếu một cái gì, tôi nhìn Can và Việt hỏi:

– Thằng Ðiểu đâu?

Tụi nó nói:

– Lần cuối cùng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm Ðại Úy ở bên ấy.

– Thôi chết tau rồi, tau phải cứu nó, hai thằng bây theo tau.

Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng, phóng nhanh qua đường, nhào lăn vào vị trí và la lớn:

– Ê, tụi bay thấy anh Hai đâu không?

Ðiểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Ðiểu:

– Tau định qua kiếm mày đây.

– Trời anh Hai, tụi nó nói anh Hai chết rồi. Em đi lục hết căn nhà mấy chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè mà không thấy xác anh Hai đâu. Hôm trước Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát bên cạnh anh Hai, nếu có gì cũng phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ.

Tóc tai mặt mày râu ria Ðiểu cháy nám, áo quần rách bươm, nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẻn lẻn cúi đầu hai hàng nước mắt lã chã giọt xuống đất. Trong một cuộc chiến bạc bẽo lại có chút tình nghĩa trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi. Sáu giờ chiều, xuống trình diện Tiểu Đoàn Trưởng, ông nói ngay:

– Ông làm chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ Đoàn?

Tôi dạ dạ vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:

– Thưa Thiếu Tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị trí tụi nó. Cho tôi thêm thằng 2 của Lộc, để thằng 1 của Lượm đi sau thu dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu Tá cho tôi hai chiếc tank kèm hai bên hông của tôi.

Ông hỏi:

– Có chắc ăn không Phán?

Tôi cương quyết:

– Chắc, và nếu tràn được vị trí Thiếu Tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ Ðài nếu kịp thời gian.

Tôi theo Tiểu Đoàn Trưởng lên trình ông Già Hự, Ðại Tá Yên Tư Lệnh Phó. Ông già chấp thuận.

Tôi trở về họp các trung đội trưởng:

– Ngày mai, 8 giờ sáng, Ðại Đội 3 Khăn Tím bên trái, Ðại Đội 2 của Lộc bên phải, dàn hàng ngang lấy con đường lên cửa Sập làm chuẩn tiến song song. Sau khi hai chiếc tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai đại đội xung phong tràn ngập vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thâu chiến lợi phẩm, để Ðại Đội 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả ba lô và đồ ăn để lại, trang bị thật nhẹ, Khi tới xóm nhà sát cửa thành thì dừng lại chờ tôi.

Ðúng 8 giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc tank Ontos hạng nặng tiến lên, mỗi chiếc trang bị 6 cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí tác xạ cho hai trưởng xa người Mỹ rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 ly này sẽ san bằng mục tiêu trước mặt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi chiếc tăng chỉ bắn một phát đạn duy nhất rồi chạy lùi biến mất, không biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khản cả cổ:

-XUNG PHONG!

Cả một đoàn quân dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích.

Con đường trước mặt, con đường của 21 ngày máu và nước mắt, con đường tráng nhựa đẹp đẽ nhưng băng qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chửi thề lung tung rồi chụp cây đại liên M.60 của người lính bên cạnh bắn một loạt dài rồi một mình tôi vừa bắn vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can , Việt, Ðiểu và hai thằng mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ dòn. Ðúng lúc ấy cả đoàn quân đồng thanh hô xung phong và ào qua đường. Sau đó, đoàn người vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn quân tiến đều, M16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, bang chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, đàn áp thật mãnh liệt và chạy tới trước. Ðến 3 giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát cửa Sập.

Lính vỗ vai nhau cười làm tôi bắt cười lớn vì xóm nhà này rất quen thuộc với họ. Lính thường hay đến xóm này rồi về kể nhau nghe con này đẹp, con kia chân dài, con nọ… Nào khăn, nào thau vứt bừa bãi khắp nơi. Lính vui vẻ kể chuyện tục cho nhau nghe và hồn nhiên đùa nghịch. Những tiếng cười đầy ham muốn và thèm thuồng, hơn 40 ngày, từ vùng 4 về giải tỏa Sài Gònrồi ra đây, không thấy mặt một người đàn bà, chỉ thấy toàn máu và mồ hôi. Tôi ra lệnh:

– Lộc và Sự mỗi ông cho 1 toán 10 người băng nhanh đến sát mặt thành rồi ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán này đồn đồn lên thành. Khi bám được mặt thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vị trí để làm đầu cầu.

Con cái tôi hành động đẹp còn hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc thành.

Một chặng đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng: Kỳ Ðài Huế.

Ðây là nơi tượng trưng cho linh thiêng của dân tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật và 20 người tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện chiếm Kỳ Ðài.

Ðịch bắn trả. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và thần tốc tiến vào Kỳ Ðài. Phản ứng của địch bắt đầu yếu, 5 giờ 12 phút chiều, màu áo rằn ri Thủy Quân Lục Chiến đã làm chủ Kỳ Ðài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng đầy hận thù còn ở trên không. Một thằng em rút đâu trong người ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu đoàn:

– Tất cả đã sạch sẽ, xin Thiếu Tá cho tôi treo cờ.

Tôi nhớ rõ lệnh của Trung tướng Lê Nguyên Khang:

– Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại cho được ngọn cờ vàng tại Phú Vân Lâu.

Trong niềm vui cùng tột, Hạ Sĩ Hạnh hét lớn: “Thủy Quân Lục Chiến”, xong lấy trái hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn mừng. Trong cơn say chiến thắng, Hạnh xoay ngược hỏa châu vào mình, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười tươi:

– Em không sao Ðại Úy.

Phán nghĩ thằng em này tỉnh táo quá, chắc nó chết, và nó chết thật.

Tiểu Đoàn Trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ.

(Sau này tôi được nghe: Khi báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự treo cờ cho Sư Đoàn 1. Sáng hôm sau ngày 24/2 Phạm Văn Ðính dẫn một đơn vị của Sư Đoàn 1 từ cửa Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.)

Nhìn lá cờ vàng phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện thật sự vì một thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn cờ này.

Trung úy Sự trình tôi:

– Thằng Hạnh chết, mình còn 67 người.

Ðại đội ra đi hơn 17O người, sau 24 ngày và sau bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có 3 mục tiêu: con đường, cửa Sập và Kỳ Ðài mà bây giờ tôi chỉ còn lại 67 người.

Sáng hôm sau tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu vực cửa Ðông Ba, Nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngã tư Anh Danh. Ban chỉ huy của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệm này có Tôn và Lưu cùng học một lớp với tôi hồi nhỏ. Trong nhà không còn ai cả.

Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẩn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lệnh lục soát tàn quân địch. Lính canh bắt giải tới một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.

– “Lệnh giới nghiêm, đã 11 giờ đêm sao ông này còn lang thang trên hè phố, em nghi quá,” Người lính nói.

Tôi sững sờ nhìn người đàn ông. Thầy Cao Hữu Triêm!

– Trời ơi Thầy!

Tôi gọi mấy tiếng lớn mà thầy cũng không nghe, thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi cầm tay mời thầy ngồi:

– Con là học trò cũ của thầy đây.

Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:

– Ờ, ờ sao con khỏe không? Thầy mấy ngày ni chưa ăn chi cả.

Lính tôi kiếm cơm trắng và một đĩa gà luộc về mời thầy xơi. Tụi nó còn kiếm được một bình trà nóng mời thầy. Sau một hồi thầy tỉnh táo, và cho biết: cô và sắp nhỏ vào Ðà Nẵng, thằng con lớn bị chết rồi, thầy không muốn về nhà nữa. Rồi thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo. Tôi nói:

– Thôi thầy ở đây với con cho yên.

Lính của tôi thay nhau hầu hạ thầy ân cần, đến ngày thứ tư thầy đòi đi, tôi thu xếp để thầy vô Ðà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức của thầy. Cầu mong thầy được bằng an.

Ðược sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả kẻ thù để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ Ðài tượng trưng cho Huế. Hai mươi năm sau, hồi tưởng lại, máu và xương kia đã theo dòng Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ!

Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Ðô đó, cũng Kỳ Ðài đó, cho tôi được góp phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu và nghĩa nặng, nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người.

KHI TÔI CHẾT ĐỪNG ĐƯA TÔI RA BIỂN

Tác giả: Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh

Để đêm nghe vang dội khúc quân hành

Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Ben Het, Dakto

Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ

Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu D

Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề

Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi

Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời

Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Trả tôi về với dân tộc Việt Nam

Gói thân tôi ba sọc đỏ nền vàng

Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi

Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

Posted in Hồi ký chiến trường | Leave a comment

Nhảy Dù và Cổ Thành Đinh Công Tráng

Trương Đăng Sỹ

Kính gởi Niên Trưởng Giao Chỉ (San Jose)

Nhân đọc được bài “Trong đêm đen chợt thấy ánh mặt trời” của Niên trưởng, tôi đã quyết định cầm lại cây bút. Nặng nề, đắn đo, suy nghĩ suốt mấy đêm liền …

Sau cùng tôi thấy mình có trách nhiệm phải nói lên một sự thật của lịch sử và nhất là vinh danh những chiến hữu, những đệ tử thâm tình đã vĩnh viễn nằm xuống bên bờ Cổ thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị) vào mùa Hè đỏ lửa 1972.

Ngắn gọn để tự giới thiệu với Niên trưởng, tôi là cựu Thiếu Tá Trương Đăng Sỹxuất thân Khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Dalat, Đại Đội trưởng Đại Đội 51 Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, được Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 trao trọn trách nhiệm tổng chỉ huy điều động lực lượng tiền phương tiến chiếm Cổ thành Quảng Trị vào năm 1972. Hiện nay, tôi đang sinh sống tại Sydney, Australia.

Với tư cách và danh dự của một Sĩ quan xuất thân từ trường Võ Bị, tôi dám quả quyết với các niên trưởng rằng tôi sẽ nói hoàn toàn sự thật sau đây vì nó có tính cách lịch sử, mà theo tôi lịch sử phải là sự thật, đó là chân lý, đừng bẻ cong ngòi bút, đừng che dấu và đừng đánh bóng cá nhân, nhất là những người không trực tiếp tham dự cuộc chiến.

Tôi được tham dự tất cả những trận đánh lừng danh trong quân sử của Việt Nam Cộng Hòa, từ năm 1966 mãi đến ngày mất nước 30/4/1975. Với tư cách là một sĩ quan thuần túy tác chiến, đi bộ, cầm bản đồ, địa bàn, tay bấm Combiné từ Campuchia qua Hạ Lào, An Lộc, Quảng Trị, có thể nói chưa bao giờ thất bại, nhưng chua cay và gay cấn nhất là Cổ thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị). Sau đây là diễn tiến trận đánh.

Tôi đồng ý với Niên trưởng ở điểm là hôm nay làm thế nào chúng ta phải có bản đồ trận liệt Quảng Trị, cũng như phóng đồ Hành quân tái chiếm Quảng Trị. Nếu không chúng ta cũng còn lẩn quẩn trong những nét đại cương.

Nói riêng về trận tái chiếm Quảng Trị, tôi biết có rất nhiều người yêu cầu cũng như mong muốn tôi phải lên tiếng, nhất là bên ban quân sử Mũ Đỏ. Nhưng tôi vẫn im lặng, im lặng gậm nhấm tất cả những đau thương chua chát. Im lặng để tôn trọng những người viết trước – những vị này đều không trực tiếp tham dự trận đánh. Từ Phan Nhật Nam, Trương Dưỡng, Trịnh Hữu Ân, đến Kiều Mỹ Duyên trong Chinh Chiến Điêu Linh …Chỉ có một bài làm tôi để ý là bài của Đại úy Hồ Tường, Đại Đội trưởng Đại Đội 52 trong Đặc san Mũ Đỏ, nhưng rất tiếc Hồ Tường cũng bị thương sớm, hơn nữa là đàn em nên tôi hiểu rất rõ Hồ Tường đầy đủ khả năng uống rượu, quậy phá và đánh giặc hơn là khả năng viết lách. Đại úy Trương Văn Út (Út Bạch Lan) cũng trường hợp tương tự.

Tôi rất mong lá thư này đến trước khi cuốn phim tài liệu về trận đánh mà quý Niên trưởng sắp thực hiện, mục đích là vinh danh các chiến hữu đã nằm xuống bên bờ Cổ thành, vinh danh Binh chủng Nhảy Dù đã đổ quá nhiều xương máu cho một mục tiêu mà quả là cục xương khó nuốt, nhưng lại ảnh hưởng quá lớn trên trường chính trị. Ước mong quý Niên trưởng tôn trọng máu xương của các chiến hữu và máu của cả tôi đã đổ quá nhiều cho cuộc hành quân này. Tôi có tật bẩm sinh trong đời binh nghiệp là không tranh giành chiến công vì quan niệm tất cả là của chung, của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng như không đổ lỗi cho bất cứ một thất bại nào.

Trở lại diễn tiến cuộc hành quân, ngày N có lẽ là ngày 28/6/1972, sau hai tháng tử thủ An Lộc, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù được không vận ra phi trường Phú Bài Huế để nhập cuộc. Toàn bộ Sư Đoàn tiến theo Quốc lộ 1 qua Hải Lăng, Triệu Phong, vượt qua Đại lộ kinh hoàng tiến về hướng La vang thượng.

Qua bao nhiêu ngày tiến quân, dưới sự yểm trợ tối đa của phi pháo và đầu đội mưa pháo của địch quân, Đại Đội tôi cũng vào được Nhà Thờ La vang và tạm ngủ tại nghĩa trang một đêm để sáng hôm sau tiến chiếm mục tiêu làng Như Lệ.

Nhưng sáng hôm sau, tôi được lệnh bàn giao khu vực La vang lại cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Thiếu tá Lê Văn Mễ băng qua Quốc lộ 1 và tiến về hướng làng Trì Bưu để từ đó làm bàn đạp tiến thẳng lên Cổ thành Đinh Công Tráng.

Tôi nhớ rõ đêm hôm đó, trong tiếng pháo ầm vang của ta và địch, Trung tá Nguyễn Chí Hiếu cho họp Ban Tham mưu và các Đại đội trưởng để ban lệnh hành quân mới. Bên cạnh bản đồ và sa bàn Cổ thành Đinh Công Tráng, Trung tá Hiếu cho biết Tiểu Đoàn 5 được vinh dự nhận nhiệm vụ bằng mọi giá phải chiếm lại cho bằng được Cổ thành. Sau khi phân tích tình hình địch và bạn, phân chia nhiệm vụ, Trung tá Hiếu trịnh trọng hai tay cầm lá Quốc Kỳ trao cho tôi và ông nói:

– “Đây là tất cả vinh dự của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và của Binh chủng Nhảy Dù, tôi đặt tất cả tin tưởng vào anh. Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, tất cả tiền quân đặt dưới quyền điều động của anh.”

Tôi đưa hai tay nhận lá Quốc Kỳ nửa hãnh diện, nửa lo âu. Nói có vong linh Trung tá Hiếu: ông đã đặt tôi vào cảnh còn hơn Thái tử Đan, tiễn Kinh Kha qua sông Dịch.

Trong phiên họp, ông còn đề nghị dùng dây để leo lên thành, đánh như lối La Mã ngày xưa. Sau đó ông trao cho tôi một cái máy hình chữ nhật khoảng 2 tấc x 4 tấc của Mỹ, ông căn dặn trong trường hợp tuyệt vọng, bấm vào nút đỏ ngay lập tức, Không lực Hoa kỳ và hải pháo từ Đệ thất hạm độ sẽ hủy diệt mục tiêu, kể cả quân bạn. Cho đến hôm nay tôi vẫn chưa hiểu đó là chiếc máy gì? Sau này, có lúc gần như tuyệt vọng tôi định đem ra xử dụng, nhưng nghĩ còn đến bao nhiêu sinh mạng dưới tay, sinh mạng của con người đó! Ngần ngại rồi lại thôi. Đêm hôm đó, không thể nào chợp mắt. Tôi chưa bao giờ từ chối bất cứ nhiệm vụ nào, nhưng linh cảm phải hy sinh rất nhiều xương máu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”.

Nỗ lực chính đi đầu là hai đại đội 51 và 52. Sau hai ngày di chuyển ngày đêm, vượt qua một con sông nhỏ, trước mặt là cánh đồng trống, bên kia cánh đồng là làng Trì Bưu. Tôi biết trong làng địch quân bố trí chờ sẵn…lực lượng không biết bao nhiêu nhưng có cả 12 ly 8, cối 61 và 82 ly.

Đặt ống dòm nhìn mục tiêu làng Trì Bưu, tôi gọi Hồ Tường đến ra lệnh cho một trung đội thật mỏng chiếm nghĩa trang giữa cánh đồng làm bàn đạp. Điều chỉnh xong phi tuần A37 xuống đúng mục tiêu, xin thêm 20 tràng (T.O.T = Time on Target). Sau đó là mười tràng đạn khói bao trùm làng Trì Bưu. Liền sau đó, xử dụng 3 trung đội hàng ngang xung phong cộng với 2 trung đội sẵn sàng tiếp ứng. Binh sĩ vừa bắn vừa hô xung phong, đẹp hơn ciné chiến tranh.

Chịu không nổi hỏa lực khủng khiếp của phi pháo ta, địch tháo chạy bỏ lại chiến trường 6 xác chết mặc đồ kaki Nam định, chân dép râu, đầu đội nón cối.

-“Trình 501, tịch thu 1 khẩu 12 ly 8, 1 cối 82 ly và một số AK47 và B40 …”

– “Tập trung lại tại chổ, tất cả bung rộng lục soát, cẩn thận tối đa.”

– “Nhận rõ 501, 5 trên 5.”

Từ làng Trì Bưu, về hướng Tây Bắc, mục tiêu kế tiếp là Nhà Thờ Trì Bưu. Tôi và Hồ Tường song song bung đội hình từng bước tiến lên, nhường làng Trì Bưu lại cho Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn. Đoạn đường từ đây đến Nhà Thờ Trì Bưu khoảng vài trăm thước cũng không phải dễ đi

Tôi đã xử dụng tất cả hỏa lực yểm trợ: 18 khẩu 105 ly, cơ hữu Nhảy Dù, 4 khẩu 155 ly, 2 khẩu 175 ly của Quân đoàn 1…

Ngày nào cũng có ít nhất hai phi tuần oanh tạc. Ban đêm, thỉnh thoảng còn được hải pháo từ Đệ nhất hạm đội bắn yểm trợ. Nếu cần thiết, còn được 18 khẩu 105 ly của Thủy quân Lục chiến tăng cường. Ngày nào ít lắm cũng có một hay hai lần bắn “T.O.T”.

Có lúc chúng tôi phải tiến quân trong mưa bụi của pháo binh, mục đích không cho địch quân ngóc đầu khỏi hố. Tôi áp dụng chiến thuật từng bước nhảy vọt. Hồ Tường tiến tới từ 50 đến 100m thì dừng lại bố trí, 51 tiến lên qua mặt 52, rồi lại tiến lên 50m đến 100m dừng lại hầm hố bố trí, cứ thế tiến dần …

Nhưng sức kháng cự của địch quân còn quá mạnh, nhất là bên cánh phải còn khu làng nhỏ sát bờ sông Thạch Hãn, địch bắn qua quá rát. Ban đêm đôi lúc chúng tôi còn nghe cả tiếng chiến xa địch.

Tôi quyết định xin thêm quân tăng viện và Đại đội 2 trinh sát của Đại úy Trương Văn Út (Út Bạch Lan) nhập trận. Tôi tung Út Bạch Lan qua bảo vệ sườn phải cùng song song tiến về hướng Cổ thành. Út Bạch Lan xông xáo, lanh lợi, gan lì ầm vang trong máy, nhất quyết dứt điểm mục tiêu.

Sau 7, 8 ngày quần thảo với địch quân, di chuyển ngày không được chúng tôi tiến ban đêm… và một sự tình cờ ngẫu nhiên, một tiểu đội đi lạc vào Nhà Thờ Trì Bưu. Nghe báo cáo, tôi bèn ra lệnh chiếm giữ và tung thêm quân vào lục soát, một cảnh tượng hải hùng thương tâm hiện ra trước mắt – dân chúng kẹt dưới hầm của Nhà Thờ hơn 100 người……già trẻ, bé lớn vừa đói khát vừa thương tật…….. Hầm trú ẩn nhà Thờ dày và kiên cố. Gặp chúng tôi, họ mừng vui ra mặt, một giọng Huế thân thương vang lên:

– “Mình được lính “con Ó” cứu rồi các ôn ơi !”

Tôi ra lệnh cho y tá săn sóc thuốc men và phát thức ăn tạm cho đồng bào, chỉ hướng cho họ đi về phía sau, gọi máy báo cáo cho TĐ tiếp nhận và xin thêm quân lên giữ nhà Thờ vì sợ địch cắt đứt đường tiếp tế tải thương. Đại đội 54 của Trung úy Nguyễn Đình Dương lên chiếm giữ. Dương sau này được lệnh thuyên chuyển về Phủ Phó Tổng thống. Ban Chỉ huy còn tăng cường thêm 1 đại đội của TĐ11 Nhảy Dù (Song kiếm trấn ải). Đại đội trưởng là Trung úy Đinh Viết Trinh. Lúc mới ra trường, Trinh về TĐ5 và làm trung đội trưởng cho tôi. Nghe tiếng Trinh trong máy, tôi thấy Trinh tiến bộ, gan lì, xông xáo hơn trước nhiều. Trinh tiến lên bên cánh trái chiếm nghĩa trang, từng ngôi mộ…..tiến về hướng Cổ thành. Bên trái là TĐ6 Nhảy Dù đang chiếm giữ căn cứ Compound của Mỹ để lại. Nhà ga Quảng Trị đã có Mê linh Thiếu Tá Lê Văn Mễ TĐ11 trấn giữ.

Có lần Hồ Tường đề nghị, nếu trường hợp bị địch dùng chiến xa và biển người cắt đứt đường tiếp viện giữa tiền quân và Bộ Chỉ Huy, chúng tôi sẽ có kế hoạch âm thầm di chuyển ban đêm về hướng TĐ6 Nhảy Dù. Dĩ nhiên tôi không chấp thuận lý do “Lá Quốc Kỳ chưa được tung bay trên Cổ thành”.

Hằng giờ, hằng ngày và hằng đêm, Thiếu Tá Lê Hữu Chí B3 và 101(Trung tá Nguyễn Chí Hiếu) gọi máy hỏi thăm và hối thúc liên tục. Tôi như ngồi trên đống lửa, thuốc lá và café đen liên tục…

Sức kháng cự của địch quân quá mạnh, thiệt hại nặng nhất cho tiền quân là đại pháo 130 ly từ dãy Trường sơn pháo xuống. Bên kia sông Thạch Hãn hỏa lực của địch bắn qua quá rát. Đại đội 2 trinh sát của Út Bạch Lan phải xử dụng sở trường dùng các toán trinh sát nhỏ chiếm từng ngôi nhà, lũy tre để tiến lên ngày và đêm…

Tôi và Hồ Tường cho tiền quân nhổ chốt bằng lựu đạn, đánh cận chiến và liên tục xử dụng phi pháo tối đa. Cho dù phải sinh Bắc tử Nam, những tên lính điên cuồng Cộng sản tuyệt đối không thể nào làm khác hơn vì chân đã bị xiềng chặt vào các ổ phòng không, đại liên hoặc súng cối. Mỗi đêm trôi qua đều hãi hùng, nặng mùi tử khí. Ban ngày khói lửa ngập trời. Cứ thế chúng tôi từ từ tiến bước….khoảng cách từ đây đến Cổ thành từ từ rút ngắn….

Sự thiệt hại càng ngày càng nhiều, những cán bộ nòng cốt lần lượt bị thương hoặc tử thương phải rời trận địa. Bao nhiêu tiền sát viên đưa lên đều lần lượt bị thương và tử thương, vì họ quá hăng lên ngay tuyến đầu để quan sát điều chỉnh, có đôi lúc tôi phải kiêm luôn tiền sát viên, nhưng muốn được yểm trợ phải xưng danh hiệu, các pháo đội trưởng Dù đều quen biết nên không trở ngại nhiều.

Vào một đêm tối trời, bên ngoài trời mưa lất phất, Út Bạch Lan gọi tôi qua tần số đặc biệt để báo cáo cho biết các toán trinh sát gần như tê liệt, đệ tử ruột thịt bị loại khỏi vòng chiến quá nhiều, thiệt hại đáng kể. Trong lúc tình hình địch mạnh lắm, đại pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly, phòng không 37 ly, hỏa tiển SA7, đại liên 12 ly 8, cối đủ loại tạo thành một bức tường hỏa lực dày đặc rất khó tiến quân. Bên kia sông Thạch Hãn, địch điều quân như chỗ không người. Út Bạch Lan lưu ý tôi nên thận trọng, báo cáo tình hình, xin thêm tăng viện. Nếu sườn bên phải bỏ trống, sẽ là một trở ngại và là nỗi lo âu to lớn cho tôi.

Sáng hôm sau, tôi gọi máy đề nghị với 101 cho Đại đội 2 trinh sát lùi về sau giữ điểm tiếp tế tải thương và xin thêm quân tăng viện. Trong cùng một ngày, 2 Đại đội của Liên đoàn 81 Biệt kích dù được phái lên tăng cường và nhập trận. Có lẽ Bộ Chỉ Huy hành quân quan niệm Biệt kích chuyên đánh từng toán nhỏ, sở trường chiến đấu trong thành phố và mới nổi danh ở chiến trường An Lộc. Nhưng thật sự với tôi có một trở ngại lớn trong vấn đề phối hợp và điều động chỉ huy. Vì hỏa lực của địch quá mạnh, nên 2 Đại đội 81 Biệt kích dù tiến hơi cẩn thận đôi lúc bị cầm chân tại chỗ.

Trong lúc Út Bạch Lan điều động Đại đội 2 Trinh sát lùi về sau thì bị chốt của địch khai hỏa dữ dội ngăn chặn, địch đã cắt đứt đường tiếp tế tải thương. Tôi nói với Út với bất cứ giá nào cũng nhổ cho bằng được các ổ kháng cự này. Tôi xin phi tuần Skyraider mang bom xăng đặc Napale và quyết định đánh sát cận rất nguy hiểm. Hai đầu là quân bạn, địch cắt ở giữa, phải làm thế nào đây ?

Tôi hỏi Út dám chấp nhận hy sinh không ? Út gật đầu, và chúng tôi quyết định xử dụng bom Napale. Sau khi L19 bắn khói điều chỉnh, chiếc khu trục thứ nhất lao xuống thả 2 quả bom xăng đặc. Cả một vùng biển lửa bốc cháy…sức nóng tàn khốc tỏa rất gần quân bạn, tôi nghe một vài binh sĩ la lên:

– “Check fire đi 501, nguy hiểm lắm !”

Tôi lạnh lùng bấm máy gọi L19:

– “Good, tiếp tục !”

Chiếc thứ hai lao xuống, 2 quả bom nữa rời cánh phi cơ, cụm lửa cao lan rộng hơn tiêu hủy cả một vùng rộng lớn…

Tôi gọi Út:

– “Vịt con (VC) bị nướng sống hết rồi, vào lượm súng đi Út Bạch Lan !”

– “Nhận rõ 501, tôi sẽ làm cỏ sạch bọn chúng.”

Út Bạch Lan cho xung phong và thanh toán gọn các ổ kháng cự. Từ đó, con đường tiếp vận tải thương mới được khai thông.

Trở lại với tiền quân, tôi và Hồ Tường mở bản đồ, tìm kế hoạch tiếp tục tiến quân. Con đường từ đây đến Cổ thành còn hơn 300m mà sao dài ra thăm thẳm….và lắm gian nguy. Tất cả phi pháo đa phần đều dồn hết vào Cổ thành, nhưng tôi lại không muốn như thế, tôi lại muốn dồn hỏa lực lên phía Bắc sông Thạch Hãn đến phi trường Ái Tử ra tận Đông Hà – phía Tây dãy Trường sơn, phải làm sao khóa họng các khẩu đại pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của địch.

Cần nói rõ trong thời điểm này, không lực Mỹ và B52 không đồng ý oanh tạc trong thành phố Quảng Trị. Quảng Trị chìm trong biển lửa, điêu tàn và thảm khốc. Gần một tháng trời quần thảo với địch quân với hơn 2 Sư đoàn chính quy Bắc Việt: Sư đoàn 304 và 324 (?) Sự thiệt hại của đôi bên đã lên đến con số khá cao, nếu được tính chính xác.

Vào một đêm đang ngồi trong hầm, bấm đèn pin xem bản đồ, suy nghĩ phương thức tiến quân thì hiệu thính viên đưa máy cho tôi và nói 101 muốn gặp:

– “101, đây 501 tôi nghe !”

– “Báo cho anh biết, đích thân Tông tông ra lệnh cho Quân Đoàn 1 và Đại bàng 1 (Trung tướng Ngô Quang Trưởng) ra lệnh cho chúng ta phải thanh toán mục tiêu Cổ thành bằng mọi giá, càng sớm càng tốt, nhận rõ trả lời.”

– “Nhận rõ 101, tôi sẽ cố gắng !”

Thẫn thờ buông máy, suy nghĩ mông lung…

Những Sĩ quan chủ lực của tôi lần lượt bị thương rời vùng, từ Trung úy Nguyễn Tiến Việt, Thiếu úy Nguyễn Văn Hội, Chuẩn úy Sanh…đều bị thương. Bất đắc dĩ phải cho hạ sĩ quan cao cấp lên làm Trung đội trưởng, có người không biết đọc bản đồ, nhưng tác chiến rất lì lợm và kinh nghiệm.

Vì sức kháng cự của địch quân còn quá mạnh, đại quân bị khựng lại. Tôi quyết định cho thành lập toán cảm tử, lợi dụng đêm tối tiến lên chiếm thành, hầm hố vững chắc, cố gắng cầm cự để tờ mờ sáng hôm sau, tôi dẫn đại quân lên chi viện và dứt điểm mục tiêu Cổ thành. Toán cảm tử này hoàn toàn tình nguyện. Đó là kế hoạch nhưng sự thi hành hơi khác.

Số tình nguyện lên khá cao, đã hơn 10 binh sĩ. Nhiều quá dễ bị lộ! Tôi quyết định chọn ra 8 người. Hạ sĩ nhất Trần Tâm làm trưởng toán, Hồ Khang sinh trưởng lớn lên đi học tại Quảng Trị nên làm tiền sát dẫn đường, Hậu mang máy, Hồ Con, Lê Văn Lịch… Tôi không nhớ hết tên 8 người.

Vào một đêm tối trời, tôi tập hợp tiểu đội tình nguyện này vào một căn hầm của dân để lại, căn dặn cẩn thận và nói rõ mục đích chuyến đi nguy hiểm này. Chúng tôi chia xẻ với nhau từng điếu thuốc quân tiếp vụ, sau cùng tôi lên tiếng:

– “Các anh nên suy nghĩ kỹ lại đi. Không một ai có thể bắt buộc các anh, đây là vinh dự của Tổ quốc và Quân đội dành cho các anh. Tôi chỉ hứa nếu nhiệm vụ hoàn thành, tôi sẽ ký cho các anh 15 ngày phép về Saigon.”

Hậu mếu máo nói với tôi:

– “Chúng tôi không dám nghĩ đến những vấn đề quá cao xa, chúng tôi tình nguyện ra đi vì quá thương Đích thân, mấy ngày qua Đích thân không ăn một miếng cơm, chỉ uống nước, café và thuốc lá.”

Tôi vỗ vai từng người và hứa:

– “Tôi thề sẽ không bao giờ bỏ các anh đâu, yên chí, sáng hôm sau sẽ có tôi bên cạnh.”

Hồ Khang xin mang theo lá Quốc Kỳ, Hậu mang máy PRC25.

Đêm hôm đó, toán Quyết tử âm thầm lao mình vào đêm đen. Tôi thức theo dõi từng bước đi, thỉnh thoảng cho pháo binh bắn yểm trợ, soi sáng và chỉ hướng. Tiểu đội này đôi lúc phải lẩn lách tránh các ổ kháng cự của địch. Nửa đêm hôm đó, toán Quyết tử báo cáo đã thấy được Cổ thành và đang tìm cách lội qua hào sâu, sát bờ thành:

– “Nước sâu quá Đích thân.”

Hậu thều thào trong máy. Tôi gọi pháo binh bắn yểm trợ tối đa vào Cổ thành và xung quanh. Ra lệnh tiền quân sẵn sàng xuất phát.

“Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu.”
“Đi lên đi lên, trên hoang tàn ta xây dựng đời mới”.

Tờ mờ sáng hôm sau, trong khi vạn vật chưa tỉnh ngủ, bỗng nhiên tôi nghe tiếng la lớn:

“Việt Nam Cộng Hòa muôn năm, Nhảy Dù muôn năm!”

Tôi nghe hiệu thính viên đứt khoảng trong máy:

– “Quốc Kỳ đã được dựng lên !”

Liền sau đó tiếng nổ ầm vang tứ phía. Đại liên 12 ly 8, AK47, B40…….bắn xối xả vào một mục tiêu duy nhất – lá Quốc Kỳ!

Sau đó mất liên lạc, tôi nhanh chóng ra lệnh xuất phát và gọi pháo binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu bạn và xin thêm đạn khói bao phủ Cổ thành. Pháo binh địch cũng bắt đầu lên tiếng trả đũa.

– “Mưa rơi nặng hột (pháo địch mạnh lắm)”

Nhưng cho dù mưa rơi dữ dội cách mấy, cho dù bão tố tôi cũng phải đi. Tôi phải cứu các đệ tử của tôi. Tôi hối thúc Hồ Tường:

– “Sắp tới rồi, còn không đầy 100m nữa thôi, nhanh lên 502!”

Tôi và Hồ Tường song song tiến thẳng lên Cổ Thành, bỏ 2 Đại độ 81 Biệt kích bên cánh phải đằng sau, thế là sườn phải bị bỏ trống. Một vài binh sĩ bị thương vì pháo kích, tôi không màng để ý, cứ tiến thẳng lên Cổ Thành và xin thêm lá Quốc Kỳ thứ hai.

Sáng hôm đó khi mặt trời ló dạng, chúng tôi đã nhìn thấy Cổ Thành trước mặt. Nhưng lại có một chướng ngại vật quá lớn, đó là thành quá dày và cao. Thành dày khoảng 5m, cao 5m và được bao bọc bằng hào sâu tới cổ, rộng gần 10m.

Không thể xử dụng được hàng ngang, tiền quân bị khựng lại, đào hầm hố bố trí và tìm phương thức tấn công. Trên mặt thành, địch phòng thủ vững chắc trong các lô cốt, bắn xối xả vào quân ta.

Hồ Tường cứ di chuyển ẩn núp sau các dãy nhà sụp đổ, chạy tới chạy lui và dùng súng bắn tỉa Việt cộng trên thành. Mỗi lần nhắm trúng một tên là hắn la lên vui mừng. Với tôi, trước tiên phải làm sao phá vỡ được thành mới tính tới chuyện xung phong. Nếu cho quân lội qua hào, rồi dùng dây leo lên thành, chắc chắn chỉ làm bia cho địch tác xạ. Cho xử dụng 57 ly không giật, kể cả 90 ly vẫn không thể phá nổi thành. Bên sườn phải, địch quân vượt sông Thạch Hãn chi viện, bám đầu cầu và khai hỏa dữ dội bên phải. Trong tình thế chẳng đặng đừng, tôi điều động thêm một trung đội của Đại đội 54 do Chuẩn úy Thạch Hớn chỉ huy tấn công và giữ sườn bên phải.

Nhưng một trung đội làm sao chống nổi biển người !

Đêm hôm đó đành bám trụ cố thủ, cho thám sát mặt nước cũng như kéo xác toán cảm tử còn kẹt trong thành. Quả thật là một đêm kinh hoàng, tôi không thể nào chợp mắt, cafe hết, thuốc lá chẳng còn…Xác đệ tử cách mình chỉ vài chục thước chưa kéo về được, bức tường thành kiên cố và hào sâu đầy chướng ngại, làm cách nào thanh toán đây ?

Khuya hôm đó, một binh sĩ toán cảm tử chạy về được báo cáo tôi biết: Hồ Khang, Trần Tâm, Hồ Con, Hậu đã tử thương trên thành, số còn lại đều thất lạc !

Sáng hôm sau, tôi cho xử dụng hỏa tiển M72, 4 khẩu châu vào và bắn cùng một lúc với hy vọng phá nổi tường thành, nhưng bờ thành chỉ xây xuyển đôi chút rồi vẫn sừng sững giữa trời…

Ngày N+26, một ngày định mệnh đã xảy đến !

Tôi quyết định xử dụng bom cực mạnh để phá thành. Sau khi ra lệnh cho binh sĩ hầm hố cho thật kiên cố, tôi cho gọi Hồ Tường đến chung một hố sơ sài của dân để lại. Một sai lầm lớn, không thể đặt hai bộ chỉ huy Đại đội chung cùng một hố. Ít nhất 4 cần antene và một số binh sĩ lố nhố sẽ là mục tiêu tốt cho địch pháo kích, nhưng để dễ chỉ huy điều động, tôi chấp nhận mọi hậu quả.

Sau khi nghe tôi trình bày kế hoạch, Hồ Tường có vẻ lưỡng lự nhưng không dám cãi. Tôi quyết định đánh bom theo trục Tây Bắc xuống Đông Nam, nghĩa là đối diện với tiền quân.

Một chiến thuật hoàn toàn sai nguyên tắc, rất nguy hiểm cho quân bạn. Mục đích của tôi là muốn lấy gạch đất của thành để lấp hào sâu, làm bàn đạp xung phong vào thành. Chiếc khu trục đầu tiên nhào xuống, 2 quả bom rời cánh phi cơ, tất cả đều cúi sát mặt đất, nón sắt che đầu. Rồi chiếc thứ hai lao xuống, thêm 2 quả nữa nổ long trời lở đất, cát bụi tung phủ cả bầu trời…

Khi ngẩng đầu lên nhìn trong đám bụi mờ, tôi thấy cả một niềm vui, tôi vỗ vai Hồ Tường:

– “Thành đã bị vỡ, chuẩn bị xung phong !”

Sau khi gọi pháo binh, đầu nổ chụp lẫn chạm nổ, sau đó là 20 tràng đạn khói phủ ngập mục tiêu. Tôi ra lệnh 2 trung đội đầu bỏ balô tại chỗ, một người cầm lựu đạn, một người cấm súng vượt nhanh qua hào sâu, bám chặt vào góc Cổ Thành đã bị vỡ. Nhờ đất đổ xuống lấp mặt nước hơi cạn, lợi dụng màn khói bao phủ, nên tiền quân vượt qua tương đối dễ dàng. Khi màn khói vừa tan, địch quân bắt đầu trả đũa dữ dội. Nặng nhất là hai lô cốt ở mặt tiền và giữa sân cột cờ Tiểu khu, địch còn ngoan cố trong hầm hố bắn trả rất mạnh. Tôi tung thêm vào thành một trung đội, bung rộng đội hình vừa đào hầm hố, vừa chống cự.

Phi cơ quan sát L19 bao vùng báo tôi biết địch từ phía Bắc sông Thạch Hãn tràn qua như kiến! Tôi một mặt xin pháo binh yểm trợ, một mặt xin tiếp phi tuần oanh kích.

Trong giờ phút dầu sôi lửa bỏng như thế, thình lình một tai họa xảy đến. Một quả đạn cối 82 ly nổ ngay hầm chỉ huy. Nói là “hầm” chứ thật ra chỉ là một ụ ẩn nấp sơ sài, trước mặt đường là hào sâu vì tôi muốn dễ quan sát tiền quân. Hồ Tường máu me đầy người, 3 hiệu thính viên: một chết, hai bị thương nặng. Riêng tôi cảm thấy cánh tay trái trĩu nặng, máu đào đã thấm ướt chinh y. Tôi cho gọi Thượng sĩ Trực lên tải thương và y tá băng bó tạm vết thương. Còn một tay vẫn còn xử dụng được Combiné. Lúc đó tôi đã là người say máu.

Gọi máy báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn để nhận được lời khiển trách của 101:

– “Căn dặn anh nhiều lần, đừng chụm hai bộ chỉ huy lại một chỗ, không nghe!”

Thiếu tá Lê Hữu Chí B3 vẫn còn đùa cợt trong máy:

– “Xử dụng Độc Cô cửu kiếm đi Lệnh Hồ đại ca !”

Đôi lúc danh hiệu truyền tin của tôi là “Lệnh Hồ Xung”, với tình trạng này dù có 10 thành Cửu dương thần công, hay độc cô cửu kiếm cũng đành bó tay !

Tôi cho củng cố, phối trí lại lực lượng. Hai Đại đội 51 và 52 nhập lại thành một. Bung 51 và Đinh Viết Trinh lên bên trái. Bên phải sát bờ sông Thạch Hãn, hối thúc 2 Đại đội 81 Biệt kích tiến lên giữ cạnh sườn. Nhưng vì sức kháng cự của địch quá mạnh nên cánh quân này bị dậm chân tại chỗ.

Đã kéo về được 3 xác của toán Quyết tử: Hồ Khang bị chặt làm 3 khúc nhận ra được vì anh đeo thẻ bài dưới chân, Hồ Con gục ngã, Lê Văn Lịch bị bắn ngay giữa đầu…số còn lại bị thất lạc.

Ra lệnh cho các trung đội trong thành củng cố hầm hố, tôi quyết định cho dựng Quốc Kỳ lên lần thứ hai. Cờ vàng ba sọc đỏ là mối thù không đội trời chung của Cộng sản, cho nên vừa thấy lá Cờ tung bay là chúng khai hỏa dữ dội, nặng nhất còn ở giữa cột cờ Tiểu khu Quảng Trị. Hai khẩu 12 ly 8 ở lô cốt mặt tiền hạ nòng bắn xối xả, B40, B41, AK47 châu thẳng vào cột cờ.

Quân ta cũng chống trả quyết liệt với quyết tâm giữ vững ngọn cờ!

Tôi gọi L19 lên bao vùng và quyết định dùng bom đánh thẳng vào cột cờ Tiểu khu. Danh hiệu của L19 bấy giờ là Phi Long (nếu tôi nhớ không lầm).

– Phi Long, Phi Long đây! 501 gọi, nghe rõ trả lời!

– Phi Long tôi nghe.

– Anh có nhìn thấy lá Quốc Kỳ ở góc Đông Nam Cổ Thành không?

– OK, đã nhìn thấy rõ !

– Tôi đang ở đó. Anh cho đánh từ lá Cờ về hướng Tây Bắc từ 100 đến 150m, nhận rõ trả lời.

– Nhận rõ 5/5.

– Lưu ý anh là phòng không địch rất mạnh. Hỏa tiển SA7 và 37 ly đang chào đón các anh.

Lưu ý dùm fighter đánh trên đầu khói, vì khói đang bay dạt về hướng tôi.

– Đã nhận rõ, tôi sẽ gọi phi tuần đến ngay !

Khoảng 10 phút sau, 2 chiếc A37 bán phản lực vào vùng, bay lượn xung quanh và chờ L19 chỉ điểm. L19 bay quá cao để tránh phòng không nên khi lao xuống bắn khói chỉ điểm không được chính xác, hơn nữa cụm khói đang từ từ theo chiều gió bay đến chúng tôi…

Tôi vừa bấm máy gọi Phi Long thì chiếc A37 đầu tiên đã lao xuống, 2 quả bom rơi xuống ngay trung đội đầu.

Tôi thất thanh la lớn: “Check fire ngay lập tức !”

Nhưng sát theo sau là chiếc thứ hai lao xuống, 2 quả nữa chấn động cả vùng. Tôi ra lệnh tung khói màu và gọi “check fire”.

Đã trễ rồi ! “Phi cơ đã đánh lầm chúng tôi rồi !”

Tôi cảm thấy lồng ngực ê ẩm, tay chân nặng trĩu. Cả một bầu trời sụp đổ thê lương. Hơn phân nửa của 3 trung đội đầu gần như tê liệt. Nhìn binh sĩ lần lượt tải thương, dìu nhau trở lại mà lòng tôi tê cứng. Tại sao? Định mệnh nghiệt ngã hay số trời?

Tôi rút máy hình chữ nhật ra định tiêu hủy mục tiêu, lưỡng lự…lại thôi ! Rút colt 45 ra định kết liễu đời mình để đi theo chiến hữu, nhưng đệ tử xung quanh ngăn cản.

Sau khi báo cáo về Bộ Chỉ Huy, tôi kiểm soát lại binh sĩ, tạm bố trí chờ lệnh. Chiều hôm đó, Trung Tá Hiếu cho Thiếu Tá Bùi Quyền lên thay và cho tôi về dưỡng thương. Nhưng tôi biết rõ, nếu tôi về đêm nay và nếu lỡ bị địch tấn công coi như tan rã. Tôi cần ở lại và quyết định từ chối tải thương.

Thiếu tá Bùi Quyền cho biết lệnh ngày mai bàn giao Cổ Thành lại cho Thủy Quân Lục Chiến để nhận nhiệm vụ khác. Tôi không cần thắc mắc, vì thật ra tôi chỉ còn là một cái xác không hồn, đau thương, uất nghẹn…

Chỉ vì Cổ Thành Quảng trị, chỉ vì lá Quốc Kỳ, mà biết bao nhiêu chiến binh Mũ Đỏ đã bị thương và nằm xuống nhẹ nhàng và hãnh diện.

Sáng hôm sau, 27/7/1972, bàn giao vùng trách nhiệm lại cho TQLC trong màn khói bao phủ để tránh địch quân quan sát, pháo kích và tấn công. Địa điểm đầu tiên cách bờ thành chưa đầy 100m, nằm trong tầm đạn của quân thù.

Sau ngày 27/7/1972, chiến thuật và sự điều binh của TQLC tôi hoàn toàn không rõ.

Thay lời kết :

Tôi muốn nói : “Nhảy Dù” đã đánh và đã vào Cổ Thành Quảng Trị như thế đó. Vào bằng tất cả hỏa lực và máu xương. Vào bằng tất cả quyết tâm của tuổi trẻ hiến dâng cho Tổ Quốc, cho dân tộc. Quyết tâm dựng lại cho bằng được lá Quốc Kỳ.

Nhưng than ôi: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Bây giờ, đã 37 năm trôi qua, trong lúc TQLC chuẩn bị làm Lễ Chiến thắng Cổ thành Quảng Trị thì cũng có một người đang âm thầm làm giỗ tưởng niệm các đệ tử thân thương của mình, cho dù đơn giản với một vài nén hương, một vài đóa hoa hay đôi dòng thương nhớ để nói lên sự hy sinh, lòng dũng cảm và hào hùng của những “thiên thần Mũ Đõ” trong trận chiến Cổ Thành.

Hồ Khang, Hồ Con, Trần Tâm…quê hương tôi nghèo, tên tôi không chữ lót, nhưng họ mới thật sự là những anh hùng.

Một Đỗ Từ Long, đầu không bao giờ mọc tóc vì ba gai thành phố, nhưng đánh giặc thì lì lợm mấy ai bằng. Chạy lên chạy xuống xin lựu đạn để gục ngã trên hố quân thù. Ngày nào nó cũng nghêu ngao:

“Tóc em dài em cài hoa Thiên lý,
Tóc anh dài, Thượng sĩ cạo đầu anh…”

Còn nhiều và rất nhiều nữa, Thượng sĩ già Nguyễn Văn Trực, Hậu, Lịch, Tống, Kình….tất cả đã cùng tôi dầm sương dãi nắng, qua bao nhiêu hiểm nguy binh lửa, mà phút chốc đã bỏ tôi nằm đây bất động…

Còn 52, còn Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, Đại đội 2 Trinh sát, Biệt kích 81 Dù, bao nhiêu người nằm xuống ?!

Lịch sử có ghi, xin hãy ghi dùm, HỌ mới đích thực là anh hùng. Chưa bao giờ họ được hưởng bổng lộc, chưa bao giờ được thấy vinh quang dù chỉ trong chớp mắt nhìn được Cờ vàng 3 sọc đỏ tung bay trên Cổ Thành Quảng trị, cho dù một phút giây, cho dù giữ không nổi, nhưng họ đã cho đó là sứ mệnh thiêng liêng của người lính VNCH, của chiến binh Mũ Đỏ.

Hãy chờ tôi các em nhé ! Cho dù sớm hay muộn, cho dù con đường có ngắn hay dài, tôi cũng sẽ gặp lại các em ở một nơi xa xăm nào đó, để cùng nhau nâng chén rượu đoàn viên :

“Xin cho tôi một mộ phần,
Bên ngàn chiến hữu của tôi.”



Trương Đăng Sỹ

Posted in Hồi ký chiến trường | Leave a comment

Cuộc đổ bộ trong lòng địch tại Triệu Phong

MỘT THỜI BINH LỬA**Cuộc đổ bộ trong lòng địch tại Triệu Phong**
MX NGUYỄN ĐĂNG HÒA 

**Cuộc đổ bộ trong lòng địch tại Triệu Phong**
 **Tiểu Đoàn I Quái Điểu TQLC**
Kể từ sau cuộc đổ bộ bằng trực thăng của Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu TQLC VNCH vào ngày 11/07/72, tại quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, chưa một ai viết lại cuộc đổ bộ ấy, và tôi nghĩ nếu tôi không viết để nói lên cuộc chiến đấu ác liệt, oai hùng này thì ai có thể viết thay tôi ? Vì như tôi đã trình bày trong tập Hồi Ký “Cơn Lốc Dài”, hơn 1OO ông phóng viên thế giới, không một ông nhà báo nào dám “thi thố tài năng” đi theo chúng tôi cả. Cũng như hai nữ phóng viên chiến trường Việt Nam là Kiều Mỹ Duyên và Lam Thiên Hương một thời ngang dọc đã lắc đầu khi tôi mời 2 cô đi “du ngoạn”. Nỗi danh thì cũng muốn, nhưng nghĩ đến mạng sống như chỉ mành treo chuông hai cô vừa cười vừa nói: “Thôi, tui chẳng ham đâu!”.Như có một thôi thúc, ray rứt nào đó buộc tôi phải viết để nói lên sự thật oai hùng của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói riêng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, đã tạo được trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cho phép tôi được làm một nhân chứng lịch sử để tô đậm thêm Quân Sử hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.**..

.Phá Tam Giang vào một sáng mù sương 11/ 07/ 1972**Dù đang là mùa hè nhưng trời Huế vẫn còn sương mù, một làn khói mỏng giăng đầy, bao phủ cả một vùng Vân Trình rộng lớn. Trên cánh đồng vừa mới gặt, mùi rạ thơm thoang thoảng, nếu có thêm vài cô thôn nữ xinh xắn của mẹ Việt Nam nữa là ta đã có một hình ảnh đồng quê thanh bình của bao năm cũ… Gia đình Quái Điểu TQLC hơn 7OO tay súng đã sẵn sàng tại bãi bốc chờ lên trực thăng đi vào đất địch. Những chàng Kinh Kha thời đại đang ưu tư về cuộc đời và đang chờ đón một tương lai không mấy rạng rỡ.Đúng 7 giờ sáng, chiếc trực thăng HUIB của chỉ huy đáp xuống cạnh nhà thờ 2 chuông Điền Môn, bốc tôi và cố vấn Mỹ bay thẳng ra biển Đông. Để tránh phòng không địch, trực thăng đã phải bay trên biển và ở cao độ vừa tầm cho chúng tôi quan sát thành phố Quảng Trị và quận lỳ Triệu Phong, nơi Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu sẽ phải đổ bộ để tái chiếm. Quận Triệu Phong nằm về phía Đông Bắc cổ thành Quảng Trị khoảng 2 cây số, là quê hương của tên đồ tể Lê Duẩn, môn đệ kế vị già Hồ đã về chầu Diêm Vương. Vì vậy không dễ gì địch để chúng tôi tái chiếm lại Triệu Phong.Những túi lửa B.52 chiều ngang 1 cây số và chiều dài 3 cây số được lóe lên từng chập, và khi các chùm bom chạm đất thì lửa bốc cháy cùng những tiếng nổ phụ rền vang một góc trời… Tại đây địch cũng sẵn sàng nghêng đón chúng tôi. Đơn vị bạn gần nhất vẫn còn ở tuyến sau Mỹ Chánh mịt mù. Chúng tôi sẽ phải nhảy trên đầu địch, đánh thọc sâu vào lòng địch, bóp ngay yết hầu chúng, buộc chúng phải nhả Cổ thành Quảng Trị mà chúng đã chiếm giữ hơn 3 tháng qua.

 Sư Đoàn Nhảy Dù đã gặp phải muôn vàn khó khăn và thiệt hại nặng nề khi tái chiếm Quảng Trị. Có lẽ thượng cấp quên đi cửa ngõ Triệu Phong, nơi mà việt cộng phải giữ với bất cứ giá nào, để bảo vệ huyết lộ dẫn ra Cửa Việt bằng đường bộ và đường thủy dọc theo sông Thạch Hãn. Nhờ huyết lộ này mà chúng có thể tiếp tế cũng như tải thương và thay quân rất dễ dàng.Đúng 12 giờ 5 phút ngày 11/7/72, ngày mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Trước khi lên máy bay, Tướng Trưởng và Tướng Lân đến bắt tay và chúc chúng tôi thành công. Lời nói của Tướng Lân, Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến như một luồng điện chạy dài theo xương sống tôi:- Danh dự này, tôi giao cho anh và Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến.Riêng Đại Tá Bảo, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 147 TQLC nhìn chúng tôi như một người cha nhìn những đứa con thân yêu đang đứng bên bờ vực thẳm. Ông rơi nước mắt nói với tôi lời giã biệt:- Mày cố gắng giữ gìn anh em, khuyên họ nên đọc kinh cầu nguyện theo đạo giáo của họ!Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến với biệt danh Quái Điểu được trực thăng bốc từ nhà thờ 2 chuông Điền Môn bay ra Triệu Phong, bất thần đổ trên đầu địch, giữa những đám ruộng trước quận lỵ. Tuy bãi đáp đã được B.52 dọn cỏ suốt 2 tiếng đồng hồ, với 33 phi vụ đã cày nát từ Đông Hà đến Quảng Trị, mà gia đình Quái Điểu vẫn được lũ giặc cướp cộng phỉ bắc việt “dàn chào” long trọng. Súng phòng không 23 và 37 của địch bắn lên như pháo bông. Đại Đội 4, Tiểu Đoàn 1 do Đại Úy Trịnh Văn Thềm chỉ huy, lãnh nhiệm vụ đổ bộ trước. Hai chiếc trực thăng khổng lồ CH.54 chạm đất một cách bất ngờ nên thoát được phòng không địch. Có 32 chiếc trực thăng đổ quân, gồm 17 chiếc CH-53 (loại Chinook Mỹ dùng để cứu con tin tại Iran) chở được 6O người và CH-46 loại Chinook chở được 2O người. Chiếc tôi đi bị lãnh 4 viên phòng không, tưởng chừng như rớt. Vừa rời khỏi trực thăng, tôi đã được chào mừng bằng một trái 57 ly không giật, vì chung quanh tôi là một rừng antenne truyền tin. Tôi bị thương ở đùi phải, máu ướt đẫm. Viên Trung Úy Hải Quân Mỹ bị lòi ruột ra ngoài trông thật khiếp, nhưng vẫn còn sống. Đau đớn cho Tiểu Đoàn chúng tôi là 1 chiếc trực thăng bị rớt và nổ tung sau đó 2 phút lại chở nguyên Trung Đội Quân Y, 6O người chỉ sống sót 12 trong đó có Bác Sĩ Hoàn. Ông đã lao được ra ngoài cửa cấp cứu, nhưng phải 2 ngày sau mới bò về được Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn với thân hình cháy phỏng nặng. Chúng tôi không lấy được xác những người bị chết vì chiếc máy bay này thuộc Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn và đã mang theo 47 trái mìn chống chiến xa và tất cả đã tan tành theo chiếc máy baỵ Đáng lẽ tôi cũng đã gởi xác theo chuyến đó rồi, nhưng tới phút chót cố vấn Mỹ lại rủ tôi đi trên chiếc CH-46 để khi xuống bãi thoát ra thật nhanh, tránh được phòng không địch.Ngay phút đầu, sau khi hoàn tất cuộc đổ quân, chúng tôi đã bị thiệt hại hơn 2OO người vừa chết vừa bị thương. Người cố vấn Mỹ còn cho tôi biết trong số 32 máy bay trực thăng, có 29 chiếc trúng đạn và 2 chiếc rớt, một nổ tại chỗ và một rớt ngoài biển. Cuộc đổ bộ này đã được báo chí xem như cuộc đổ bộ Inchon tại Đại Hàn năm xưa.

Tướng Lân được triệu về Dinh Độc Lập để thuyết trình về cuộc đổ quân cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Mọi người hồi hộp theo dõi bước chân của bầy Quái Điểu gan lì.Cánh đồng Triệu Phong đã trở thành bãi chiến trường khốc liệt. Xe tăng lũ việt cộng phối hợp với bộ binh của chúng bắt đầu rời vị trí phòng thủ để tấn công chúng tôi, và những chiếc trực thăng vũ trang Cobra của phe ta đã táo bạo lao lên săn đuổi chúng như những con diều hâu hung dữ. Riêng Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu lúc bấy giờ mạnh ai nấy đánh, dùng chiến thuật cá nhân phối hợp từng tổ nhỏ cố bám lấy bờ sông Vĩnh Định là chi nhánh của sông Thạch Hãn để làm điểm tựa, giữ lấy mạng sống mong manh. Hai con sông này đã nuôi dưỡng quận lỵ Triệu Phong, làm cho nó trở nên trù phú và sầm uất nhất tỉnh Quảng Trị, giờ đây đang ôm ấp che chở cho những toán Quái Điểu.Nhờ vào súng M.72 chống chiến xa ta đã bắn hạ được một số tăng địch, có những chiếc bốc cháy cách xa ta chỉ 5O thước, làm cho anh em an tâm hơn và tin tưởng vào loại vũ khí cá nhân hiện đại và tối tân này, mỗi Đại Đội chỉ được trang bị 12 trái thôi. Những hố bom trở thành vị trí chiến đấu lý tưởng cho binh sĩ mình. Họ đứng thẳng, tỳ súng vào miệng hố nhắm vào từng đợt sóng biển người của bọn giặc cướp cộng phỉ khát máu mà bắn. Đại Đội 1 của Đại Úy Bùi Bồn đã dùng con sông Vĩnh Định như một chỗ tựa tốt để chống trả từng đợt xung phong của địch cũng như yểm trợ cho các Đại Đội 2, 3 và chỉ huy còn đang phơi mình trên bãi đáp. Kết quả sơ khởi Đại Đội 1 đã tịch thu 1O cây súng 37 ly phòng không của địch đã đặt hàng ngang tại bìa làng.Trời đã vào đêm, bóng tối đồng lõa với tội ác của địch qua những đợt cắn lén nhưng cũng là người bạn chân tình che chở cho chúng tôi, hạn chế tầm quan sát của địch nên chúng chỉ dùng pháo đe dọa vu vơ. Đến 1O giờ Tiểu đoàn mới nắm được tay nhau, lập thành một phòng tuyến tạm thời. Chỉ còn Đại Đội 4 của Đại Úy Thềm bị cô lập phải tự phòng thủ bảo vệ riêng, nhưng xét về mặt chiến thuật thì rất có lợi cho Tiểu Đoàn. Một cái chốt khổng lồ làm tiền đồn cho đơn vị tại Chợ Sãi, dùng Pháo Binh và Hải Pháo ngăn chận sự di chuyển của địch từ Cổ thành Quảng Trị qua quận Triệu Phong, cũng như quan sát được thủy lộ dẫn ra Cửa Việt. Chiếm và giữ được Triệu Phong thì sớm muộn gì tỉnh Quảng Trị cũng sẽ trở về vùng đất Tự Do.Thường thường đánh nhau với những đơn vị chính quy tuy chém giết thả giàn mạnh được yếu thua nhưng thích hợp với người quân tử. Một cuộc chiến tranh quy ước, có lúc đánh lúc nghỉ, ăn uống, tiếp tế, tải thương, thay đổi lối đánh cho phù hợp trận liệt, rồi trở lại đánh tiếp. Nhưng với bọn cộng phỉ, các cấp chỉ huy của chúng có được đào tạo ở một quân trường nào đâu ! Đã vậy đầu óc ngu xuẩn lại bị bác đảng hèn hạ của chúng nhồi nhét hận thù đầy ắp nên chúng hăng say chém giết… từ tên du kích nhỏ bé không biết gì gặp lúc đàn anh chết nhiều quá, cũng nhảy ra thay thế chỉ huỵ. Vì vậy, bọn cộng phỉ hèn hạ chỉ biết dùng một chiến thuật rừng rú mọi rợ với lối đánh lén, cắn lén !Triệu Phong lúc bấy giờ là vùng địch kiểm soát nên họ có nhiều lợi thế hơn ta. Chúng rình rập, tấn công không ngơi nghỉ cốt làm cho quân ta mệt, tinh thần căng thẳng, quân số tiêu hao dần mòn. Nếu không có tinh thần cao và khả năng điêu luyện sẽ bị chúng đốn ngã dễ dàng. Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu đang đi trên đoạn đường chông gai ấỵ Đến 11 giờ đêm, quân ta tạm ngưng chém giết, mọi người lục ba-lô lấy cơm sấy ra nhơi. Ngồi trong hố cá nhân, chẳng cần cấp chỉ huy ra lệnh hay kiểm soát đôn đốc, ai nấy cũng đề cao cảnh giác và sẵn sàng lâm chiến vì đã quá quen thuộc với những đòn đen tối hạ cấp của lũ chuột rừng rú cộng phỉ bắc việt.Đêm khuya yên tĩnh, bỗng có tiếng la hét vang dội từ phía Chợ Sãi, nơi Đại đội 4 của Đại úy Thềm phòng thủ riêng. Một đoàn xe tăng địch với đèn pha sáng trưng, dàn hàng ngang cùng bộ binh chạy theo bên hông xe vừa bắn vừa hô xung phong. Tôi đã chuẩn bị trước các yếu tố tác xạ tiên liệu Pháo Binh và Hải Pháo, 42 khẩu pháo 1O5 ly nhả đạn cùng lúc và liên tục cộng với hàng ngàn trái hải pháo loại 5OO cân Anh khổng lồ, khi nổ chụp lúc chạm nổ, trút lên đầu địch. Vặn tần số truyền tin nội bộ của Đại Đội 4 tôi theo dõi trận đánh, nghe các Trung Đội Trưởng liên lạc với Đại Đội Trưởng lòng tôi yên tâm được phần nào và cảm phục sự gan lì của họ. Trên máy SCR. 25 vang lên giọng nói bình tĩnh của Thiếu Úy Tánh khi anh liên lạc với Đại Úy Thềm:- Thần Phong hãy yên tâm, chiếc tăng đầu còn cách chúng tôi 1OO thước, tôi đã ra lệnh từng tổ 3 người sẵn sàng M.72 nghênh chiến … Hiện giờ chiếc gần nhất chỉ còn khoảng 5O thước, chờ kết quả, sẽ có một số cua rang muối (chiến xa địch) để tặng Thần Phong và Hương Giang (danh hiệu của tôi).Thiếu Úy Tánh nói tiếp trong sự hồi hộp của tôi:- Tôi bắn thử một viên M.72 chống chiến xa, kết quả tuyệt vời, chính tôi cũng không ngờ đạn vừa ra khỏi nòng là một tiếng nổ long trời, con cua trước mặt tôi đã nổ tung và bùng cháỵTất cả các Trung Đội đều an tâm và phấn khởi, từng tổ tam tam chế đã dùng M.72 cải tiến để đưa đoàn cua của bọn phỉ quân bắc việt vào chảo rang. Đại Đội Trưởng đã gọi máy về Tiểu Đoàn tặng tôi có đến hàng chục con cua. Riêng Hạ Sĩ Ích, Tiểu Đội Phó dùng M.79 phóng lựu, một mình anh đã rang 3 con cua ngon lành.Song song với Đại Đội 1 và 4, sự chiến đấu gan dạ của Đại Đội 2 của Đại Úy Duật và Đại Đội 3 do Trung Úy Vàng Huy Liễu chỉ huy đã tạo sức mạnh vô song cho gia đình Quái Điểu. Sư đoàn 312 của bọn cộng phỉ bắc việt xâm lược với quân số gấp 1O lần hơn đã không nuốt được Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến kiên cường.Qua hai ngày song đấu, địch đã được tăng viện nhưng không vì thế mà áp đảo được quân ta. Cấp chỉ huy của lũ cộng phỉ đã đánh giá sai lầm về Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu TQLC, và cho đấy là một miếng mồi ngon chúng chỉ cần nhe nanh là đã nuốt chửng được ngay. Bọn cộng phỉ bắc việt đâu ngờ gặp phải một miếng mồi lửa, tạo nên bởi sự đoàn kết sắt đá, gắn bó keo sơn cùng sự chiến đấu bền bỉ gan dạ của anh em binh sĩ ta. Và chúng cũng không lường được lòng yêu nước tràn đầy của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trước sự tồn vong của đất nước. Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu TQLC đã tổ chức được vị trí phòng thủ kiên cố bằng máu xương và sức mạnh tinh thần của mình cộng với sự yểm trợ hùng hậu mà chưa bao giờ Quân Lực Hoa Kỳ sử dụng trên chiến trường Việt Nam.

Tôi đang liên lạc trên hệ thống Không Lực để nhờ họ đánh phá căn cứ Ái Tử, (nơi mà địch đang đặt bộ chỉ huy và căn cứ hỏa lực để yểm trợ cho chiến trường Quảng Trị) bằng những trận rãi thảm B.52 tạo nên những biển lửa khổng lồ đốt cháy tham vọng điên cuồng của bọn cộng phỉ bắc việt cướp nước bạo tàn, thì Trung Sĩ Ngữ cận vệ trung tín nhất của tôi chạy vào báo:- Trình Thiếu Tá, Trung Úy Kỳ thuộc Đại Đội Viễn Thám vừa bắt được 2 nữ du kích Việt cộng, tịch thu 2 khẩu súng các-bin tại nhà mình đang đóng quân !Thì ra căn hầm cư trú của 2 cô bé du kích chỉ cách hầm đóng quân của tôi và cố vấn Mỹ độ 1O thước, trong vòng 24 giờ qua các cô muốn giết chúng tôi lúc nào chẳng được. Vì thế tôi đến gặp 2 cô và được biết họ cũng như hầu hết thanh thiếu niên Quảng Trị bị kẹt lại sau khi quân ta rút về tuyến Mỹ Chánh đã bị bọn cộng phỉ hèn hạ đê tiện ép buộc đoàn ngũ hóa và trang bị thành tổ “dân quân chiến đấu”. Hai cô còn cho biết họ là nữ sinh Trường Trung Học Nguyễn Hoàng và có người anh cả là Đại Tá làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi liền cởi trói, bảo lãnh 2 cô và gia đình họ rồi hứa sẽ đưa ra vùng tự do sau cuộc đổ bộ nàỵ Từ đó 2 cô là những người phục vụ đắc lực cho đơn vị tôi về tình hình lũ du kích thổ phỉ tại địa phương. Nhờ vậy mà chúng tôi đã thanh lọc và bắt giữ cũng như tịch thu rất nhiều tài liệu và vũ khí. Thế mới hay, trong cuộc chiến, yếu tố “tranh thủ nhân tâm” cũng quan trọng không kém, và còn tiết kiệm được xương máu anh em.Sau 15 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên TQLC đã giao tiếp được với Tiểu Đoàn chúng tôi nhưng cách nhau bằng con sông Vĩnh Định. Vì không dùng được trực thăng nên tôi phải nhờ đơn vị bạn này tải thương bằng những bè chuối buộc dây kéo qua sông !Sau đó Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu được đưa về Huế, chúng tôi như những người về từ cõi chết, râu tóc rậm rạp như người rừng, mắt sâu như vực thẳm, tiều tụy như những bệnh nhân lâu ngàỵ Chúng tôi những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã dành phần đời trai trẻ của mình cho những chuyến đi dài không mệt mỏi: từ tuyến đầu của con sông Thạch Hãn, được chọn làm giới tuyến ngăn địch cho đến vùng đầm lầy sông Ông Đốc, chặng đường cuối của quê hương hoặc lặn lội vùng biên giới Miên Lào với núi rừng trùng điệp… với một mục đích duy nhất là bảo vệ quê hương thân yêu khỏi lọt vào tay bọn giặc cướp cộng sản bắc việt man rợ, khát máu, bạo tàn.(Sài Gòn trong tôi – Mũ Xanh Nguyễn Đăng Hòa)

Posted in Hồi ký chiến trường | Leave a comment

Nguyễn Phúc Sông Hương – Ba Người Hạ Sĩ



Nổi danh nhất không những trong Tiểu Đội thám báo mà cả trong Tiểu Đoàn 3/48 là Bé em M79, Bằng Lựu đạn và Tùng dao găm.

Cây M79 trong tay Bé em khi đã nhả đạn thì không bao giờ trật mục tiêu dù xa hay gần. Đạn nổ thì làm bung mục tiêu, đạn cay thì đuổi địch chạy ra khỏi hầm, cho M16 đốn ngã.

Bằng lựu đạn, không những chỉ vì mang gấp đôi, gấp ba số lựu đạn cơ hữu dành cho một người lính mà vì lúc ném lựu đạn, sau khi rút chốt, còn thả bung cả mỏ vịt vài giây rồi mới ném ra khỏi bàn tay, quả lựu đạn khi rơi xuống mục tiêu thì nỗ ngay, địch không thể có thì giờ chụp quả lựu đạn ném lại mình. Ít người dám làm như vậy bởi vì chỉ cần sơ xuất ném chậm một giây thì quả lựu đạn sẽ nổ trong tay mình.

Tùng dao găm còn ghê hơn. Cây dao găm là một thứ vũ khí thầm lặng, rất hữu ích cho người lính thám báo khi bò vào căn cứ địch. Địch ở xa hay gần, khi đã là mục tiêu của Tùng thì lưỡi dao găm không bao giờ khoan nhượng.

Cả ba đều là binh nhì quân dịch, cánh tay không xâm chữ “sát địch” nhưng đánh giặc rất chì. Trong trận Long Tân, Núi đất Bà Rịa năm 1973, Tiểu Đội thám báo do Thượng sĩ Bé anh chỉ huy vô tình lọt vào ổ phục kích của địch. Địch không nổ súng, ta không kịp kéo cò, đành chơi cận chiến, nhưng số ít thua số đông. Bé em, Bằng và Tùng đi đầu bị bắt sống.

Thượng sĩ Bé thoát chạy về báo cáo. Tiểu Đoàn tức tốc mở ngay cuộc hành quân, không cần pháo binh dọn đường, lặng lẻ áp sát căn cứ địch mới đồng loạt nổ súng xung phong, giải cứu ba người. Cuộc hành quân chỉ được báo cáo lên Trung Đoàn, sau khi tiếng súng tấn công bắt đầu nỗ, quân lính đã tràn vào căn cứ địa VC. Địch không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn. Lúc này mới gọi pháo binh rượt theo. Đại Tá Trần Bá Thành, Trung Đoàn Trưởng ngạc nhiên, phán một câu” Các chú làm gì lẹ vậy!”

Ba binh nhì Bé em, Bằng và Tùng cùng được thăng cấp hạ sĩ do chính Tư Lệnh Sư Đoàn Lê Minh Đảo và Tư Lệnh phó Quân Đoàn 3 Nguyễn Văn Hiếu đến gắn tại mặt trận. Lý do vì cả ba đã cùng loạt cận chiến, cướp vũ khí, chống lại địch khi thấy quân ta ào ạt xung phong tràn vào căn cứ địa Tiểu Đoàn 274 thuộc Trung đoàn 33 VC.

Từ ngày đó ba người như hình với bóng, ở chiến trường cũng như khi về hậu cứ.

Chiều ngày 8 tháng tư, Tiểu Đoàn hành quân từ ngã ba Hàm Tân Gia Rai lên hướng Bắc, Đông Bắc thì đụng địch mà theo suy đoán đây là quân tiền phương CSBV. Hai cánh quân đều đụng mạnh. Trung Úy Nguyễn Ngà, Đại Đội trưởng hy sinh. Toán thám báo của Thượng sĩ Bé lần theo dõi ba người đội nón cối mang túi trên vai xuất hiện trên đường đi Gia Rai. Đêm đó địch yên lặng. Nửa khuya máy PCR 25 Tiểu đoàn sôi ò è như có tín hiệu của Tiểu Đội thám báo nhưng không có tiếng nói.

Sáng sớm ngày 9 tháng tư,Tiểu Đoàn được lệnh rút về tăng cường chiến tuyến trong khi hàng ngàn đạn pháo của địch rơi xuống Xuân Lộc, mở đầu cuộc đại tấn công của quân đội CS.

Chiều ngày 9, Tiểu đội thám báo trở về nhưng thiếu mất toán ba hạ sĩ Bé em, Bằng và Tùng. Thượng sĩ Bé báo cáo đêm qua Tiểu đội phân tán thành ba toán ẩn mình vì khắp nơi trong rừng, địch di chuyển gần như suốt đêm, có cả tiếng động cơ xe tăng. Không dám gọi mà chỉ dùng hơi thở mà thôi, nhưng sau đó máy không phát sóng được. Đến sáng thì bị địch phát hiện. Các toán nỗ súng, zdọt lẹ, tìm đến điểm hẹn. Thượng sĩ Bé đợi đến chiều vẫn không thấy Bé em, Bằng và Tùng.

Bé anh tin tưởng với khả năng của người lính thám báo, ba người hạ sĩ sẽ trở về trong nay mai. Còn tôi, tuy thương ba người lính đặc biệt của đơn vị nhưng thật tình xem chuyện thất lạc của họ là chuyện bình thường của người tham dự cuộc chiến. Những năm tháng ở tù cải tạo, tôi thật sự không còn nghĩ đến việc đó nữa.

Năm 1984, sau khi ra tù, tình cảm thôi thúc khiến tôi về thăm Xuân Lộc. Về thăm Xuân Lộc như về thăm quê nhà, một quê nhà không có nhà cũ, vườn xưa, không có người thân thích chờ đợi, Nhưng thật không ngờ, không bao giờ nghĩ đến. Người đàn ông nhỏ con, một mắt đứng bên chiếc xe đạp thồ chờ khách ở bến xe đò lại là Bé em.

– Xin lỗi, có phải là ông thầy, à à là anh không? Bé em hỏi.

Tôi chìa tay ra. Bé em đưa cả hai tay chụp lấy. Chiếc xe đạp thồ cũ kỹ rơi ngã xuống. Cả hai chúng tôi nhìn chiếc xe ngã, cùng cười.

– ”Bằng và Tùng”? Tôi hỏi.

Bé em không trả lời ngay mà hỏi lại tôi về Thượng sĩ chỉ huy và anh em Tiểu đội thám báo.

Khi nghe tôi nói “Đầy đủ, chỉ có thiếu ba cậu”, gương mặt Bé em như bừng sáng với những giọt nước mắt đang ứa ra: ”Trời ơi! Em biết mà, em ở đây bao năm chờ anh Bé, chờ bạn bè, bây giờ thì quá sung sướng ông thầy ơi”.

Bé đưa mắt nhìn về khu đồn điền cao su, giọng buồn: ”Bằng và Tùng không còn nữa từ những ngày đó anh à”.

Một người đàn bà vừa kéo hai xách hàng xuống xe, quay mặt nhìn Bé em, gọi: “anh chột, cho tôi về Bảo Chánh”.

Bé em gượng mỉm cười nhìn người đàn bà, nói: “Bà chị thông cảm, xin gọi người khác, hôm nay tui gặp bạn cũ, mừng quá, phải đi lai rai với nhau một lúc…”

Thấy tôi nhìn vào con mắt chột của mình với vẻ ái ngại, Bé em cười : ”Ở bến xe này, em có tên là anh chột xe thồ. Người gọi, người nghe đều thích”.

Tôi ngồi lên xe đạp để Bé em chở về nhà.

– Về nhà em lai rai rồi em chở ông thầy đi khắp Xuân Lộc thăm cảnh củ người xưa. À, mà ông thầy tìm thăm ai ở đây”?

-Tự nhiên nhớ Xuân Lộc mà đi. Bây giờ bất ngờ gặp lại một người em. Tôi nói và thân mật vỗ vào lưng Bé em. Chiếc xe đạp nghiêng nghiêng như cùng xúc động với người đang cầm tay lái. Giọng Bé em run run:” Một thằng em chứ anh ba!”*.

Bé em nói đúng. Một thằng em, thằng em trong đơn vị, gọi lên nghe thật tình cảm như gọi thằng em trong gia đình mình.

Ghé qua nhà Bé em không đầy mươi lăm phút rồi lại chở nhau đi. Vùng đất này, xóm làng này,trước kia mình là người quen nhưng bây giờ là người lạ, bị để ý thì phiền. Mới ra tù, tờ giấy ra trại mang theo trong người dễ bị thu hồi lắm. Bé em hiểu điều đó nên không ép tôi ngồi lâu.

Đèo nhau trên xe đạp, chầm chậm đi khắp nơi trong thị trấn chiến trường cũ, tâm sự, nói cười không ai để ý.

Nhớ lại đêm rút quân, bây giờ vẫn còn buồn. Đêm đó, đi bên cạnh, Thượng sĩ Bé anh nhiều lần yêu cầu tôi cho Tiểu Đội thám báo ở lại Xuân Lộc chờ đợi ba người trở về. Lúc đó tâm trạng tôi không yên. Tôi không nghĩ nhiều đến cuộc đụng độ với VC trước mặt vì đánh nhau là chuyện bình thường. Hình ảnh những người vợ lính, con lính đứng trước cổng trại Long Giao, căn cứ Trung Đoàn 48 mới làm mình suy nghĩ, đau lòng. Họ lặng lẻ nhìn theo đoàn quân trong đó có chồng, có cha mà không một lời than, tiếng khóc. Chồng đi, cha đi, vợ con ở lại trong trại gia binh. Đêm nay họ thế nào? Ngày mai họ ra sao?

Dường như tôi đã nói với Bé anh với giọng bực bội ”Nếu được thì tôi cũng dẫn cả Tiểu đoàn quay lui”. Từ đó Bé anh im lặng.

Tiểu đoàn sau khi về Long Bình, cùng Trung Đoàn lên Trảng Bom làm tuyến chận ngay bên này đường xe ủi đất đào sâu cắt ngang Quốc Lộ1 để làm cản trở xe tăng T54 của quân CSBV tiến về Biên Hòa. Ngày nào Bé anh và anh em trong Tiểu Đội thám báo cũng đứng bên này tuyến trông chờ bóng ba người bạn xuất hiện bên kia để nhào qua cứu, nhưng mãi đến ngày 27 tháng tư, TĐ lại một lần nữa theo lệnh rút lui. Bóng ba người hạ sĩ vẫn không thấy. Từ đó, xem như Bé em, Bằng và Tùng đã hy sinh.

Còn ba người, trong thời gian đó, sau khi thất lạc đơn vị bị VC phát hiện, rượt theo “bắt cho được bọn trinh sát nguỵ”, như tiếng la lối om sòm của VC khắp nơi trong rừng. Ba người đã không thể tìm đến điểm hẹn. Bằng bị thương ở bả vai trái ngay từ khi bị VC phát hiện, bắn xối xả một loạt AK, may mà chỉ trúng một viên. Lúc đó Tùng ẩn mình sau một thân cây lớn, phóng dao găm cứu bạn. Còn Bé em cầm cây M79 trong tay nhưng không bắn được vì cây rừng chằng chịt.

Ba ngày đầu, ba người len lỏi trong rừng, tìm nơi kín đáo ẩn núp, ban đêm lần mò về hướng Xuân Lộc nhưng cũng không đi được xa.

Đối với người lính thám báo, vùng rừng đồi Gia Rai, Bảo Chánh không xa lạ gì, nhưng lúc này gần như nơi nào cũng có bóng dáng quân CS, mọi ngã vào Xuân Lộc đều bị lấp kín bằng xe tăng, lính bộ được ngụy trang rất khéo léo.

Bằng càng ngày càng kiệt sức vì máu ra nhiều và những cơn sốt hành hạ.

Khi lần mò về được vùng đồn điền cao su, thấy nhiều quân trang, quân dụng của quân đội CS còn vương vãi khắp nơi, ba người mừng rỡ, tưởng quân địch bị thiệt hại nặng, đã bỏ đi, ai ngờ họ vẫn còn đào hầm hố trú ẩn trong vùng bị đạn bom tàn phá, chuẩn bị cho cuộc tấn công khác.

Một lần nữa, ba người lại bị rượt đuổi. Bằng không đủ sức chạy trốn, dừng lại, tay phải cầm trái lựu đạn, đưa miệng cắn rút chốt, xoay người bung mõ vịt ném vào toán VC vừa rượt tới gần, tiếng lựu đạn nỗ ầm cùng với tràn AK. Xác bốn VC tung lên. Bằng cũng gục xuống. Còn lại Bé em và Tùng, nhanh nhẹn như sóc, băng mình từ gốc cao su này đến gốc khác tránh đạn địch và bắn trả khá chính xác. Thấy được một gò mối, hai người nhào đến, nép mình sau gò mối chống trả nhưng bốn bề bị địch bao vây, Khi Tùng trúng đạn cũng là lúc súng không còn viên đạn nào.Bé em còn trái lựu đạn cuối cùng, chưa kịp rút chốt thì bỗng nhiên một loạt đạn pháo rơi xuống ầm ầm, hất tung rừng cây cao su gãy đổ cùng với xác người. Bé em cũng bị hất tung nhưng may mắn sống sót, chạy thoát ra khỏi khu vực.

Thấy một chiếc xe chở công nhân đồn điền bị trúng đạn pháo, có bốn người chết chắc đã vài ngày, Bé em thay đổi áo của mình bằng chiếc áo công nhân trên xác người tài xế; sau đó nhập vào đoàn người chạy loạn, phần nhiều là đàn bà, trẻ thơ đói, khát đang nằm la liệt bên cánh rừng cao su.

Nhiều người mẹ lần mò đến các gốc cao su tìm nước trong những chiếc chén hứng mủ cao su cho con mình, nhưng chẳng ai được may mắn bởi vì những ngày qua không có mưa, còn mũ cao su trong chén thì đã đạc quánh. Bé em mệt mỏi rã rời, nằm lăn, ngủ thiếp giữa đám người đang khóc lóc.

Tiếng súng Ak chát chúa đánh thức Bé em dậy. Khoảng mười mấy người đội nón cối đang chĩa súng hò hét, lùa đám đông vào một khu đất trống gần một xóm nhà bị đạn bom tàn phá.

Một người chỉ huy lính CS tay cầm súng ngắn, tay chống nạnh, mặt hầm hầm la lối:”Bọn người này giúp bọn ngụy gài mìn, gài bẫy giết hại cách mạng rồi bỏ chạy theo Nguỵ, phải bắn bỏ hết. Phải trả thù cho các đồng chí đã hy sinh.

Hai người lính CS, mở cặp mắt trừng trừng nhìn đám đông, dò xét, tìm kiếm rồi kéo ra khoảng vài chục người có cả ông già, đàn bà dáng vẻ dân thành phố, tập trung trước hai cây súng đại liên.

Bắn, bắn hết, giết hết! Tiếng hét ra lệnh bắn, tiếng đại liên thi nhau nổ. Hàng loạt thân người đổ xuống, máu văng phủ đỏ màu xanh cỏ dại.

Bắn xong một loạt, như say máu, bọn CS không cần chọn lựa nữa mà chĩa súng đẩy đám đông ra từng nhóm. Toán thứ hai, thứ ba lần lượt bị đốn ngã. Bé em lọt vào toán thứ ba, đã khôn ngoan ngã xuống trước khi súng đại liên nhả đạn tới tấp. Những xác người ngã trên thân Bé, nhuộm máu. Không ai để ý vì tiếng khóc la của những người chờ phiên mình và tiếng rên rĩ của những người chưa chết hẳn.

Rồi Bé không còn nghe tiếng súng nổ nữa. Bé cho rằng họ giết người đã chê chán, tạm ngừng để đem người chết đi chôn. Bé nghe có tiếng động cơ nổ, bánh xe đang lăn về hướng mình. Bé suy tính không biết làm sao để thoát. Hay cứ để họ ném mình lên xe như một xác người rồi sẽ tính chứ chạy trốn lúc này chắc không thoát được.

Bỗng có tiếng người la lối ra lệnh: ”Không được bắn nữa. Tôi chịu trách nhiệm. Các đồng chí xem người nào còn sống thì tìm cách đưa người ta đi cứu.

Nhiều người bị thương nặng cất tiếng kêu la. Những người dân chưa bị bắn theo lệnh lính CS đến kéo những kẻ còn sống, có cả Bé ra khỏi đống xác người. Bé không chết nhưng con mắt trái bị mù vì tay hay đầu người nào đó khi ngã xuống đã đánh mạnh vào hoặc bị cây đâm mà Bé trong cơn thập tử nhất sinh đã không còn cảm giác đau đớn.

Cảnh tàn sát dã man người dân lành của lính CSBV làm cho Bé quá hãi hùng, kinh tởm. VIệc rút quân khỏi Xuân Lộc của QLVNCH làm cho Bé càng chán nản, đau buồn. Đầu óc Bé luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh những xác người bị súng đạn VC đốn ngã, cảnh hoang tàn, trống vắng, đầy mùi tử khí của thị trấn Xuân Lộc và các vùng chung quanh. Thế mà Bé em vẫn không về quê Gò Dầu, Tây Ninh ngay mà vẫn ở lại Xuân Lộc. Lý do vì Bé phải kiếm tìm và chôn cất Bằng và Tùng như lời thệ nguyện cam kết với nhau từ ngày ba người bị VC bắt, được giải cứu, cùng được thăng cấp hạ sĩ: Người chết sau chôn người chết trước.

Một thời gian, sau khi CS làm chủ Xuân Lộc, Sài Gòn, rất nhiều người đã tự đi tìm kiếm xác người thân chạy loạn, bị chết bỏ xác trong vùng đồn điền cao su dọc theo Quốc Lộ 1. Bé là một trong hàng trăm người đi tìm kiếm . Bé dễ dàng tìm ra xác hai bạn vì đã biết nơi bạn nằm xuống. Việc nhận xác có phần khó khăn vì xác đã mục rữa. Hôm đó cũng có mấy người bộ đội đi tìm xác. Thấy Bé em tay cầm thẻ danh bài, có người hỏi” lính đi tìm bạn phải không? Bé em không chút sợ hãi, gật đầu. “Anh trước mang quân hàm gì? Bé trả lời: Hạ sĩ. Còn hai người này? Cũng là hạ sĩ. Cũng là hạ sĩ à, ghê nhỉ. Định chôn đâu? Bé chưa trả lời thì người lính CSBV vừa chỉ tay ra ngoài khu đất trống cạnh đồn điền cao su, nói tiếp:” Ngoài kia còn chỗ trống, nhưng anh nhớ phải làm dấu kẻo mai kia chúng tôi hốt nhầm, không xứng đâu”.

Bé buồn và tức. Đất đai của mình họ đến chiếm, bây giờ lên mặt làm chủ, chưa chi đã phách lối. Ai cần nằm bên bọn họ mà sợ nhầm lẫn, không xứng.

Bé khóc khi gói ghém đem tạm chôn hai bạn ở gần Dầu Giây. Một thời gian sau, theo lệnh chính quyền địa phương đã dời xương cốt Bằng và Tùng đến chôn dưới chân núi Chứa Chan. Sau nhiều năm cây cỏ đã tràn lan che lấp, chính Bé đã một lần đến thăm nhưng không tìm ra được. Bé không buồn về việc này mà nghĩ rằng như vậy hai bạn được nằm yên, khỏi phiền lụy đến ai. Rồi đây, biết đâu người ta lại tranh giành nơi yên nghỉ của những xác người bại trận.

Buổi chiều, chở tôi trở lại bến xe đò, Bé nói: “Gặp được anh ba, em mừng quá, càng mừng hơn khi được biết anh Bé anh và anh em trong Tiểu đội Thám báo ngày đó đã về đầy đủ. Tội nghiệp anh Bé và các bạn hồi đó lo lắng cho ba đứa em nhiều”. Tôi ôm vai Bé em, nghe cảm xúc của chính mình và của bạn đang dâng lên.

Bé nói, giọng chân thành: ”Gần mười năm rồi, bây giờ mới có được một bàn tay siết chặt, ấm áp. Ông thầy cố giữ gìn sức khoẻ, biết đâu một ngày nào anh em mình lại cùng đứng bên nhau. Em còn muốn mang cấp bậc hạ sĩ anh ba à “.

Nguyễn Phúc Sông Hương

Posted in Hồi ký chiến trường | Leave a comment

Ngày mất Ðà Nẵng là ngày giỗ chồng

Văn Lang

 Chúng tôi gặp bà quả phụ Ðỗ Hữu Tùng vào một ngày Tháng Tư nóng điên người, khi bà vừa về thăm quê ngoài Ðà Nẵng trở vô Sài Gòn.

Bà quả phụ Ðỗ Hữu Tùng, tên thật là Nguyễn Thị Bích Liên, năm nay tính tuổi ta đã 77. Cuộc sống khó khăn, trải bao nhọc nhằn, chồng mất, một mình sau 1975 nuôi hai con nhỏ, nhiều năm nay bà phải điều trị chứng cao áp huyết, và mới đây lại có triệu chứng của bệnh Parkinson. Chúng tôi nhận ra điều này khi nhận thấy, lúc xúc động, tay bà rung rung từng đợt, giọng nói nhòe đi.
 


Bà quả phụ Ðỗ Hữu Tùng, 77 tuổi, bên những kỷ vật của chồng.

Ký ức Tháng Ba trở lại, chầm chậm như một đoạn phim tài liệu được chiếu nhiều lần, bà kể với chúng tôi giống như đã nằm lòng, mà không cần phải nói là bà đã nghe những chiến hữu của ông Tùng kể lại. Bà kể, như thể một nhân chứng đứng ngay trên bãi biển đó, nhìn thấy mọi việc và nghe lại được giọng nói thân quen của chồng.

10:30 phút sáng ngày 29 Tháng Ba, 1975, căn cứ Non Nước, bán đảo Sơn Trà, cửa biển Ðà Nẵng tràn ngập những sắc lính VNCH chờ tàu Hải Quân bốc đi, trong chiến dịch bỏ ngỏ vùng II. Pháo binh Cộng Sản bắt đầu tăng cường bắn phá dọc bờ biển.

Hai giờ chiều, hai chiếc tàu Hải Quân xuất hiện ngoài khơi. Một chiếc chạy vô bờ, nhưng còn cách bờ khoảng 500 mét thì bị pháo kích dữ dội…

Lúc đó Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng đi cùng với vị chỉ huy là Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc, là bạn đồng khóa 16, Võ Bị Ðà Lạt. Hai vị lệnh cho thuộc cấp, ai bơi được ra hai tàu đậu ngoài khơi thì bơi. Còn hai vị dự định quay lại Ðà Nẵng, và sẽ tìm cách ra ngoài hạm đội bằng trực thăng.
 


Hình ảnh cố Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng, nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6 TQLC, dưới cờ chiến thắng tại cổ thành Quảng Trị, 1972.

Khi chúng tôi hỏi, lúc ông Tùng rút quân về tới Ðà Nẵng thì bà có được gặp ông? Bà quả phụ cho biết: “Ðơn vị của anh Tùng từ Quảng Trị rút về Huế, rồi từ Huế rút về Ðà Nẵng. Tổn thất nhiều sĩ quan nên công việc chỉ huy đơn vị của anh Tùng rất bận rộn, không thể về gặp vợ con.

Anh chỉ kịp nhờ một người cháu cùng đơn vị, nhắn với bà là ‘cuộc chiến lúc này đang rất khó khăn, mà anh biết là anh không thể chung sống với Cộng Sản. Vậy nên em ráng sống để sau này nuôi con.”

Khi hai ông Tùng và Phúc rời khỏi bờ biển thì hầu như không có nhân chứng nào đưa ra được hình ảnh tiếp theo một cách chi tiết và xác đáng. Một sĩ quan truyền tin của Thủy Quân Lục Chiến kể, là sau khi liên lạc với Trung Tá Tùng qua sóng vô tuyến, thì nghe một tiếng nổ rất lớn, từ đó vĩnh viễn mất liên lạc.

Lại có nhân chứng nói, đã thấy hai vị chỉ huy lên trực thăng, nhưng bay chưa xa thì trúng phải đạn phòng không của Cộng Sản ngay trên bầu trời Ðà Nẵng.

Hàng năm, gia đình bà quả phụ Ðỗ Hữu Tùng lấy ngày 29 Tháng Ba, ngày Ðà Nẵng thất thủ, làm ngày giỗ ông.


Kỷ vật là những lá thư và đồ trận của Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Nuôi con những ngày gian khó
Sau khi bị mất ngôi nhà ở Sài Gòn, bà quả phụ Ðỗ Hữu Tùng đưa hai con về Ðà Nẵng.
Lúc đó, người con trai lớn – Ðỗ Hữu Nguyên Vũ, sinh năm 1969, mới được 6 tuổi. Và cô gái út, Ðỗ Tuyết Liên, sanh năm 1974, mới vừa được mấy tháng.

Bà quả phụ mới ngoài 35, từng tốt nghiệp trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, trong ngạch đã lên mức thượng hạng. Từng làm việc ở bệnh viện Từ Dũ, nhưng về Ðà Nẵng bà kiếm sống bằng nghề đan dây thừng bằng sợi nilông. Vì lúc đó, nhiều vùng ở Ðà Nẵng còn xài nước giếng quay tay, nên dây thừng là mặt hàng bán được.

Sau mấy năm, bà quyết định quay trở lại Sài Gòn. Nơi mà trước 1975, bà không chỉ làm cho bệnh viện, mà còn đem đơn thuốc tới mấy lab của pharmacy, lấy thuốc đem đi bán. Công việc bán thuốc Tây ngày trước giúp cho bà có tiền xây nhà ở Sài Gòn. Chứ thực sự lương của ông Tùng, dù là lương sĩ quan cũng chẳng thể nào xây được nhà.
 


Những lá thư cố Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng viết cho vợ từ Mỹ vào năm 1965.

Những năm khó khăn sau 1975, nhờ buôn bán mỹ phẩm tại khu chợ Trương Minh Giảng, bà tình cờ gặp lại “một người em” trong lực lượng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đi tù cải tạo về. Qua người này, bà được biết, trận đánh cuối cùng của TQLC tại Ðà Nẵng là chiều tối 29 Tháng Ba. Khi không ra được tàu Hải Quân, một đơn vị TQLC rút về tu viện Sơn Trà (Ðà Nẵng) lập tuyến phòng ngự.

Sau trận giao tranh ác liệt vào lúc chiều tối, đơn vị này rút đi, nhưng có một sĩ quan và một người lính đã dùng lựu đạn tự sát và được người của tu viện chôn cất đàng hoàng. 

Năm 1985 (hay 1986), bà lại tất tả cùng người con trai lớn trở ra Ðà Nẵng. Ðến tu viện, bà xin được hốt cốt của hai người lính TQLC, để nhận diện hài cốt chồng. Nhưng hai bộ hài cốt, một thì quá cao, một thì quá thấp, đều không thể là của ông Tùng. Bà đem hai bộ hài cốt về cải táng ở Gò Cà, vì không biết danh tánh, nên bà chỉ ghi trên mộ dòng chữ: “Hai chiến hữu của anh Ðỗ Hữu Tùng.”

Sau đó bà có báo tin cho bà Thiếu Tá Hoàng, vì ông Hoàng là chiến hữu cùng binh chủng. Bà Hoàng có đi nhận diện, nhưng qua hàm răng và chiều cao của hai bộ hài cốt, kết luận đó không phải là ông Tùng.

Bà Tùng quyết định bỏ việc bán mỹ phẩm, và xin quay trở lại làm việc cho bệnh viện, vì bà muốn con có một lý lịch “tốt” hơn, trong một xã hội còn nhiều kỳ thị, thời của “học tài, thi lý lịch.”
 


Hình ảnh đôi vợ chồng trẻ Ðỗ Hữu Tùng và Nguyễn Thị Bích Liên (tên thời con gái của bà Ðỗ Hữu Tùng) hình chụp năm 1966.

Ngày đi làm vất vả. Ðêm về bà kèm cặp cho con học hành. Khi các con đã yên giấc, bà đem quần áo ra may gia công kiếm thêm tiền chợ. Cho đến khi mệt quá bà mới thiếp đi. Nhiều đêm bà thấy ông Tùng trở về, tình cảm vợ chồng không hề xa cách, vì trong thâm tâm bà chưa bao giờ nghĩ rằng chồng đã chết.

Khi còn ở căn gác trọ đường Ký Con, có lần bà thấy ông Tùng lái xe Jeep bận đồ trận trở về, bà nói với hai con: “Ba con về kìa, hai đứa ra đón ba đi con!” Người con trai lớn là Vũ, ngơ ngác “con có thấy ai đâu?” Bà giật mình, lúc đó mới biết mình đang nằm mơ.

Kỷ niệm vẫn đong đầy

Bà rất vui khi nhắc lại thời còn học đệ thất Phan Châu Trinh với ông Tùng. Lúc đó, ông Tùng có biệt danh là “chuột nhắt” vì “nhỏ con nhưng mà lanh lắm.” Ông Tùng nhà nghèo nhưng học giỏi, viết chữ đẹp, lại giỏi văn. Bà đem khoe một va-ly những bức thư ông Tùng viết cho bà. Trong đó có những thư từ mặt trận Quảng Trị, có thư ông Tùng đi tu nghiệp bên Mỹ gởi về…
 


Bà quả phụ Ðỗ Hữu Tùng, con gái Ðỗ Tuyết Liên và cháu ngoại. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Bà cũng còn nhớ ngày được mời dự tiệc ăn mừng chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị năm 1972 với tướng Lân. Trong trận này, ông Tùng từ thiếu tá tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6, được vinh thăng trung tá lên nắm lữ đoàn. Bà được một nhà báo mời phỏng vấn, nhưng… trốn biệt. Sau đó giới truyền thông đưa tin là phu nhân của Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng còn rất trẻ, mới có 23 tuổi, kỳ thực năm đó bà đã… 32.

Ðiều mà hiện nay bà Tùng rất tự hào là hai người con đều tốt nghiệp đại học và đã có gia đình.

Người con lớn, Ðỗ Hữu Nguyên Vũ làm trong ngành ngân hàng. Cô con gái út, Ðỗ Tuyết Liên, trước kia làm cho hãng Philips. Sau khi có gia đình, là một kỹ sư nước ngoài, cô theo chồng sang sinh sống ở Singapore.

Tháng Tư này, Tuyết Liên về đưa mẹ qua Singapore chơi. Nếu sức khỏe của mẹ tốt, cô mong mẹ sẽ sống cùng cô và cháu ngoại, một cách lâu dài tại đảo quốc Sư Tử này.

Posted in Hồi ký chiến trường, Tản Mạn | Leave a comment

Trường Sơn Lê Xuân Nhị – Bắt Phong Trần Phải Phong Trần

Bắt Phong Trần Phải Phong TrầnTrường Sơn Lê Xuân Nhị
Bắt phong trần phải phong trầnCho thanh cao mới được phần thanh cao (Kiều) Nguyễn Du
Trung úy Phi Công Nguyễn Tân Luật dừng chiếc xe Honda trước cổng phi đoàn, mặt đỏ gay, chập choạng bước vào. Chục chai bia uống từ lúc trưa đến giờ với mấy người bạn xem chừng đã thấm vào máu, làm chàng cảm thấy lâng lâng yêu đời. Đáng lẽ Luật phóng xe thẳng về khu cư xá độc thân để ngủ một giấc nhưng lại đổi ý, quẹo xe vào phi đoàn chơi. Đối với đa số phi công Việt Nam thời ấy, phi đoàn không phải chỉ là một chỗ để làm việc mà còn là một nơi anh em gặp gỡ nhau để tán phét, để rút vội vài cây bài cào và nếu cần thì xuống câu lạc bộ để thọc vài ván bi da hay ăn uống nhậu nhẹt. Ngược lại, về cư xá thì chỉ nằm đọc sách và ngủ là hết. Ai muốn về cư xá để làm triết nhân hay để làm gì thì làm nhưng Luật thì không. Chàng thích đàn đúm và nhậu nhẹt với bạn bè hơn.

Luật biết rằng vào phi đoàn cái giờ này, tức là cái giờ tan sở của công chức thì thường hay gặp xếp lớn, (các xếp lớn Không Quân có cái thói quen khó hiểu là giờ làm việc thì lặn đi đâu mất tiêu nhưng hễ gần đến giờ tan sở thì lại mò vào rồi lại ở nấn ná đến quá giờ tan sở mới chịu về) nhưng chàng cóc cần. Luật đang nghỉ phép. Người phi công đang nghỉ phép thì có quyền vào phi đoàn mà không cần phải sợ… thằng Tây nào trách móc về tóc tai hay quân phục cả.

Luật toan thò tay mở cửa phi đoàn thì cánh cửa bật mở từ bên trong. Trung úy Trọng, biệt hiệu là Trọng Gàn bạn thân của chàng, mở cửa bước ra, mặt mày nhăn nhó khổ sở. Trọng Gàn mang biệt hiệu như vậy không phải vì mình gàn mà vì một lý do khác. Trọng ngày xưa là một giáo sư Trung học, tính tình nghiêm trang lại thích đọc sách và nói chuyện lý sự, nói chuyện triết lý và nhận định tình hình rất hay, không ai nói lại cho nên chúng nó trả thù, gọi Trọng là Trọng Gàn. Luật rất thích nói chuyện với Trọng Gàn đi biệt phái mấy phùa liên tiếp ít khi gặp nhau nên thấy Trọng Gàn thì Luật mừng lắm, hỏi:

– Sao thế mày? Đi đâu mà mặt mày một đống như thế? Mới thua bài hả?

Trọng Gàn lắc đầu cất giọng chán chường bảo:

– Tiền ăn không có tiền chó đâu mà bài bạc. Tao đang sầu đời vì ông Bạch vừa mới cắt biệt phái xong.

Không cần hỏi thêm Luật cũng biết mặt mũi Trọng Gàn gàn như thế thì nhất định không bị đi biệt phái Pleiku thì cũng phải khăn gói lên miền Phù cát. Đây là hai khu “Tây Bá Lợi Á” nổi tiếng của phi đoàn 114, bước xuống tàu bay là chuẩn bị đánh giặc cho đến ngày cuối cùng. Tối về thì nửa đêm thỉnh thoảng phải chạy thụt mạng xuống hầm để tránh đạn pháo kích. Luật cũng vừa trở về từ Tây Bá Lợi Á… Phù Cát cách đây hơn tuần nên chàng thông cảm với Trọng Gàn. Thông cảm nhưng đồng thời cũng nghĩ đến số phận mình, chàng hỏi ngay:

– Thế thì tao đi đâu?

Luật hỏi thế và hy vọng rằng sau 5 lần biệt phái Pleiku và Phù Cát liên tiếp, mình có thể được cắt đi Banmê Thuột hay Phan Thiết hoặc Nha Kỹ Thuật ở Sài-Gòn để đổi gió. Nhưng Trọng Gàn nhìn Luật lắc đầu, giọng cũng khổ sở như lúc nãy:
– Mày cũng không khá hơn nhiều lắm.

– Nghĩa là sao?

– Mày đi Quảng Đức.

Nghe như thế thì Luật bung ra một tiếng chửi thề ngay. Chửi thề và rủa thầm. Trước hết là rủa… trưởng phòng hành quân chơi đểu, hết chỗ rồi sao mà lại bắt chàng đi Quảng Đức. Mẹ kiếp, ông thiếu tá Bạch chắc có “tư thù cá nhân”, muốn đì thằng Trung úy Phi Công này rồi? Sau đó, Luật rủa luôn cái con người ngu xuẩn nào đã… lập nên cái thành phố miền núi nghèo nàn trơ trọi này. Thành phố chỉ lớn bằng cái nắm tay, phi trường bé tí tẹo nằm trên một ngọn đồi trọc, trước khi đáp thì pi-lốt nào cũng nghiến răng trợn mắt như đàn bà đẻ, chỉ sợ thắng không kịp thì nhào đầu xuống bên kia vực sâu thăm thẳm.

Chẳng những thế, xuống phi trường thì thấy phố xá đìu hiu, gồm có một tiệm ăn tàu, một tiệm chụp hình, một phòng nha sĩ, một phòng bác sĩ và một cái chợ nhỏ bày bán lèo tèo ba thứ cà tôm cà pháo vớ vẩn. Thành phố đã chán như thế, người cũng chẳng hơn gì. Thỉnh thoảng, như để nhắc nhở cho các khách bàng quan biết rằng thành phố này là một thành phố của người miền cao, vài người Thượng đóng khố đeo gùi, sắp hàng một đi, mặt mũi lạnh lùng và chai đá như những pho tượng đá thời trung cổ đã… đứng ngoài trời lâu năm. Người Thượng như thế, Người Kinh mình cũng chẳng hơn gì. Cả thành phố hình như chỉ toàn là lính, mặt mũi ai nấy nhăn nhó làm như chỉ chực đánh lộn.

Đàn ông đã thế, đàn bà còn tệ hơn. Có muốn kiếm một em điếm cũng không tìm thấy, nói gì đến các cô thôn nữ mặn mà để cho những thằng độc thân như chàng dở trò tán tỉnh.

Cái khổ nhất là thành phố ấy rất trầm lặng, chẳng hề có giặc giã. Biệt phái xuống đó thì chẳng có việc gì làm ngoài việc đi tắm suối hay đi câu cá hay nằm nhà đọc sách. Luật lắc đầu chép miệng, nghĩ tới 15 ngày biệt phái sắp tới…

Trọng Gàn lại nói:

– Nhưng đó chưa phải là cái tin đáng buồn lắm.

– Mày còn có tin gì buồn hơn nữa?

– Cái tin đáng buồn hơn nữa là mày đi biệt phái với thằng Linh Gà…

Nghe nói tới Linh Gà thì Luật lắc đầu, mặt xụ xuống một đống, buồn rũ rượi. Thấy bạn như thế thì bây giờ lại tới phiên Trọng Gàn an ủi Luật:

– Quên thằng Linh Gà đi. Mày đi Quảng Đức thì dù sao cũng đỡ phải đánh giặc, lâu lâu còn có thể xách tàu sang Đà Lạt hay Bảo Lộc ngủ một đêm cho sướng. Tao đi Pleiku mới chán cuộc đời. Hôm nọ đi họp quân báo nghe nói chúng nó kéo về mấy sư đoàn chung quanh Pleiku… Tướng Phú đã đem hết Sư đoàn 22 và 23 về đó hết rồi. Phen này chắc có đánh lớn. Me kiếp, đánh tao không sợ, chỉ ghét cái pháo kích…

Viễn ảnh của… 15 ngày biệt phái Quảng Đức làm Luật bỗng đổi ý, không muốn bước vào phi đoàn nữa. Chàng biết tính tình của mình. Mẹ kiếp, đang say say thế này mà vào trong ấy gặp ông Bạch trưởng phòng hành quân thì không chừng chắc có gây lộn hoặc ít nhất phải là mát mẻ vài lời cho đỡ cơn tức. Mẹ kiếp, đời nhà binh mà trung úy lại đi mát mẻ với thiếu tá thì chắc không bao giờ lớn được. Luật không muốn lớn hơn ai nhưng cũng không muốn nhỏ hơn ai cả.

Luật hỏi thăm bạn vài câu rồi an ủi bạn và cũng để tự an ủi mình:

– Mẹ kiếp, đi đâu thì cũng là quê hương Việt Nam. Bây giờ tao với mày đi… sang quán Phi hổ đàng sau để làm vài chai bia và nói chuyện đoi chơi. Đi với tao.

Trọng Gàn lắc đầu ngại ngùng:

– Thôi mày để tao về…

Luật ngạc nhiên vì biết Trọng Gàn cũng là một dân nhậu. Thằng này hôm nay mà dám chê bia thì chắc Việt Cộng cũng sắp chê… miền Nam, chuẩn bị rút hết quân về miền Bắc. Luật hỏi:

– Sao thế mày?

Cái lắc đầu của Trọng Gàn bây giờ càng có vẻ ngại ngùng và bối rối hơn. Đây là dấu hiệu của một người nói dối không quen:

– Không! Tao kẹt… À, không phải, đúng ra thì vợ đang cho ở nhà…

Nhìn mặt Trọng Gàn và nghe trả lời như thế thì Luật chợt hiểu ra ngay sự bối rối của bạn mà nãy giờ mớ bia trong máu đã làm chàng quên đi. Chuyện của Trọng Gàn Luật biết rất rõ.

Trọng Gàn tuy còn trẻ nhưng lập gia đình đã hai năm nay. Và cuộc đời Trọng Gàn từ khi lấy vợ thì khác đi thấy rõ. Hai vợ chồng rất nghèo.

Vợ Trọng Gàn ở nơi xa về, Trọng Gàn đã làm đơn xin vào ở trong cư xá sĩ quan đã hai năm nhưng không được, đành phải mướn tạm một mái nhà ở ngoài phố mà ở. Mới đầu thì nhờ tiền dành dụm của Trọng Gàn và của hồi môn và của gì không biết bên nhà vợ (đây là theo lời Trọng Gàn nói với bạn bè), hai Người còn mướn được một căn nhà tạm coi được. Năm đầu tiên là một năm đầy hạnh phúc của cặp vợ chồng mới cưới. Thỉnh thoảng, hai vợ chồng Trọng Gàn cũng mời anh em trong phi đoàn đến nhà ăn nhậu. Mỗi lần đến nhà Trọng Gàn ăn nhậu, Luật vẫn thầm khen Trọng Gàn là người phi công may mắn của phi đoàn. Cảnh sống của hai người hạnh phúc quá, đến nỗi một vài lần Luật tính bắt chước lấy vợ như Trọng Gàn. Nhưng may cho Luật vì chưa có cô nào thèm để ý đến chàng.

Rồi vợ Trọng Gàn sinh con. Đến lúc đó, tức là hơn một năm sau ngày Trung úy Trọng Gàn cầm lá đơn nộp cho ban Cư Xá của Sư Đoàn 2 Không Quân, cái nhà lý tưởng của hai vợ chồng vẫn còn là… lý tưởng vì họ chưa bao giờ nhìn thấy nó. Trong khi đó, của hồi môn và của gì không biết của bên vợ cứ càng ngày càng vơi đi. Rồi một ngày đẹp trời, vợ chồng Trọng Gàn phải mướn xích lô để dọn nhà. Không phải dọn vào khu gia binh trong khu cư xá sĩ quan ở bên hông phi trường với hàng dừa xanh mát bóng, với bãi biển hùng vĩ thơ mộng trước mặt mà về một căn nhà khác, nghèo hơn, nóng hơn, tồi tàn hơn, hàng xóm mất dạy hơn. Và dĩ nhiên, phải rẻ tiền hơn ở gần khu chợ Đầm Nha Trang.

Từ ngày đó đến nay là đã hơn năm rồi, Trọng Gàn chẳng còn dám mời ai về nhà nữa. Và chàng cũng vắng mặt thường hơn trong những buổi ăn nhậu với anh em. Luật biết Trọng Gàn là một con người tự trọng. Trọng Gàn không muốn để người ta đãi đằng mình khi mình không có phương tiện để làm ngược lại. Luật nói với Trọng Gàn:

– Anh em lâu ngày mới gặp nhau, tao đãi mày một chầu.

– Nói thật với mày, ăn nhậu nghe thì cũng thích lắm nhưng tao ngại quá…

Luật kéo tay chàng đi và nói:

– Ngại gì. Tao với mày lâu ngày mới gặp nhau mà. Tao còn nợ mày nhiều chuyện mà, như cái chuyện đã nói dối dùm tao để tao tán em Nga…

Nói xong Luật cưoi hì hì nhưng Trọng Gàn lại lắc đầu, khổ sở:

– Đồng ý tao có giúp mày nhưng món nợ đó mày đã trả rồi. Mày đãi tao hoài, tao ngại quá.

Lanh lẹ như Luật thì phải nghĩ ra ngay một chuyện để lừa bạn. Chàng vỗ vỗ vào túi áo bay ở trước ngực, cười hì hì:

– Nói thật với mày là tao mới ăn ván sì phé được mấy chục ngàn, mày không giúp tao xài hết đi để mai mốt thua lại cũng thế thôi.

Trọng Gàn dừng chân, quay nhìn bạn hỏi:

– Thật không mày?

– Hỏi thằng Phách thì biết. Tao vừa rửa đít nó sạch sẽ… Mẹ kiếp, cho chừa cái tật bố láo.

Thật ra thì Luật chẳng có rửa đít ai hết, vì Phách là một tay sì phé cự phách trong phi đoàn, nếu có đụng thì người bị rửa đít chính là Luật chứ không phải hắn. Luật muốn cho bạn ăn nhậu thoải mái nên mới chế ra như thế. Chàng nghĩ rằng nếu Trọng Gàn kiểm chứng được chuyện này thì mọi chuyện cũng đã xong. Tâm lý của Luật, và cũng như đối với đa số các phi công còn độc thân thời đó thì chuyện bạn bè mới là quý, còn chuyện tiền bạc thì không quan trọng lắm.

Hai người phóng lên xe Honda, Trọng Gàn phê bình một câu:

– Mày mà hạ được thằng Phách thì tao rất nên đi uống bia với mày để ăn mừng. Nó rửa đít tao không biết đã bao nhiêu lần rồi, rửa đến… mòn cả đít ra, mãi đến hôm nay mới có một thằng phục thù được cho tao.

Luật chỉ cười cười, không nói gì, phóng lên xe đạp máy…

Quán Phi Hổ nằm ở bên hông Không Đoàn 62 chiến thuật, thức ăn không ngon lắm, đồ nhậu cũng chẳng khá gì, nhưng bù lại, bà chủ quán xồn xồn có cặp mông đít rất lớn, cặp vú vĩ đại và tròn trịa lại hay làm biếng mang xú chiêng nên các anh hùng hảo hán tề tựu vào đây cũng khá nhiều. Mai vàng cũng lắm mà mai bạc cũng khá nhiều. Thế mới biết người Không Quân nhiều khi chuộng hình thức hơnlà nội dung.

Bà chủ quán đem ra hai chai bia lớn. Cặp vú trắng trẻo của bà thấp thoáng sau lớp áo cánh hở cổ thật lớn làm Luật… đau khổ nghĩ đến 15 ngày biệt phái Quảng Đức sắp tới.

Đã đóng vai ăn bạc, phải đóng cho trọn vẹn, Luật bạo mồm gọi một lúc mấy đĩa đồ nhậu trứ danh. Bà chủ quán vừa ghi thực đơn, vừa liếc mắt đưa tình Luật một cách rất lãng mạng như để khuyến khích cho chàng gọi thêm, gọi mãi. Lúc bà quay đi, Luật toan đưa tay ra vỗ vào cái bộ mông đít tròn trịa phì nhiêu ấy một phát nhưng Trọng Gàn đã trừng mắt nói:

– Chớ có làm thế. Đi uống rượu với tao không thể mất tư cách như thế được.

– Mày suốt đời khổ vì ba cái tư cách vớ vẩn. Mày không cho tao vỗ thì cũng có lắm thằng khác vỗ.

– Cứ để cho chúng nó vỗ. Nhưng đi với tao thì tuyệt đối không thể nham nhở như thế được. Giấy rách phải giữ lấy lề, mình phải giữ tác phong.

Luật chê bạn khó tánh rồi khui bia ra uống. Chẳng mấy chốc, hai ông phi công trẻ mỗi người đã uống đến chai bia lớn thứ năm. Và trí óc con người trời sinh ra sau chai bia lớn thứ năm nó cũng giống như người đang đi bộ trên mây ở tốc độ cỡ 500 dặm một giờ… Lòng người nào cũng thấy phơi phới yêu đời. Ngay cả Trọng Gàn cũng bớt gàn đi một chút. Hai người nói chuyện trời trăng mây nước một lúc rồi lại chuyển sang đề tài biệt phái. Luật nói:

– Mẹ, cha Bạch đểu. Thằng có tiền dắt chả đi ăn nhậu và biết nịnh bợ thì chả cho đi biệt phái Ban Mê Thuột, Sài gòn… Thằng nào nghèo cú xác như tao thì đi Pleiku hay Quảng Đức mút mùa lệ thủy.

Trọng Gàn nói:

– Thôi đi mày! Mày không biết rõ chuyện gì xảy ra, tao khuyên mày không nên đổ tội cho người ta như thế. Có tội.

– Cái tao thắc mắc là tại sao thằng Linh Gà kỳ này lại đi Quảng Đức. Mày biết nó, chỉ có những chỗ nào màu mở nó mới chịu đi, tại sao kỳ này nó lại đi Quảng Đức?

– Thì mày cứ túm lấy nó mà hỏi. Tao không thể đoán được. Và cũng không muốn đoán.

– Nếu thằng Linh Gà mà không có chè lá thì tao hỏi mày, tại sao suốt gần hai năm qua, nó chưa bao gio đi biệt phái Pleiku hay Phù Cát như tao với mày?

– Mày hỏi thế thì dĩ nhiên là tao không trả lời được, nhưng có một chuyện này mày cần nên biết. Biết để mà sống đẹp hơn.

– Chuyện gì?

– Mỗi một người, mỗi một gia đình, mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc đều trải qua một thời. Một thời như sách Kinh Thánh nói. “To everything, there is a season.” Một thời để sinh ra và một thời để chết, một thời để yêu và một thời để ghét, một thời của thương yêu và một thời của thù hận, một thời của chinh chiến điêu linh và một thời của thái bình hạnh phúc, một thời của bọn đạo tặc và một thời của những người công chính…

Luật cướp lời bạn:

– Mày nói thế mà đúng. Tao lâu lâu cứ phải đi uống rượu cho thật say, đúng như là sách nói là… một thời để say và một thỡi để tỉnh…

Trọng Gàn nhăn mặt:

– Sách nào lại nói một câu bá láp như thế, mày đừng có… chế biến. Điều quan trọng nhất tao muốn nói cho mày biết là tụi mình đang sống trong thời kỳ của đạo tặc, của bạo lực tham tàn, của lòng vị kỹ và của tội lỗi xấu xa…

Luật tròn mắt nhìn bạn:

– Mẹ bố, sao mày nói… kinh thế?

– Mày cứ nhìn quanh mình thì biết liền. Sự bất công đầy dẫy khắp mọi nơi. Bất công ngay từ trong phi đoàn mình, bất công ra đến xã hội bên ngoài, lan đến cả thế giới. Thời này là thời kỳ của quỹ vương ngự trị hoàn cầu. Đủ thứ quỹ. Từ quỹ đỏ Cộng Sản đến quỹ tham lam Tư bản. Thời của những người công chánh như tao và mày bị bắt hại. Và càng ngày càng tệ hơn…

Luật đẩy ly bia sang một bên, lắc đầu than:

– Đã lâu không gặp mày, tưởng gặp thì nghe được cái gì hay, hóa ra lại toàn chuyện gì đâu. Chán mày quá, làm sao mà bi quan như thế?

– Không bi quan đâu mày. Mày cứ nhìn chung quanh đi, thiên hạ đua nhau vơ vét, mua lon bán tước, gây bè kết cánh, có ai chịu nghĩ rằng nếu miền Nam Việt Nam mà lọt vào tay Cộng Sản thì bao nhiêu nhà lầu xe hơi, bao nhiêu lon tước cùng chức vụ sẽ như những tòa lâu đài xây trên cát, sẽ bị ngọn thủy triều đỏ quạt sập và cuốn trôi ra biển hết. Khổ một cái là chẳng ai chịu nghĩ tới cái việc trọng đại nhất là việc giữ nước mà cứ nghĩ tới chuyện nhỏ là chuyện vinh thân phì gia cho cá nhân mình. Tấm bi kịch của người Việt Quốc gia mình bây giờ là như thế.

Luật lắc đầu:

– Miền Nam mình làm sao thua trận với tụi Cộng Sản được? Bố láo.

Trọng Gàn cười khì:

– Cuộc chiến này, theo tao, đã sắp đến ngày tàn rồi.

– Con lạy bố. Mày muốn tuyên truyền cho Việt cộng hả? Coi chừng tao đi báo cáo.

– Không. Mày suy nghĩ đi. Mỹ rút về rồi, họ phủi sạch hai bàn tay rồi, bọn mình chỉ là những con cá nằm trên thớt.

Luật lắc đầu:

– Tao không bi quan như mày. Mẹ, mày thấy, mình đánh tụi nó chạy thục mạng ở khắp nơi, quân đội mình mạnh như thế này, Không Quân mạnh như vầy, sao mày bảo cá nằm trên thớt?

Trọng Gàn làm một ngụm bia, thở dài:

– Mày chạy xe Honda chắc mày biết. Xe mới mà cứ chạy mãi và không lo bảo trì, không lo tu bổ thì có mới đến đâu sau một năm cũng rụng bà chè… Quân đội mình bây giờ cũng như thế đấy. Xe tăng tàu bò máy bay đầy dẫy nhưng quốc hội Mỹ không viện trợ tiền để tu bổ, để tân trang thì chỉ chừng một năm nữa thì cũng nằm một đống hết. Ấy là chưa nói đến vấn đề đạn dược, xăng nhớt v.v… Thằng Mỹ nó nắm ngay cổ họng mình mày ạ.

Luật nghe như thế và bỗng thấy giật mình. Thật vậy, phi đoàn chàng từ ngày Mỹ rút, và đặc biệt sau ngày ký ngưng bắn thì tiếp liệu thiếu hụt hẳn đi. Phi cơ hư hỏng không có cơ phận thay thế phải lấy từ chiếc này lắp sang chiếc kia để bảo trì. Có lần chàng đã nghĩ tới vấn đề này và mơ hồ đoán nếu tình hình này kéo dài thì chắc chỉ trong vòng hai hoặc ba năm nữa thì tất cả phi công Việt Nam chắc thất nghiệp hết. Không Quân đã như thế, bộ binh cũng chẳng hơn gì. Có khi còn tệ hơn. Nhiều trận đánh đẫm máu diễn ra mà lệnh xuống từ quân đoàn là không được bắn quá 50 phát đạn đại bác, không được đánh quá 3 phi tuần khu trục v.v…

Chẳng những thế, tinh thần binh sĩ xuống rất thấp, nhất là sau ngày ký ngưng bắn. Chẳng ai muốn mình sẽ trở thành người lính chết trận cuối cùng sau ngày ngưng bắn.

Tiệc đang vui bỗng thay buồn. Trọng Gàn hít một hơi thuốc, làm một ngụm bia, nghe hơi rượu bốc lên phừng phừng trong huyết quản. Chàng tiếp:

– Chắc mày không biết tao là con trai út còn lại trong gia đình nên được miễn dịch. Tao đang dạy học cho một trường tư ngon lành, nhưng sau trận Mậu Thân thì tao tình nguyện đi lính. Mày biết tại sao không?

Luật cười:

– Vì thất tình, muốn “xa quê hương nhớ mẹ hiền” chăng?

Trọng Gàn nhăn mặt:

– Mày thì lúc nào cũng đùa được, chẳng bao giờ coi chuyện gì là quan trọng… Tao tình nguyện vì 2 lý do… không, đúng hơn là 3 lý do. Lý do thứ nhất là tao căm thù sự tàn ác của Việt cộng. Bố tao là xã trưởng bị Việt cộng chặt đầu chết hồi tao 10 tuổi và tao gần quên được thì trận Mậu thân xảy ra. Việc chúng nó chôn sống mấy ngàn đồng bào ở Huế làm tao phẫn nộ. Lý do thứ hai là thấy bạn bè ai

cũng đóng góp, chẳng lẽ mình là thân trai mà lại nằm nhà thì coi kỳ quá. Lý do thứ ba, nói thật với mày là tao cũng mê cái chiếc áo bay có mười tám túi.

– Ai bảo ngu đút đầu vào lính rồi bây giờ lại ngồi đây hối hận?

Trọng Gàn lắc đầu:

– Tao đâu có hối hận. Nếu được làm lại từ đầu, tao cũng làm y như thế.

Luật cụng ly với Trọng Gàn:

– Tao không hiểu nổi mày. Thôi uống đi bố, mai mốt đi Pleiku thì chỉ có nước phông ten để uống.

Hai ông phi công trẻ cạn ly bia. Luật bỗng đổi đề tài:

– Gia đình vợ con mày lúc này thế nào?

– Chán bỏ mẹ…

– Chừng nào thì vợ chồng mày dọn vào cư xá Không Quân mà ở?

Trọng Gàn lắc đầu:

– Chắc có lẽ tết Congo thì họa may…

Luật tròn mắt:

– Sao thế?

– Không có chỗ. Tao nghe nói nếu biết chạy chọt và đút lót thì cũng xin vào được đấy, nhưng tao hỏi mày, một thằng lính đi đánh giặc như tao…

Nói tới đó, Trọng Gàn vỗ tay xuống mặt bàn rồi lại vỗ vào ngực mình để làm tăng thêm phần long trọng cho câu nói:

– Một thằng lính đánh giặc như tao… như tao, hỏi mày làm sao tao có thể hạ mình đi đút lót hay đi cửa hậu để kiếm một chỗ trong cư xá được?

Rồi Trọng Gàn bỗng gầm lên, uất hận:

– Mẹ kiếp, nếu quân đội này, nếu chính phủ này không lo được một mái nhà cho một thằng lính đánh giặc như tao thì, nói thật với mày, nói ra thì đau lòng, nhưng tao lập lại, nếu đó là một sự thật thì những người cầm súng trong quân đội này là những con người khốn nạn và đáng thương nhất thế giới…

Luật không biết phải nói gì. Từ lâu, chàng đã đọc báo và nghe nói tới chuyện tham nhủng xảy ra khắp nơi trong quân đội mình, nhưng chàng cho rằng mình chưa bao giờ đã là một nạn nhân của tham nhủng cả. Từ lúc đi lính đến nay, ngoại trừ thoi gian mấy tháng ở quân trường ăn uống cực khổ mà Trọng Gàn cho rằng nơi nào cũng như vậy, còn thì lương lậu của chàng luôn luôn lãnh đầy đủ, quân trang quân dụng cũng không thiếu một món. Và chàng cũng chưa hề bị ai vòi tiền hay đòi hỏi này kia một cách vô lý. Đây là lần đầu tiên chàng nghe một chuyện như vậy.

Hai ông phi công bây giờ bỗng trở thành hai nhà hiền triết… say rượu. Hai Người chỉ cúi đầu uống rượu, không thèm nói thêm nữa, cũng không thèm đưa tay gắp đồ nhắm. Riêng Luật thì cũng không thèm đưa mắt liếc nhìn cặp mông bà chủ quán nữa.

Nhưng một lúc nào đó, Trọng Gàn lại bắt chuyện, nói:

– Hồi nãy tao nói với mày một câu, tao thay cần phải sửa lại.

Luật ngửng đầu, mắt nhắm mắt mở, hỏi:

– Câu gì? Mày nói nhiều câu quá, tao quên mẹ nó rồi.

– Tao nói những Người cầm súng trong quân đội này là những người khốn nạn và đáng thương nhất thế giới.

Luật nhún vai nói:

– Câu đó có gì mà cần phải sửa? Riêng tao thì tao thấy tao lúc nào cũng… đáng thương hết, nhất là khi gặp đàn bà đẹp. Chỉ sợ mình đáng thương như thế mà chúng nó không thèm thương mình.

Trọng Gàn lắc đầu, nhăn mặt nói:

– Mày say rồi, mới uống có mấy chai mà đã ăn nói lung tung như một thằng… Việt cộng.

– Đừng có vu khống, tao làm sao mà say được. Thế mày muốn sửa lại như thế nào?

– Sửa lại là những con người cầm súng trong quân đội này là những con người hy sinh cao thượng nhất thế giới…

Luật lắc đầu, cất giọng khề khà của một người đã quá chén:

– Vậy tao cũng là một con người cao thượng à? Mẹ kiếp, tao là một thằng nham nhở nhất thế giới mà mày dám bảo là cao thượng nhất thế giới thì tao xin chịu thua mày.

– Không, chữ Cao Thượng của tao ở đây có một ý nghĩa khác. Cao thượng có nghĩa là dám hy sinh mà không cần đền đáp, dám cho mà không cần nhận, dám quên mình mà nghĩ đến người, dám chịu đau khổ để cho người khác được sung sướng. Người cao thượng sinh ra để xây dựng chứ không tàn phá, để cho chứ không nhận, để làm đẹp cho đời chứ không tàn phá đời, đi phân phát niềm vui cùng nụ cười cho kẻ khác chứ không gieo chết chóc và kinh hoàng. Người cao thượng còn sinh ra để đi xây dựng lại những gì mà kẻ khác đã tàn phá. Theo tao, đa số những người mặc áo lính tình nguyện hy sinh là hình ảnh của những con người cao thượng. Nhưng tiếc thay, thời này là thời của những kẻ tiểu nhân chứ không phải những con người cao thượng…

Luật gật gù cái đầu, mắt nhắm mắt mở nói:

– Có lẽ mày nói đúng. Nhờ mày nói tao mới nhớ đến một chuyện… Phải, tao là một con Người cao thượng từ lâu mà tao không biết… Tao quả quyết với mày như thế.

Trọng Gàn nhăn mặt hỏi:

– Đừng có đùa với tao. Mày nhớ đến chuyện gì mà dám quả quyết như thế?

– Tại vì, mỗi lần làm tình thì tao chỉ muốn… nằm trên cao, không bao giờ chịu nằm dưới thấp… Mới đầu tao không biết nhưng bây giờ nhờ mày nói tao mới biết. Có lẽ tao có máu cao thượng trong người thật mà không biết mày ạ.

Trọng Gàn quắc mắt nhìn Luật, không biết bạn mình say rượu hay muốn đùa giai. Chàng hậm hực nói:

– Mẹ, ăn nói ngu như thế mà cũng nói được… Mày say mẹ nói rồi, mình đi về thôi… Bà chủ ơi, tới tính tiền dùm cho hai con người cao thượng này…

Ngày biệt phái, Luật cất cánh sớm. Mấy lúc gần đây, không biết thiếu tá Bạch muốn lấy điểm với ai mà thường hay dậy sớm, lái chiếc pick-up xanh ra đậu ngoài phi đạo để canh giờ phi công cất cánh.

Kéo con tàu lên cao khỏi thành phố Nha Trang, Luật bỗng cảm thấy thoải mái như một người vừa thoát ra khỏi một vũng lầy tù túng. Biết đâu chừng đi Quảng Đức như thế mà hay…

Luật bớt tay ga, vào cánh cản, nghiêng cánh quẹo con tàu để ra khỏi đường cất cánh của phi trường. Nhìn thay thành phố Nha Trang nằm gọn ghẻ dưới cánh mình, đẹp đẽ nhưng kiêu xa như một nàng trinh nữ con nhà giàu, chàng bỗng thấy tội nghiệp cho những con người ở phía dưới. Tội nghiệp cho cả chiếc xe pick-up màu xanh đứng lặng lẽ bên bờ phi đạo buổi sáng. Tại sao Người ta cứ uốn “xiết ốc” nhau nhỉ, Luật tự hỏi. Xiết ốc hay chỉ làm bổn phận? Luật lại nghĩ. Có thể cả hai… Ai cũng lo làm tròn bổn phận hay làm hơn bổn phận để lấy lòng xếp, để khỏi sợ bị đì, để khỏi bị đổi đi nơi khác…

Luật nghiêng tàu, lấy hướng đi Quảng Đức. Một lần nữa, nàng trinh nữ Nha Trang lại hiện ra dưới cánh chàng. Chàng thò tay đổi tần số đài kiểm soát sang tần số của Pickock, mớm thêm chút ga để lên cao và xa thành phố mau hơn chút nữa. Rồi chàng đưa tay lên thắt lại cái khăn quàng cổ và chậm rãi lấy một điếu thuốc ra châm lửa.

Cái lạnh buổi sáng sớm ở trên một độ cao chừng 7, 8 ngàn bộ là một cái lạnh tuyệt voi. Nó nhẹ nhàng, không làm cho người ta rét, chỉ đủ để cho người phi công phải kéo cao cổ áo, sửa lại cái khăn quàng, và đủ để làm cho điếu thuốc thêm mặn nồng hương vị…

Luật quay đầu, đưa mắt liếc nhìn thành phố Nha Trang một lần chót. Nói gì thì nói, không gì đẹp bằng một thành phố đang nằm ngủ nhẹ nhàng dưới những đám mây nhỏ vào một buổi sáng, Luật nhận xét như thế. Nhân loại dưới đó chắc phải hạnh phúc và an bình lắm.

Tự nhiên, câu nói của Trọng Gàn tối hôm kia lại trở về ám ảnh Luật. “Những con Người cầm súng trong quân đội này là những con người cao thượng nhất thế giới.” Sao cái thằng cả quỷnh này lại nói được một câu hay thế nhỉ, Luật thầm nghĩ.

Suốt từ lúc đó đến Quảng Đức, Luật cứ nghĩ về câu nói ấy…

Hơn một tiếng đồng hồ sau, 8 giờ 15 phút sáng, Luật nhìn thấy một chấm đỏ hiện ra trước khung kính phòng lái. Cái chấm nhỏ nhoi đến tội nghiệp nằm giữa một vùng rừng núi trùng trùng điệp điệp. Màu xanh thường là một màu đẹp, nhưng xanh như thế này thì cũng rợn người thật.

Và cái chấm ấy lớn dần cho đến khi Luật nhìn thấy toàn bộ thị xã Quảng Đức. Ngọn đồi trọc kia rồi, phi trường Quảng Đức. Luật bớt ga, hạ mũi phi cơ xuống. Vài phút sau, chàng đã lượn chiếc phi cơ trên đầu thành phố. Chàng nhìn thấy chiếc xe díp (Jeep) của biệt đội ở phía dưới, đang đậu trước một quán cà phê. Cuối mùa biệt phái mà tụi này còn có tiền đi uống cà phê thì thật là… nhân tài, Luật cười khi nghĩ như vậy. Chàng cắt ga bay thấp xuống ngay chỗ ấy, lượn và lắc cánh vài cái để làm dấu rồi làm phương thức vào đáp trên ngọn đồi.

Luật và Trung úy Nguyễn V. Linh, người sĩ quan phi hành đi chung với chàng, mở cửa tàu khệ nệ khiêng mấy cái va-li xuống…

Trung úy Linh, biệt danh là Linh Gà, là một con người khác hẳn với Luật và với Trọng Gàn. Khác rất xa.

Trong đời Linh Gà, hắn chẳng yêu ai cả, chỉ biết yêu tiền. Ngay từ hồi những ngày còn là một sinh viên sĩ quan ở quân trường, hắn đã biết mánh lới dọt ra phố để mua bánh mì vào bán lại cho những người sinh viên sĩ quan khác bằng một giá cắt cổ. Về phi đoàn, dù rằng làm đơn trễ nhưng Linh chạy chọt thế nào không biết mà xin ngay được một căn nhà trong cư xá sĩ quan. Các phi công trong phi đoàn đi bay về thì cởi áo đi ăn nhậu hay đi chơi nhưng Linh Gà thì khác. Hắn cũng cỡi áo bay, nhưng không phải để đi chơi mà ra sau nhà cho gà và cho heo ăn. Cái biệt hiệu Linh Gà cũng bắt đầu từ đó mà ra.

Linh Gà còn một nghề tay trái khác đó là nghề cầm thẻ lương cho anh em. Thẻ lương cầm 10 ngàn thì một tháng sau chuộc lại phải đưa cho Linh Gà 12 ngàn. Cứ như thế, một tháng Linh Gà cũng kiếm được sơ sơ vài trăm ngàn bỏ túi. Đi biệt phái, đánh giặc chẳng lo nhưng Linh Gà lại bỏ thì giờ đi tìm hiểu thị trường để đi biệt phái lần sau, Linh Gà chở lên đồ lên bán. Có một điều ai cũng biết mà không bao giờ nói ra là Linh Gà không bao giờ bị cắt đi biệt phái ở Pleiku hay Phù Cát. Anh em trong phi đoàn ai cũng ghét bỏ Linh Gà nhưng lại sợ Linh Gà. Đời lính thì chuyện cầm thẻ lương hay cầm đồ là chuyện thường, chọc cho Linh Gà giận thì hết cầm. Ngược lại, Linh Gà cũng chẳng cần ai thương. Hắn coi dư luận, coi lời đồn tiếng khen như cỏ rác.

Nếu Linh Gà chỉ có cái tật mê tiền thôi thì anh em không ai khinh rẻ Linh Gà như thế. Con người Linh Gà còn có nhiều thứ đáng khinh hơn nữa. Một lần, Luật và Linh Gà đáp xuống quận lỵ Cung Sơn là một quận lỵ nhỏ bé để chở người sang Tuy Hòa kiếm chút tiền còm. Việc này anh em trong phi đoàn thỉnh thoảng vẫn làm, trước là giúp đỡ đồng bào, sau là kiếm chút ít để cà phê cà pháo. Những người đi phi cơ này, thường thì là những người dân nghèo hay là lính đi phép. Họ sẵn sàng trả mỗi chỗ từ 3 đến 5 ngàn để được bốc xuống Tuy Hòa.

Hôm ấy, có một người lính bộ binh, sau khi thỏa thuận giá cả là 2 ngàn đồng, được Linh Gà cho lên phi cơ. Nhưng khi đáp xuống Tuy Hòa, người lính nghèo lại cho biết rằng vì tối hôm qua đánh bạc thua hết tiền nên túng làm liều, anh hứa ẩu để được lên phi cơ. Anh ta xin cho thiếu lần tới anh sẽ trả. Luật nghe như vậy thì chỉ cười khì một tiếng, nói với người lính:

– Không lý bây giờ tôi lại chở anh trở lại Cung Sơn? Thôi để lần sau vậy…

Chàng toan tống ga đi nhưng Linh Gà đã nhảy xuống khỏi phi cơ, móc súng chỉa vào đầu người lính bộ binh. Trước cặp mắt kinh ngạc của Luật và lo sợ của người lính, Linh Gà bắt người lính móc hết hầu bao ra cho hắn coi.

Luật không đồng ý với chuyện đó lắm vì 2 ngàn đồng bạc đáng giá chỉ bằng vài chai bia, không đáng để hành hạ một người lính nghèo như thế. Hơn nữa, ba chuyến trước mỗi người đã kiếm được khoảng hơn 10 ngàn rồi.

Người lính, tay thì móc hết túi quần túi áo ra cho Linh Gà coi, miệng thì năn nỉ. Hắn không có gì thật. Luật làm dấu gọi cho Linh Gà lên phi cơ nhưng đã nghe hắn quát:

– Nếu thế thì chú mày tháo… đôi giầy bốt đờ sô ra. Đôi giày đó tao cũng bán được 500.

Người lính năn nỉ muốn gãy lưỡi nhưng Linh Gà nhất định không chịu. Luật muốn leo xuống can thiệp cho người lính nhưng không thể bỏ phi cơ đang nổ máy. Mà tắt máy thì lại sợ bình điện đang yếu, không đề lại được thì khốn nạn cả lũ. Vì thế, chàng đành đau khổ ngồi nhìn cảnh Linh Gà lột đôi giày bốt đờ sô của Người lính ra…

Chuyện… buồn của Linh Gà chưa hết ở đây. Anh em còn khinh rẻ Linh Gà một điểm nữa là cái tính keo kiệt. Cái danh từ đúng hơn là bần tiện. Thật ra thì trên cõi đời ô trọc này ít có người nào mê tiền mà lại không keo kiệt. Nhưng cái sự keo kiệt bần tiện của Linh Gà nó vượt xa hẳn những người khác trên thế gian này. Linh Gà keo kiệt ngay cả với vợ con mình. Trong lúc Linh Gà kiếm được nhiều tiền như thế thì vợ con Linh Gà phải ăn gạo xay, thịt hộp nhà binh và mặc áo quần cũ. May người trong cư xá bảo không bao giờ thấy vợ Linh Gà có tiền trong túi để đi sắm quần áo bao giờ. Vợ đi chợ, Linh Gà đưa đủ số tiền. Mua gì về thì phải kê khai đầy đủ và tiền dư phải đưa lại. Đối với thân mình, Linh Gà cũng khắt khe ghê gớm. Hắn không bao giờ dám uống chai bia hay ăn một tô phở. Anh em ghét Linh Gà đến nỗi có một bài vè trong phi đoàn vẫn thường đọc cho nhau nghe như sau:

Linh Gà nuôi gà,

Đi xa gà chết,

Đến Tết hết gà,

Linh Gà ngồi khóc…

Linh Gà dắt đào

vào tiệm ăn phở

Đào ăn tô nhỏ

Linh đại xì bàng

Đào uống cà phê

Linh cô ca sửa

thêm hai quả trứng

Ăn xong Lính bảo

Anh bỏ quên bóp

Em trả tiền giùm…

Mọi Người trong phi đoàn đều ghét Linh Gà nhưng Luật thì không ghét mà lại thấy tội nghiệp cho gã. Lúc nghe tin mình đi biệt phái chung với Linh Gà, Luật buồn lắm. Chàng buồn không phải vì ghét bỏ Linh Gà nhưng chỉ sợ rằng đi biệt phái 15 ngày phải ở chung với Linh Gà rồi mình sẽ bị nhiễm cái tính mê tiền và keo kiệt như Linh Gà để anh em khi rẻ.

Hành lý của Luật chỉ có cái va li nhỏ và một túi đựng sách nhưng Linh Gà thì mang theo tới bốn thùng carton và một cái va li khá lớn cũ mèm. Luật biết đó là những món đồ Linh Gà chở lên đây để bán cho người ta nhưng vì tế nhị chàng không hỏi. Chàng lịch sự phụ với Linh Gà khiêng hành lý xuống đất.

Xuống hết mớ hành lý thì chiếc xe díp của biệt đội cũng trờ tới. Một màn bắt tay và chào hỏi giữa Người đi và người đến diễn ra. 15 phút sau, chiếc L-19 của phi hành đoàn cũ cất cánh, phi hành đoàn mới phóng lên chiếc xe díp đi về biệt đội…

Sắp xếp dọn đồ dọn đạc xong, Linh Gà sách xe díp chở hàng đi giao. Hắn ra đi mà không thèm nói với Luật một lời nào. Biệt đội chỉ có hai người và một chiếc xe, nếu là một người lịch sự thì khi lấy xe đi đâu phải hỏi người kia một tiếng. Nhưng đối với Linh Gà thì chuyện lịch sự là một chuyện xa xỉ. Luật là một người dễ dãi, chẳng cần để ý đến. Chàng nghĩ rằng mình chẳng cần đi đâu, hắn muốn đi thì cứ để cho hắn đi, thắc mắc làm gì để làm mất hòa khí với nhau.

Căn nhà của biệt đội Quảng Đức nằm trên một ngọn đồi, ngọn đồi nhìn xuống một con sông đi bộ năm phút là tới. Đối với những con người có tâm hồn thơ mộng như Luật, khi biệt phái xuống đây vào mùa hè thì việc tắm suối là một cái thú. Có khi anh em còn đem lò ra bờ suối ngồi nướng khô mực và uống bia. Linh đi rồi, Luật thay đồ dân sự, mở va li lấy một cuốn sách, một cái khăn, một cái poncho rồi tà tà đi bộ xuống suối. Chàng kiếm một chỗ mát dưới rặng cây, trải pon-cho xuống, cuộn cái khăn làm gối rồi nằm đọc sách.

Chàng nằm đọc sách một lúc rồi ngủ thiếp đi. Trước khi chìm vào giấc ngủ nhẹ nhàng, chàng thấy mình thật là con người hạnh phúc…

Cứ như thế, vì thành phố không có giặc nên những ngày biệt phái của Luật qua đi một cách thoải mái như những ngày nghỉ hè sau một thời gian khá lâu ở chiến trường tam biên khói lửa.

Linh Gà thì ít khi có nhà, lúc nào cũng lăng xăng đi chỗ này đi chỗ kia để bắt áp-phe kiếm tiền. Mỗi lần nhìn thay Linh Gà phóng xe ra đi, Luật nghĩ không biết ai đặt tên cho Linh là Linh Gà thật là đúng vì con người Linh Gà lúc nào cũng lăng xăng như gà, hết đi chỗ này rồi đến chỗ kia để chạy chọt bắt áp phe kiếm tiền.

Nhưng có một điều hơi lạ lần này, thỉnh thoảng Linh Gà dắt về biệt đội mấy tay an ninh quân đội của tiểu khu. Không biết họ nhỏ to gì với nhau nhưng có điều bí mật lắm. Khi Luật bước vào phòng thì mọi người trở nên im lặng.

Mới đầu thì Luật ngạc nhiên nhưng nghĩ lại, thấy rằng mình chẳng có gì phải lo cả. Bạn của Linh Gà thì hắn muốn làm gì thì làm, hơi sức đâu mà để ý đến? Tuy nghĩ vậy, nhưng Luật biết chắc rằng Linh Gà đang có một âm mưu gì đó. Và đối với Linh Gà thì hắn còn có âm mưu gì ngoài cái âm mưu… kiếm tiền. Luật kết luận như vậy và quên những chuyện đó đi.

Sang đến tuần biệt phái thứ hai thì một tối, Linh Gà đề nghị với chàng một chuyện làm ăn. Nằm nhà mãi cũng chán, nghe Linh Gà đề nghị như thế thì Luật hỏi liền:

– Như thế nào?

– Chở gạo và nước mắm vào Đức Xuyên bán…

Tưởng gì chứ chuyện chở gạo chở muối vào Đức Xuyên là một chuyện xưa như trái đất. Đức Xuyên là một thị trấn nhỏ, đúng hơn, một chi khu nằm cách Quảng Đức chừng 30 dặm đường chim bay. Khi chiến cuộc bùng nổ, Việt cộng đã cô lập Đức Xuyên bằng cách cắt đứt con đường quốc lộ chính. Vì thế, mỗi tháng một lần hay tùy theo nhu cầu, tiểu khu phải mở đường để tiếp tế cho quận này. Tóm tắt, quận lỵ này hoàn toàn bị cô lập với thế giới bên ngoài ngoại trừ khi có con-voa mở đường hay có phi cơ tiếp tế.

Nói về tiếp tế bằng phi cơ thì cách đây chừng 5 năm, khi Không Quân Việt Nam chưa có nhiều trực thăng thì phi cơ L-19, vốn là một loại phi cơ nhẹ với 2 chỗ ngồi nhưng anh em thỉnh thoảng cũng tháo ghế sau ra và bay vào Đức Xuyên để làm ăn. Chuyến bay vào thì chở gạo nào nước mắm, còn chuyến bay ra thì chở người. Luật nghe kể, cái thời vàng son đó có người đi biệt phái Quảng Đức 15 ngày về thì có đủ tiền để mua xe Lam-bret-ta, xe gắn máy v.v… nhưng những ngày vàng son của L-19 đã hết khi Không Quân được trang bị phi cơ trực thăng. Một chuyến trực thăng UH bay bằng 20 chuyến bay của L-19 nên nguồn lợi béo bở này bị lọt vào các tay phi công trực thăng. Phi công L-19 chỉ biết cười buồn…

Cười buồn mãi cho đến hôm nay, Luật giật mình khi nghe Linh Gà nói như thế. Chàng hỏi:

– Mấy thằng trực thăng đâu hết rồi mà người ta mới cần tới mình?

Linh Gà cười đểu:

– Tao gài cho chúng nó… bị an ninh bắt hết rồi.

Luật giật mình, nhớ lại mấy người an ninh thưong hay bí mật nhỏ to với Linh:

– Mày làm sao mà làm được vậy?

Linh Gà cười bí hiểm:

– Tuần lễ vừa qua mày thay tao sách xe chạy đi khắp nơi, mày tưởng tao đi cua đào hả?

– Không, nhưng tao không biết mày đi đâu.

– Mẹ, tao đi lo lót chạy chọt chớ đi đâu. Mày phải nên nhớ rằng trong cuộc đoi này, con người ai cũng có lòng tham hết. Cái vấn đề là phải biết khai thác đúng chỗ và đúng lúc thôi. Tao nắm được tụi an ninh quân đội ở đây, nắm luôn cả tụi an ninh Đức Xuyên thì chuyện gì tao lo không được. Mẹ kiếp, tụi phi hành đoàn trực thăng bị tao gài bẩy, cho an ninh tóm trọn và đem về nhốt hết. Nhẹ lắm thì chúng nó mỗi đứa sẽ bị xuống một lon mà nặng thì có thể ra tòa án quân sự. Cho chết mẹ tụi nó, tao không ưa mấy thằng trực thăng.

Luật cảm thấy làm vậy không được. Không ngờ Linh Gà còn có một tính xấu thâm hiểm như thế. Chàng nói:

– Nhưng mày nỡ nào vì mấy chục ngàn bạc mà đi hại tụi phi hành đoàn trực thăng tàn nhẫn như vậy? Tụi mình dù sao thì cũng cùng mặc áo bay với nhau, làm vậy tao thấy coi không được…

Linh Gà lắc đầu, mắt long lên:

– Mẹ kiếp, bọn nào nằm trên đường đi của Linh Gà này thì bọn đó phải bị triệt hạ. Bây giờ mày trả lời cho tao nghe, mày có muốn đi làm ăn với tao hay không thì bảo. Mày mà không làm tao kiếm người khác làm.

Luật ngồi suy nghĩ. Thằng Linh Gà đã dám gài an ninh bắt nguyên cả một phi hành đoàn trực thăng như thế thì chuyện gì nó không dám làm. Hơn nữa, có lo nghĩ thì chuyện cũng đã xong rồi. Mình không làm thì nó sẽ kiếm người khác làm thật, và chẳng những thế, nó có thể gài để an ninh làm khó mình. Ở chung phòng với một thằng thâm hiểm như thằng này thì phải cẩn thận như đang ở trong chuồng với một con rắn độc. Chàng hỏi:

– Tao đồng ý, nhưng chi tiết về việc làm ăn như thế nào?

– Dễ lắm. Tao biết những gì họ cần. Tao sẽ mua hàng rồi chở lên phi trường, mình chất lên máy bay, mày lái đáp xuống Đức Xuyên thả đó. Chuyến về, đại úy Quang quận trưởng sẽ giao cho mày 5 hành khách, mày cứ chở về đây…

Nghe nói tới 5 hành khách, Luật thấy hơi lạnh người. Thật ra thì chàng đã nhiều lần chở tới 5 người trong phi cơ, nhưng đó là ở phi trường Cung Sơn là một phi trường khá dài. Còn phi trường Đức Xuyên là một phi trường nhỏ, ngay cuối đầu phi đạo lại có một hòn núi. Lái không khéo là mất mạng như chơi.

Linh Gà vỗ vai Luật:

– Mẹ, mày còn nhỏ mà nhát như thỏ đế. Cơ hội không có đến nhiều lần đâu. Tao với mày xong cú biệt phái này thì mỗi đứa phải có chừng vài trăm ngàn bỏ túi…

Luật thở hắt ra:

– Mày nói vài trăm ngàn?

– Phải. Mỗi ngày mày bay 5 chuyến, mỗi chuyến khứ hồi như thế mình gom được 20 ngàn. 5 chuyến là 100 ngàn. Từ ngày mai đến ngày đổi biệt đội còn 7 ngày nữa, mình sẽ kiếm được tổng cộng 700 ngàn. 700 ngàn đó chia ba. Tao lấy 300 ngàn, mày lấy 200 ngàn, đại úy Thạnh sĩ quan liên lạc Không Quân lấy 200 ngàn.

– Còn tụi an ninh thì sao?

Linh cười:

– Thằng này coi thế mà ngây thơ. Tụi tao đã chia hết cho chúng nó rồi, mày khỏi lo.

Tối hôm đó, Luật lên giường ngủ với hình ảnh của 200 ngàn đồng trong túi áo. Đây là một số tiền khá lớn. Lương trung úy của chàng mỗi tháng chỉ có 25 ngàn, bây giờ bỗng nhiên ôm được 200 ngàn đồng một lần thì làm sao mà ngủ cho được. Những lần ghé Cung Sơn trước kia, ngày nào đắc khách lắm chàng chỉ kiếm được tối đa là vài chục ngàn.

Trước khi chìm vào giấc ngủ, Luật mơ hồ nhớ đến Trọng Gàn. Nhớ đến những lần đến đến nhà Trọng Gàn chơi hồi hắn còn ở căn nhà cũ. Hai vợ chồng thật là dễ thương và hiền hậu. Rồi tim chàng se thắt lại khi nhớ lại những thay đổi của Trọng Gàn lúc sau này. Thằng Trọng Gàn ngày xưa đâu có như thế nhỉ? Trọng Gàn ngày xưa là Trọng Gàn của hào sảng, của những bản bi-bốp đẹp nhất sàn nhảy Nha Trang.

Luật quyết định hôm nào đi Quảng Đức về, sẽ chia một nửa số tiền mình kiếm được cho Trọng Gàn. Luật biết chắc rằng Trọng Gàn sẽ không lấy. Nếu thế thì mình phải nghĩ ra một kế mới được. Kế kiếm tiền thì khó chứ kế…cho tiền thì rất dễ. Luật tuy là một con người hiền lành dễ dãi, nhưng khi hữu sự thì cũng biết nẩy ra những cái kế lạ… Kẻ nào bảo Luật ngây thơ như thằng Linh Gà hồi chiều là chưa biết Luật đó thôi…

Phải, nếu Linh Gà biết Luật nhiều hơn chút nữa thì hắn không nói như thế đâu…

Những ngày kế tiếp của Luật và Linh là những ngày bận rộn. 5 chuyến bay tuy rằng mỗi chuyến chỉ mất 25 phút bay thôi nhưng cái màn cực khổ nhất là màn chất đồ và xuống đồ. Phi cơ L-19 thì nhỏ, tháo ghế ngồi phía sau xong chưa đủ, Linh Gà cho người cơ phi tiền để hắn tháo luôn may cái radio UHF và VHF to lớn kềnh càng ra. Tánh Linh Gà lại tham lam nên chất đồ nặng đến nỗi bánh xe phi cơ của L-19 xòe ra gần như sắp gẩy. Phi trường Quảng Đức lại là một phi trường nhỏ nên mỗi lần cất cánh là mỗi lần Luật phải cầu nguyện. Cầu nguyện thực tình chứ không phải chơi.

Đáp xuống Đức Xuyên rồi cất cánh lên trở lại cũng ghê gớm không kém. Tàu nặng như thế mà chở tới 5 Người, tuy tàu bay hỏng mặt đất thật nhưng Luật biết chỉ cần một cơn gió giật là cả người lẫn phi cơ sẽ bị quất xuống mặt đất bẹp dí như con muỗi bị ai đập. Chỉ tội mấy Người hành khách bat đắc dĩ của chàng. Chẳng ai biết là mình có thể bị chết bất cứ giờ phút nào, mặt mũi ai nấy tươi rói, cười nói tự nhiên như đang đáp tàu bay của Hàng Không Việt Nam.

Nhưng rồi chuyện gì cũng quen đi. Sang đến ngày thứ ba thì Luật không còn thấy gớm mỗi khi cất cánh nữa. Lý do đơn giản là chàng biết, nếu tàu bay rớt thì mình đã bị rớt rồi. Bay chở nặng bao nhiêu chuyến như thế mà không rớt thì chắc không rớt được nữa đâu.

Bây giờ có đồng ra đồng vào rồi thì buổi tối Luật không còn nằm trong phòng biệt đội đọc sách nữa mà lại đi ra quán ba tầu ngồi uống rượu. Bạn rượu của chàng luôn luôn có đại úy Thạnh, tư lệnh Không Quân… địa phương và các tay máu mặt trong thành phố như bác sĩ hay trưởng ty. Các quý vị thân hào nhân sĩ này rất quý mấy anh phi công vì quý các anh… có nhiều cái lợi. Có một lần, 10 gio đêm chàng đã bay sang Bảo Lộc để tìm mua cho con trai của một vị trưởng ty công chánh một chai thuốc quỹ thần gì đó. Chàng đi như thế là vì lòng nhân, vì nghe bác sĩ nói nếu thằng bé không có thứ thuốc ấy thì sẽ chết. Đó là một lần quan trọng. Còn những lần không quan trọng như chở các vị sang Đà lạt hay Bảo Lộc để nhảy đầm hay ăn thịt chó và chơi bời rồi chở về là chuyện rất thường.

Chiều hôm ấy, uống được vài phùa thì chàng bỗng nẩy ra ý nghĩ muốn đi Bảo Lộc ăn thịt chó. Phải, thành phố Bảo Lộc có một quán thịt cầy nổi tiếng… thế giới. Đối với Luật, văn hóa miền Bắc đem vào miền Nam nhiều thứ, từ văn thơ cho tới âm nhạc, cái gì cũng hay cả nhưng không có thứ gì quý cho bằng món chả chìa và món rựa mận. Mỗi lần gặm một miếng chả chìa thơm phưng phứt, chàng thường thấy tội nghiệp cho nhân loại. Nhân loại đau khổ bởi vì nhân loại không biết thưởng thức thịt chó. Nếu cả thế giới này ai cũng biết thưởng thức thịt chó thì người ta sẽ dễ dãi và thương yêu nhau nhiều hơn nữa…

Thế là chàng lên tiếng rủ rê và kiếm được mấy đồng chí ngay. Đại úy Thạnh là một, thiếu tá y sĩ Quyền là hai, trung úy Tâm trưởng đồn quân cảnh là ba. 15 phút sau, Luật cất cánh chiếc L-19, chở ba người khách quý ngồi phía sau. Bay qua khỏi rặng núi của dãy Trưong Sơn là nhìn thấy thành phố Bảo Lộc ngay. Luật đáp chiếc phi cơ xuống phi trường vỉ sắt Bảo Lộc lúc trời chiều vừa bắt đầu tắt nắng. Nhờ các “thân hào nhân sĩ” đã gọi máy trước nên đã có sẵn hai chiếc xe díp nhà binh đã đậu sẵn ở phi trường để chở phái đoàn đi ăn nhậu.

Đúng như ý muốn của mọi người, món thịt chó quả là tuyệt vời. Luật thầm nghĩ giá hôm nào đất nước thanh bình mình được giải ngủ, chắc phải dọn nhà lên Bảo Lộc ở để được ăn thịt chó hàng tuần.

Troi sinh ra con người kể cũng hay, khi đói thì chỉ nghĩ tới ăn nhậu, nhưng ăn nhậu phủ phê xong thì lại nghĩ đến chuyện khác. Và chuyện này cũng quan trọng không kém chuyện ăn nhậu. Không có nó thì không thể sống được, chết sướng hơn. Chẳng cần phải rủ rê nhau, tất cả lại chất lên xe để phóng tới cái nhà Thổ nổi tiếng là ngon lành của thành phố Bảo Lộc.

Lúc đó ai nay rượu đã ngà ngà say nên chẳng còn ai giữ thể thống gì nữa cả. Bác sĩ Quyền kể chuyện làm ăn với mấy em y tá hồi còn ở nội trú như thế nào. Đại úy Thạnh cũng kể chuyện một bữa chở phái đoàn ca sĩ đi từ Sàigòn ra Pleiku nhưng troi xấu phải đáp xuống Đà lạt, vì không có ngân quỹ để mướn phòng nên đại úy Thạnh một mình phải “hy sinh” ở chung phòng với sáu cô ca sĩ, và tối hôm ấy những chuyện gì đã xãy ra cho Người phi công “xấu số” ấy… vân vân và vân vân… Tiếng cười nói vang động cả đường phố. Lúc ấy hình như đã quá giờ giới nghiêm nhưng chẳng có ông quân cảnh nào muốn tốp một chiếc xe có một ông trung úy đồn trưởng quân cảnh ngồi trên đó…

Luật chỉ ngồi nghe vì chàng chẳng có gì đặc biệt để kể…

Vào động rồi, mỗi Người chọn một em thơm phức và chia nhau vào các phòng để hưởng lạc. Riêng Luật, chàng nhìn đám con gái trẻ đẹp trước mặt chưa biết chọn ai thì bỗng có một em quay mặt bỏ đi. Động tính hiếu kỳ, chàng quay sang bảo bà tú bà, tay chỉ vào người con gái:

– Tôi muốn cái em tóc ngắn vừa bỏ đi đay.

Bà chủ gật đầu, tặng cho chàng một nụ cười bí mật :

– Con Phương đó. Gái con nhà lành mới ra nghề nên còn hay mắc cỡ, nhưng cậu để tôi lo. Cậu cứ vào phòng cho tôi.

– Bà đưa tôi một cái áo mưa, lát tính tiền luôn.

Luật cầm lấy chiếc áo mưa bước vào phòng. Chàng cỡi quần áo, treo cây súng ở đầu giường và leo lên giường nằm cho…

Chừng năm phút sau, chàng nghe được tiếng khóc thút thít của Người con gái và tiếng nói của mụ tú bà ở bên ngoài cửa phòng mình:

– Đã làm nghề này thì con phải ráng chiều khách chớ con. Tao thấy nó cũng say rồi, chắc nó không nhớ mày đâu…

– Hu hu… con khổ quá bác ơi.

– Mẹ, đã vào chỗ này mà còn bày đặt khổ với sướng. Mày phải biết nghĩ đến tiền thôi. Tao ngày xưa mà vớ được một ông quan hai tàu bay đẹp trai ngon lành như thế thì có chơi không tao cũng chịu…

Luật giật mình. Trước hết, tại sao bà chủ lại bảo “chắc nó không nhớ mày đâu?” Người con gái này là ai nhỉ? Lúc nãy ở ngoài phòng hơi tối, và chàng chưa kịp nhìn rõ được mặt nàng thì nàng đã quay đi.

Nhất định nàng phải biết mình nên mới bỏ đi và khóc hu hu lên như thế. Luật đoán có thể đây là một em nữ sinh trường trung học mà bọn phi công chàng hay tán tỉnh khi biệt phái ở đây… Nếu thế thì tội thật… Luật tự hỏi, nếu em đã khóc như thế thì mình có nên ngủ với cô ta không nhỉ?

Chàng vừa nghĩ tới đó thì cánh cửa phòng xịch mở, bà chủ đẩy cô con gái vào phòng. Quả thật, Luật nhìn thấy khuôn mặt ấy hơi quen quen nhưng không nhớ ra. Em điếm trẻ tuổi cúi mặt không dám nhìn chàng, mặt mày đau khổ và buồn não ruột.

Luật thấy thế thì động lòng, bảo nhỏ:

– Thôi, nếu cô không muốn thì để tôi chọn cô khác vậy…

Trước cặp mắt ngạc nhiên của Luật, em điếm trẻ bẽn lẽn ngồi xuống giường và nói:

– Thôi đi anh Luật. Anh làm thế bả đuổi em chết…

Nghe người con gái gọi đúng tên mình thì Luật giật mình lên như người dẫm phải lửa. Chàng ngồi bật dậy, chụp lấy tấm ra giường phủ lên người mình:

– Cô… tại sao cô biết được tên tôi?

Em điếm trẻ quay mặt nhìn chàng, nụ cười héo hắt:

– Anh Luật không nhớ em sao? Em là Hạnh đây…

“Hạnh,” cái tên làm Luật phải suy nghĩ. Cái tên nghe thật là quen nhưng tạm thời chàng chưa nghĩ ra. Luật vào hạng đẹp trai nên đi biệt phái các tỉnh nhỏ thường quen nhiều con gái. Nhưng chàng nhớ lại và quả quyết khuôn mặt này không phải là một trong những khuôn mặt mà chàng đã từng dan díu. Và càng không phải hơn ở cái thành phố Bảo Lộc này.

Người con gái dường như nhận biết sự khó khăn của Luật. Nàng bảo:

– Em không ở đây, em ở Ban Mê Thuột,

– Ban Mê Thuột?

– Phải,… Em là… em là… bồ của anh Linh phi đoàn anh đó… tụi mình có gặp nhau mấy lần hồi mấy anh biệt phái Ban Mê Thuột nhưng chắc anh quên em rồi.

Luật nhớ ra ngay và ôm mặt nấc lên một tiếng thẩn tho:

– Tôi nhớ ra rồi… em… à, chị, làm sao mà chị ra nông nổi này?

Người con gái cúi mặt lắc đầu, hai giòng lệ chảy xuống má nàng. Nàng nghẹn ngào:

– Cũng tại em cả, tại em nhẹ dạ nghe lời anh Linh…

Luật nghiến răng, lấy tấm ra trùm lên người mình rồi đứng dậy bảo:

– Chị… chị làm ơn xoay đầu cho tôi mặc quần áo vào…

– Không, anh. Anh làm thế tôi bị đuổi.

– Không ai dám đuổi chị hết. Tôi sẽ trả tiền đàng hoàng cho bà chủ. Mình còn có rất nhiều chuyện để nói với nhau…

Hạnh xoay người, Luật mò xuống giường, buông tấm ra giường và chụp chiếc áo bay tròng vào người. Nhưng mặc xong, Luật lại sực nhớ mình hấp tấp quá nên quên mặc quần… sì-líp bên trong, đành phải cỡi ra một lần nữa, mặc vào và lại mặc áo bay vào. Làm những động tác này, đầu chàng chợt nhớ lại khúc phim dĩ vảng, lần chàng đã gặp gỡ Hạnh.

Đó là lần chàng đi biệt phái chung với Linh Gà ở biệt đội Ban Mê Thuột cách đây hơn một năm. Hồi đó Hạnh còn là một nữ sinh trong trắng của trường nữ trung học Ban Mê Thuột. Lúc ay, dù Linh Gà đã một vợ mấy con ở nhà nhưng vẫn tháo nhẫn ra và tán tỉnh Hạnh. Chuyện này rất xảy ra rất thường đối với các phi công.

Một chiều, đang mặc quần đùi ở trần nằm đọc sách trong căn phòng ở biệt đội, Luật chợt giật mình khi nhìn thấy Linh Gà chở Hạnh vào phòng. Căn phòng ở biệt đội Ban Mê Thuột nhỏ tí tẹo, lại kê hai cái giường nên Luật phải lịch sự ngồi dậy ngồi nói chuyện với Hạnh. Một lúc sau, vì Linh Gà muốn làm thịt người em gái hậu phương nên làm dấu cho Luật cút xéo để hắn tự do. Đây cũng là một chuyện bình thường nữa. Luật hiểu ý, thay đồ xuống nhà lấy xe đi.

Chàng hơi giận Linh Gà một chút vì thường thường, khi vớ được một em nữ sinh trong trắng và trẻ đẹp như vậy thì người ta đưa vào một khách sạn sang trọng nhất của thành phố để làm việc này. Nhưng Linh Gà vốn keo kiệt nên phải đưa em vào phòng biệt đội, vừa làm phiền anh em, vừa hạ giá cái trò chơi kỹ niệm ngàn đời này.

Mấy hôm sau đó nữa, Linh Gà chở Hạnh vào biệt đội thêm mấy lần nữa, và lần nào chàng cũng biết ý tìm cách ra đi.

Khi hết chuyến biệt phái trở về, Luật cũng tưởng mọi chuyện rồi sẽ qua đi. Từ ngày đó, chàng không còn trở lại biệt đội Ban Mê Thuột nữa và cũng quên bẳng nàng đi và không biết chuyện gì đã xảy ra giữa Linh Gà và Hạnh. Càng đã quên chuyện ay đi như hàng bao nhiêu chuyện tình đáng quên khác ở rải rác các biệt đội khắp nơi. Chẳng ngờ hôm nay lại đụng độ nhau ở cái động mắc tiền này ở thành phố Bảo Lộc.

Chàng mồi điếu thuốc, nói với Hạnh:

– Tụi mình cứ ngồi trong này nói chuyện. Lát nữa tôi sẽ trả tiền cho bà chủ đàng hoàng, chị đừng lo.

– Cám ơn anh.

– Tôi không muốn khai thác dĩ vàng đau buồn của chị, nhưng nếu chị không ngại, chị kể cho tôi biết sơ qua làm thế nào mà một người nữ sinh trung học hiền và đẹp như chị lại bị lạc vào đây không? Nhưng nếu chị muốn thì kể, còn không thì thôi, tôi không ép. Mình ngồi nói chuyện khác cũng được.

Hạnh chép miệng, cười nhạt:

– Không, tôi muốn kể cho anh nghe. Tôi thấy anh là một người tử tế… Không phải Không Quân ai cũng như anh Linh hết.

– Chị đừng khen làm tôi mắc cỡ…

– Nhưng tất cả đều tại tôi mà ra cả anh Luật ạ. Tôi chẳng dám trách ai cả. Tại tôi cả…

– Tại thế nào?

– Chắc anh nhớ hôm anh Linh đưa tôi vào biệt đội lúc anh đang nằm đọc sách chứ gì?

– Phải. Làm sao tôi quên được. Tôi đang mặc quần đùi và ở trần, thay chị vào tôi bối rối quá. Đứng dậy thì ngượng mà cứ nằm thì bất lịch sự quá, coi không được.

Hạnh cưoi nhẹ. Nét dịu dàng duyên dáng của một người nữ sinh vẫn còn phảng phất trong nụ cười của nàng:

– Đó là lần đầu tiên tôi biết mùi đàn ông…

Nàng chớp mắt thật mau như muốn xua đuổi một kỹ niệm đau đớn.

– Những ngày ấy tôi tin anh Linh thật tình. Và anh ấy cũng khéo léo nữa. Sỡ dĩ tôi dám hiến thân cho ảnh là vì ảnh đã long trọng hứa với bố mẹ tôi là ảnh muốn cưới tôi làm vợ. Mấy chuyến biệt phái sau đó, ảnh vào nhà tôi ăn ở luôn như một đứa con trai trong gia đình. Và hai tháng sau, chúng tôi làm đám hỏi với nhau.

Luật trợn mắt, thấy bàn tay mình run run:

– Trời đất!

Hạnh gật đầu:

– Anh nghe chưa hết đâu. Một ngày đẹp trời ảnh đáp Ban Mê Thuột, chở theo hai ông già bà già mà ảnh nói là bố mẹ ảnh đến gặp bố mẹ tôi để chính thức xin cưới tôi làm vợ. Gia đình chúng tôi không ai nghi ngờ gì hết. Đám bạn bè của tôi còn khen tôi là tốt số. Chỉ có mình bác tôi biết coi tướng nên bảo rằng mặt anh Linh là mặt của người đâm cha giết chú, lừa dối anh em và phản bội vợ con, không nên lấy nó. Vì câu nói ấy mà bố tôi và bác tôi giận nhau đến cả năm trời.

– Rồi sao nữa.

– 6 tháng sau ngày chúng tôi gặp nhau, một đám cưới linh đình đã diễn ra. Dĩ nhiên là bác tôi không đi dự…

Nghe tới đó, hơi thuốc lá Luật vừa hút vào sặc ra ngoài. Luật ho lên sù sụ. Chàng nói qua cơn ho:

– Thằng Linh Gà khốn nạn.

Hạnh cười, giọng chua chát:

– Đám cưới thật là linh đình, bạn bè tới chúc mừng ai cũng khen tôi tốt phước. Đám cưới xong mẹ tính sổ thấy tốn hết mấy trăm ngàn, đó là gần hết số tiền bố mẹ tôi dành dụm bao nhiêu năm mới có được…

– Nó bần tiện đến nỗi lừa dối lấy con gái người ta mà không dám bỏ tiền ra làm đám cưới à?

– Anh Linh bảo nhà ảnh đông con và nghèo nên không có tiền. Nhưng bố mẹ tôi đâu có chấp. Thấy con cái mình lấy được người hiền lành tử tế, lại là phi công Việt Nam thì mừng quá rồi, tốn bao nhiêu cũng không có tiếc. Đám cưới xong, anh Linh mướn nhà cho tôi ở ngay Ban Mê Thuột Thuột. Bố mẹ tôi thấy thế thì cũng vui vì được gần con cái… Nhưng rồi anh Linh càng ngày càng ít về nhà hơn. Có lẽ lúc ấy ảnh đã chán tôi rồi. Một hôm, cả tháng trời không được tin tức ảnh, tôi đánh bạo đón xe đò xuống Nha Trang đi kiếm ảnh. Xuống đến đó tôi mới biết hết mọi chuyện…

Luật đưa tay ra nắm lay tay Hạnh, lắc đầu nói:

– Với tư cách là một phi công Việt Nam, tôi thành thực xin lỗi chị. Chúng tôi không phải ai cũng như thằng chó đẻ ấy hết…

Hạnh đưa tay gạt nước mắt, tiếp:

– Đêm đó, buồn quá và thất vọng quá, tôi làm một việc rồ dại là ra bờ biển Nha Trang đi lang thang một mình. Rồi tôi ghé quán mua một xị đế, tính uống say rồi đi ra biển trầm mình chết. Nhưng uống vừa xong, chưa kịp làm gì thì một bọn du đãng đi ngang nhìn thấy tôi. Chúng nó tưởng tôi là điếm, nên hè nhau bắt về khách sạn hãm hiếp…

Đến đó, Hạnh lại khóc, nắm chặt lấy tay Luật. Luật vỗ vỗ vào vai nàng tìm một lời an ủi nhưng kiếm không ra. Hạnh tiếp:

– Sáng hôm sau thức dậy trong khách sạn, tôi biết đời mình đến đây là hết. Nhưng tôi buồn cho thân tôi thì ít mà chỉ nghĩ đến bố mẹ tôi. Tôi lầm lỡ thì thân tôi như thế tôi cũng đành chịu thôi, nhưng nghĩ đến bố mẹ tôi, không làm gì cả mà phải bị như thế này chắc bố tôi chết. Hơn nữa, đám cưới làm linh đình như thế, họ hàng ai cũng đến chúc mừng, bây giờ trở về để nói rằng tôi bị lừa dối một cách ngu dốt như thế thì làm sao gia đình tôi chịu nổi tiếng dèm pha và dị nghị của thiên hạ? Chắc phải bỏ Ban Mê Thuột mà đi thôi.

Tôi suy nghĩ mãi và cuối cùng quyết định trở về nhà. Nhưng lúc ấy hình ảnh tôi tiều tụy lắm, không muốn về để bố mẹ nhìn thấy nên tôi phải nằm lại khách sạn thêm mấy ngày để dưỡng thương. Nhưng khốn nạn một điều là bọn du đãng đã lấy hết tiền của tôi, tôi làm gì có tiền trả tiền phòng. Chỉ còn một cách thôi, đó là cách bán thân mình. Đàng nào thì thân tôi cũng chẳng còn trong sạch nữa, tôi còn gì để mất nữa mà tiếc hả anh?

Tuần sau, nhờ đi khách, tôi có tiền trả tiền phòng và còn chút ít để trở về nhà, đưa cho bố mẹ tôi một ít tiền, bảo là của anh Linh gởi cho. Bố mẹ tôi mừng lắm. Tôi lại bảo là anh Linh muốn tôi dọn nhà lên Nha Trang ở với ảnh. Nhà đã mướn sẵn, tôi phải đi liền vào sáng hôm sau. Bố tôi muốn đi với tôi nhưng tôi phải dùng đủ cách mới cản được. Rồi tôi về Nha Trang, trở lại khách sạn cũ để sống và hành nghề mãi dâm. Nhưng tiền khách sạn mắt quá, chả để dành được bao nhiêu. Cho đến một hôm tôi bị cảnh sát bắt. Nhờ một người bạn giới thiệu, tôi lên xe đò đi về đây. Và tôi ở đây đã gần hai tháng rồi. Tôi đổi tên là Phương.

Luật lắc đầu, mồi một điếu thuốc khác:

– Không ngờ trong khoảng thời gian không tới hai năm mà cuộc đời chị lại dâu biển như vậy.

Hạnh cười. Nụ cười tươi tắn và tự nhiên đầu tiên Luật nhìn thấy kể từ khi hai người gặp nhau:

– Thật đấy anh. Tôi nhớ mới ngày nào còn mặc áo dài xanh, ngồi trong lớp đọc thơ Kiều. Hồi đó tôi thay tội cho Kiều quá. Nào ngờ chỉ không tới một năm sau, tôi đã trở thành một nàng Kiều tân thời.

– Chị có về thăm nhà chưa?

Hạnh lắc đầu:

– Không! Nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn gởi tiền về. Đó là chuyện duy nhất còn làm cho tôi hãnh diện. Lá thư cuối cùng, tôi thông báo cho bố mẹ tôi biết là anh Linh bị đổi lên Cần Thơ và tôi phải đi theo ảnh. Tôi chỉ sợ anh Linh biệt phái lên Ban Mê Thuột, đi đứng lung tung để bố mẹ tôi nhìn thay thì chuyện của tôi hỏng bét. Nếu anh có gặp anh Linh, nhờ anh nói rằng, nếu anh Linh còn chút lương tâm gì trong người thì anh ấy đừng bao giờ lên Ban Mê Thuột nữa…

Luật chợt nhớ lại là đã khá lâu rồi, Linh Gà không còn đi biệt phái Ban Mê Thuột. Chàng quay nhìn Hạnh và nói:

– Thằng Linh sẽ không bao giờ dám mò lên Ban Mê Thuột đâu, tôi dám cá với chị như thế.

– Sao anh dám quả quyết như thế?

Luật cười. Lần đầu tiên, Hạnh cảm thấy sợ nụ cười của Luật. Nàng nhìn thấy một ánh lửa gì rất là lạ lùng trong đôi mắt ấy. Nó vừa quyết liệt lại vừa hung dữ lạ thường.

– Tôi dám hứa với chị một câu như thế.

– Tôi không biết anh sẽ làm được gì nhưng dù sao thì cũng cám ơn anh.

– Bây gio thì chị tính tương lai của mình như thế nào?

Hạnh nhún vai, cúi đầu nhìn xuống đất:

– Tôi đâu còn tương lai gì nữa anh. Cứ sống như thế cho đến một ngày nào đó bố mẹ tôi khám phá ra con mình đã hư thân…

Luật ngã người nằm xuống giường, suy nghĩ dữ dội. Đột nhiên, chàng nhớ lại những gì Trọng Gàn nói với mình ngày hôm nào. “Thời đại này là thời đại của quỷ vương và người công chính sẽ bị bách hại.” Đúng thật.

Nhưng một câu nói khác của Trọng Gàn bỗng trở về ám ảnh Luật. “Có thứ Người cao thượng sinh ra để đi xây dựng lại những gì kẻ khác đã tàn phá.” Luật thầm nghĩ, thằng Linh Gà đã tàn phá cuộc đời của Người thiếu nữ vô tội này, mình có thể xây dựng lại cuộc đoi cho nàng không?

Nằm suy nghĩ một lúc, chàng bỗng nghĩ ra một chuyện. Luật hí hửng ngồi bật dậy, nắm vai Hạnh hớn hở nói:

– Chị có muốn trở về lại Ban Mê Thuột không?

Hạnh giật mình, lắc đầu lia lịa:

– Không, không. Về để chết à? Tôi đâu dám.

Luật lắc đầu:

– Không phải. Ngày mốt, tôi sẽ ghé đây lấy tàu bay chở chị về lại Ban Mê Thuột.

– Nhưng về để làm gì? Tôi đâu còn mặt mũi nào nhìn lại bố mẹ và bà con láng giềng nữa.

– Không. Cho phép tôi cắt nghĩa. Bố mẹ và hàng xóm của chị vẫn tưởng chị đi theo chồng chứ gì?

– Đúng thế.

– Thế thì chị trở về vì chồng chị đã chết. Tôi sẽ mượn chiếc xe díp Không Quân của biệt đội Ban Mê Thuột, chở chị về nhà và báo tin cho bố mẹ chị biết là cố đại úy Nguyễn Văn Linh đã anh dũng hy sinh ở chiến trường. Không tìm thấy xác. Tôi sẽ đại diện phi đoàn làm lễ truy điệu cho đúng lễ nghi quân cách đàng hoàng…

Nghe nói thế, Hạnh từ từ hiểu ra và đưa tay lên bụm lấy miệng mình. Luật tiếp:

– Chị lấy thằng Linh chính thức và đàng hoàng thì thằng Linh tử trận cũng phải chính thức và đàng hoàng. Chìa khóa của vấn đề là như vậy. Nếu mình đóng kịch khéo léo, sẽ không có ai biết hết. Thời buổi này phi công bị chết mất xác là chuyện thường. Mọi người sẽ tưởng rằng chồng chị chết thật, và chị trở về nhà ở với bố mẹ, cho đến ngày lấy chồng mới…

Hạnh mừng quá, không biết nói gì, hai hàng nước mắt chảy ra. Mãi một lúc sau nàng mới rưng rưng nói được mấy câu:

– Đây chính là một phép lạ. Một phép lạ từ trời đem xuống cho gia đình em… Em không thể nào ngờ được có một ngày nào đó em được cứu thoát khỏi nơi này. Thật là một phép lạ.

Luật nói:

– Thật ra thì chuyện này đơn giản chứ chẳng khó khăn gì lắm đâu. Chị là người ở trong cuộc nên tối tăm, tôi ở ngoài cuộc nên nhìn thấy nó rõ ràng hơn nên mới có ý kiến như thế. Nghĩ cho kỹ thì chuyện này cũng rất đơn giản chứ chẳng phải khó khăn gì…

– Nhưng suốt cả năm qua, em không hề nghĩ đến chuyện đó. Em cám ơn anh rất nhiều…

Rồi Hạnh đưa tay ra ôm chầm lay Luật. Luật vỗ về thân thể mảnh mai của Người thiếu nữ trong tay mình, cảm thấy lòng mình sung sướng vì đã quyết định làm một việc tốt giúp nàng. Chàng nói:

– Và chuyện này tùy thuộc và một yếu tố rất quan trọng là thằng Linh. Nhưng chị đừng lo, tôi nghĩ tôi có thể giải quyết chuyện đó được.

Có tiếng đập cửa phòng ở bên ngoài và tiếng giục giã của đại úy Thạnh:

– Mẹ, sao mày làm gì mà lâu thế? Mày có chịu đi về không thì bảo. Còn nếu muốn ngủ luôn trong ấy thì sáng mai chúng tao trở lại đón…

– Không, tôi ra Hotel ngủ với quý vị… Cho tôi một chút…

Chàng quay sang bảo với Hạnh:

– Tối nay chị ra khách sạn ngủ với tôi… ngày mai cũng ở đó luôn, tôi trả tiền cho. Đừng bao giờ trở về chỗ này nữa.

– Cám ơn anh lắm nhưng Hạnh còn thiếu tiền của bà chủ, đi sao được?

– Bao nhiêu?

– 25 ngàn.

– Tưởng bao nhiêu chứ 25 ngàn thì nghĩa lý gì. Đừng lo, lát nữa tôi trả hết tiền cho bà ta rồi dắt chị đi. Chị ra lấy quần áo đi…

Hạnh đứng lên:

– Anh tốt với tôi quá, tôi biết lấy gì để đền đáp ơn anh đây?

Luật lắc đầu nói:

– Thằng Linh là bạn tôi. Nó làm bậy thì tôi phải gỡ cho nó. Chị cứ đi ra lấy đồ đi…

Hạnh bước ra cửa nhưng lại quay lui bảo:

– Tôi hỏi anh một ân huệ này được không?

– Chị cứ nói.

– Tôi muốn anh từ này về sau đừng gọi tôi là chị nữa được không? Tôi nhỏ tuổi hơn anh, vả lại, tôi và anh Linh chẳng còn gì với nhau cả.

Luật phì cười:

– Cái đó thì chắc phải từ từ… Tôi đang gọi chị là chị, giờ chuyển qua em nó ngượng mồm quá.

Hạnh cũng phì cười. Nụ cười tươi tắn thứ hai mà Luật nhìn thấy. Chàng nói:

– Chị đi lấy đồ đi. Tối nay mình còn nhiều chuyện để bàn với nhau. Tôi sẽ nói chuyện với bà Tú Bà cho.

Hạnh đi được một lúc, Luật đang sỏ đôi giày thì mụ tú bà xông vào phòng chàng. Chàng chưa kịp nói gì thì mụ đã phùng mang trợn mắt, chỉ mặt chàng xỉa xói:

– Tôi nói cho ông biết. Ông đừng có tưởng ông là đeo lon trung úy mà giỡn mặt được với con này.

Luật kéo phẹc ma tuya của chiếc giày bốt lên cao rồi nhìn bà ta ngạc nhiên hỏi:

– Tôi giỡn mặt gì với bà?

– Tôi nói cho ông biết, ông đừng tưởng là ông đẹp giai và đeo lon quan hai rồi ông muốn lấy gái của tôi thì lấy, muốn làm thánh làm tướng gì thì làm. Tôi nói cho ông biết, tôi không cho con nhỏ Hạnh đi đâu hết. Nó phải ở đây với tôi, ai muốn đem con Hạnh đi đâu thì phải bước qua xác của con mẹ già này.

Luật lắc đầu chán nản. Thoi này đúng là thói của bọn đạo tặc… tú bà. Nhưng chàng vẫn cố gắng kiên nhẫn:

– Trước hết, thưa bà, tôi không đeo lon trung úy để giật gái của ai hết. Tôi có quen biết với cô Hạnh từ trước nên muốn đưa cô ấy về lại gia đình cổ. Những số tiền mà cô Hạnh thiếu bà, tôi sẽ trả cho

bà đầy đủ, không thiếu một cắc. Tôi chưa bao giờ ăn cướp hay ăn giật gì của ai cả, xin bà đừng nói thế.

Nói tới đó, Luật đưa mắt nhìn bà ta…

Lần đầu tiên, mụ tú bà nhìn thấy những ánh lửa kinh khiếp trong cặp mắt người trung úy phi công trẻ. Vốn cũng là một tay từng trải trong chốn giang hồ, bà biết ngay rằng cặp mắt này không phải là cặp mắt của một Người mà bà có thể bắt nạt được. Thế là bà đành thở dài một tiếng rồi ngồi xuống bên giường:

– Qua xin lỗi quan hai vì qua hơi nóng… Nhưng qua tốn cả trăm ngàn mới đưa nó về đây được.

Luật cưoi nhẹ, không nói gì. Bà chủ động chứa nói tiếp, giọng bắt đầu sách mé một cách mất dạy:

– Người ta nói lấy đĩ làm vợ chứ không ai lấy vợ về làm đĩ… Bây giờ ông quan hai ế vợ, nếu ông muốn lấy con đĩ Phương về làm vợ thì phải chồng cho qua hai trăm ngàn, không thiếu một xu.

Mụ tú bà vừa nói tới đó thì Luật đã vung tay tát vào má mụ một cái nẩy lửa. Mụ bật ra sau, rú lên một tiếng, ôm má xít xoa. Bà không thể nào ngờ thằng trung úy trẻ tuổi này lại dám tát mình như thế. Mà nó mạnh thật, tát đau quá. Mụ toan tri hô lên thì Luật nhanh như cắt rút cây súng trên trên đầu giường ra, đẩy nòng súng thật mạnh vào mặt mụ. Mụ sợ quá, ngã người ra sau theo chiều đẩy, cả người run lên bần bật.

Luật nghiến răng nói với mụ:

– Bà nói ai lấy đĩ về làm vợ?

Mụ tú bà kinh hoảng không trả lời được. Luật nói tiếp:

– Tôi nể bà lớn tuổi, không thì tôi giộng một cái thì bà không còn một cái răng ăn cơm. Nhưng nói cho bà biết, nếu bà còn ăn nói như thế nữa thì tôi sẽ gõ thật. Bà biết súng tôi bằng thép cứng lắm, chỉ gõ nhẹ một cái là bay mất hàm răng của bà… Bà có hiểu rõ những gì tôi nói không?

– Thưa… quan nhớn… rõ ạ.

– Tốt. Tôi lập lại là tôi quen biết cô Phương, đúng hơn tên của nàng là Hạnh. Tôi muốn đem Hạnh về trả lại cho gia đình nàng. Bà có cho không thì nói?

Mụ tú bà lắp bắp:

– Xin quan nhớn nới cây súng ra cho tôi ngồi lên…

Luật nới lỏng họng súng, tiện tay quay tít nó mấy vòng trong tay mình. Bà tú bá rú lên một tiếng nhỏ và co rúm Người lại, chỉ sợ cây súng cướp cò thì tàn đời bà. Luật nói:

– Bà ngồi xuống đi.

Bà tú bà hoàn hồn ngồi xuống giường. Luật đứng lên, bình thản lấy sợi dây súng đeo vào thắt lưng và nhét cây P. 38 vào. Mụ tú bà nói:

– Thôi thì nể lờoi quan nhớn, biết quan nhớn cũng là… lính cho nên tôi không muốn ép. Nếu quan nhớn muốn lấy, ý quên xin lỗi, muốn dắt em Phương đi thì xin quan nhớn đưa cho tôi một trăm ngàn. Ấy là tôi chỉ tính vốn cho quan nhớn thôi đấy, với người khác thì không được.

Luật nhìn bà ta và lắc đầu, nói nhẹ:

– Lúc nãy tôi tính đưa cho bà 25 ngàn nhưng bây gio thì tôi phải phạt bà về cái tội đã dám chê tôi là… ế vợ. Bà dám chê trung úy không quân ế vợ là tội nặng lắm đấy bà biết không? Hơn nữa, tôi đẹp trai ngon lành như thế này mà lại ế vợ sao?

– Em chỉ đùa với quan nhớn, em chẳng dám. Quan nhớn đẹp giai như thế thì có khối gì người mê, làm sao ế vợ được.

– Không. Bà đùa câu “lấy đĩ về làm vợ” thì được ăn cái tát. Còn dám bảo là tôi ế vợ thì tôi phải bà phạt nặng hơn…

– Thưa nặng hơn thế nào ạ?

– Là tôi sẽ dắt cô Hạnh đi mà không đưa cho bà một đồng cắc nào cả.

Mụ tú bà giẫy nẩy lên:

– Ối giời ơi, quan nhớn làm thế là không được, tôi gọi phú lít thì quan nhớn rũ tù…

Luật móc ngay cây súng ra, chỉa lên trần nhà nổ oành một phát. Tiếng súng nổ đinh tai nhức óc và thật bất ngờ làm mụ tú bà ôm mặt rú lên một tiếng kinh hoàng. Bây giờ thì mụ biết rằng thằng phi công trẻ này nó có thể làm thật chứ không dọa xuông.

Nghe tiếng súng nổ, mọi người trong động lao nhao xốn xáo. Tiếng chân chạy ầm ầm, tiếng gọi nhau ơi ới ở phía ngoài nhưng không ai dám mò vào phòng của Luật. Lính uống rượu say nổ súng bừa bãi là chuyện thường, chẳng có ai muốn vào đó để chết oan.

Luật chỉa súng vào mặt mụ tú bà, nghiến răng nói:

– Đây, tôi vừa nổ súng đấy, coi thử có thằng phú lít nào dám đến đây bắt tôi không? Bà đừng có đem phú lít ra mà dọa thằng này. Phát thứ hai tôi bắn vào cái… mông đít của bà. Bắn thử để coi bà có dám kêu phú lít tới đây không. Bây giờ thì bà có để tôi dắt Hạnh đi hay không thì nói một tiếng?

Mụ tú bà òa khóc lên:

– Em chẳng dám. Quan nhớn đã dạy như thế thì em xin nghe như thế… Xin quan nhớn tha cho em… em đâu biết quan nhớn trẻ tuổi mà lại “gồ” như thế.

Luật chẳng hiểu “gồ “là gì nhưng ngay lúc ấy thì đại úy Thạnh đút đầu vào, hét tướng lên:

– Bố láo, bố láo… Thằng Luật, ai cho mày nổ súng như thế? Mất trật tự, vô kỹ luật… Mày làm mất mặt Không Quân.

Luật đút súng vào bao, quay lui nói:

– Anh ra nói với mọi Người cứ bình tỉnh, tôi đang lau súng thì bị cướp cò, không có chuyện gì xảy ra hết…

Đại úy Thạnh lại nạt:

– Bố láo, lau súng… nước mà sao súng thật lại nổ? Mày bố láo vừa chứ.

Luật đang tức mà cũng phải phì cưoi:

– Khổ quá, tôi không có thì giờ cắt nghĩa. Đại úy cứ ra trấn an thiên hạ đi. Bảo đãm súng không nổ nữa đâu. Tôi hứa như thế.

Đại úy Thạnh quay đi nhưng vẫn còn cằn nhằn:

– Mẹ bố, bọn phi công trẻ bây giờ thật là mất tư cách, vô giáo dục, mất kỹ luật nhà binh, làm mất mặt cả quân chủng, cả đàn anh… Bố láo. Mẹ, tao mà biết mày như thế thì tao cứ nằm nhà ngủ cho đỡ mất mặt Không Quân… Lẹ lẹ đi rồi mình còn đi.

Nửa tiếng đồng hồ sau, Luật và Hạnh đã ngồi trong một căn phòng máy lạnh của khách sạn Hoa Anh Đào Bảo Lộc. Luật thay đồ tắm rửa rồi ra ngồi lan can nói chuyện với Hạnh. Luật ngạc nhiên thích thú khi nhìn thấy trong túi hành trang của nàng có mấy cuốn sách và trong đó có cuốn sách dịch mang tựa đề “Chàng Hải Âu kỳ Diệu” dịch từ cuốn Johnathan Livingston Seagull.

Luật tính toán một lúc rồi nói với Hạnh:

– Chương trình tôi tính như thế này: Tạm thời chị cứ ở lại khách sạn này và chờ tôi. Sáng mai tôi về lại Quảng Đức, giải quyết vài công chuyện lỉnh kỉnh rồi sáng mốt tôi sẽ bay sang đây chở chị đi Ban Mê Thuột. Kế hoạch của tôi nghĩ ra tùy thuộc rất nhiều vào một yếu tố rất quan trọng là thằng Linh.

– Như thế nào anh?

– Nếu thằng Linh mà bén mãng lên Ban Mê Thuột thì cả thành phố sẽ biết nó còn sống nhăn. Thành phố Ban Mê Thuột không có lớn lắm.

– Em cũng đã nghĩ tới nhưng không dám bàn… Nhưng ngộ nhỡ anh không trở lại thì sao?

– Tôi sẽ trở lại chứ. Nhưng nếu vì một lý do gì đó tôi không trở lại kịp thì chị cứ mua vé xe đò về lại Ban Mê Thuột. Chị chờ tôi chút xíu…

Luật bỏ vào phòng trong, móc hết trong túi áo bay được gần 50 ngàn, đem ra cho Hạnh:

– Bao nhiêu đây đủ sức cho chị về lại Ban Mê Thuột. Tôi sẽ trả tiền phòng trước 3 ngày… Chị đứng lên cho tôi chỉ cái này…

Hạnh đứng lên. Luật chỉ tay về một cây hoa Anh Đào trồng ở hàng rào khách sạn:

– Chị thay cây hoa Anh Đào cao này không?

– Thấy, có gì không anh?

– Nếu chị đứng ngay chỗ này và nhìn về hướng cây hoa Anh Đào thì đó là hướng bay đến từ Quảng Đức. Ngày mốt, kể từ 8 giờ sáng đến 12 trưa, chị ra đứng đây nhìn về cây hoa Anh Đào này để chờ chiếc tàu bay tôi. Nếu tôi đến, chị sẽ thấy chiếc máy bay tôi xuất hiện ở trên cây hoa Anh Đào này. Còn nếu đến 12 giờ trưa mà không thấy tàu bay tôi xuất hiện ở hướng này thì chắc đã có gì trục trặc…

Hạnh đưa tay lên bụm miệng. Luật lắc đầu cười:

– Nhưng chị không có gì phải lo cả. Nếu chuyện đó xảy ra, chị đừng có ngại gì cả, cứ việc ra bến xe đò mua vé về lại Nha Trang liền trong ngày hôm đó. Và ngày hôm sau từ Nha Trang mua vé về lại Ban Mê Thuột liền. Về nhà rồi, cứ nói với bố mẹ chị những gì tôi đã nói lúc nãy. Anh Linh chết trận rồi. Tôi sẽ đem một phái đoàn của Không Quân tới phúng điếu đàng hoàng trong vòng một tuần lễ.

Hạnh gật đầu:

– Vâng em nhớ.

Rồi nàng nhìn xuống xấp bạc đang ở trên bàn ngần ngại nói:

– Nhưng 50 ngàn nhiều quá, Hạnh đâu cần nhiều thế. Vé xe đò chỉ có hai ngàn chứ mấy.

– Con gái lấy chồng đi xa về thăm nhà thì phải có tí quà cáp cho bố mẹ và em út chứ. Người Việt Nam mình vốn trọng lễ nghĩa mà.

Hạnh ứa hai hàng nước mắt:

– Tôi với anh không quen nhau nhiều lắm, tại sao anh lại tốt với tôi như thế?

Luật cúi đầu rồi ngửng mặt lên, nói:

– Chị biết không, trong thế gian có hai loại người. Có loại người sinh ra để tàn phá, để gây giết chốc và kinh hoàng cho dân tộc như bọn Cộng Sản, hay như thằng Linh phi đoàn tôi. Nhưng đồng thời, cũng có một hạng người khác sinh ra để đem niềm vui và nụ cười đi gieo rắc khắp nơi nơi, để hàn gắn và xây dựng lại những đổ vỡ và tàn phá của hạng người kia đã gây ra… Tôi chỉ muốn xây dựng lại những gì mà thằng khốn nạn Linh đã làm cho chị thôi.

Hạnh lắc đầu, lau nước mắt rồi nắm lay tay Luật, tha thiết nói:

– Hạnh và cả gia đình Hạnh xin cám ơn anh. Anh đã cứu sống không phải mình Hạnh mà cả gia đình Hạnh.

– Chị đừng nói thế. Tôi chỉ làm bổn phận của một người phi công chân chính. Chính thằng Linh là người đã phá nát gia đình chị. Tôi chỉ mong rằng sau vụ này, chị làm được cho tôi một điều…

– Điều gì, anh cứ nói, Hạnh sằn sàng.

– Mong rằng chị sẽ tha thứ cho chúng tôi, cho Không Quân Việt Nam.

Hạnh lại ứa nước mắt, lắc đầu nhìn Luật:

– Không Quân Việt Nam chẳng có tội gì cả.

Luật lắc đầu:

– Có, chị ạ. Tội của chúng tôi là đã lỡ để cho một thằng khốn nạn như thằng Linh mặc chiếc áo bay và đeo huy hiệu Tổ Quốc Không Gian vào người. Cái phù hiệu Tổ Quốc Không Gian trên ngực nó đúng ra phải sửa lại là Tổ Quốc Tiền Bạc hay Tổ Quốc Bất Lương… Cả phi đoàn tôi ai cũng biết thằng Linh có vợ mà không ai nói một câu, để cho nó tàn phá cuộc đời chị. Chúng tôi có lỗi nhiều với gia đình chị lắm. Mong chị và gia đình chị tha thứ cho chúng tôi.

Hạnh lau nước mắt, cười nhẹ:

– Hạnh chả bao giờ dám nghĩ xấu về Không Quân Việt Nam cả, anh đừng lo.

– Cám ơn chị. Không Quân chúng tôi không hoàn hảo, ngay như cá nhân tôi đây, thành thật mà nói, tôi có nhiều tật xấu. Tôi thích uống rượu, mê đàn bà, đủ thứ thói hư cùng tật xấu. Nhưng quan trọng nhất, chúng tôi là những con người lương thiện. Hoặc ít nhất, chúng tôi muốn sống lương thiện. Và chúng tôi dám hy sinh. Chúng tôi sằn sàng sống chết cho đất nước này, cho dân tộc này bất cứ một giây phút nào của cuộc đời chúng tôi…

Luật ngừng ở đó, dõi mắt nhìn lên bầu trời đầy trăng sao, nhẹ nhàng nói tiếp:

– Tôi không có nói quá đâu chị ạ. Tôi nói thật đấy. Tôi nghĩ, chúng tôi như thế có lẽ tại vì chúng tôi còn quá trẻ và quá lý tưởng. Quá trẻ để hèn nhát và quá lý tưởng để nghĩ đến những âm mưu đê tiện. Cũng có lẽ tại vì mỗi lần cất cánh đưa con tàu lên cao, chúng tôi được may mắn được nhìn thay cái đẹp tuyệt vời của đất nước mình, chúng tôi hiểu vì sao tổ tiên mình gọi đó là giang sơn cẩm tú, là núi sông hùng vĩ. Đẹp lắm chị ạ. Và mỗi lần như thế, hình như chúng tôi luôn luôn nghe được tiếng gọi của tổ quốc dậy lên trong lòng mình, trong tim mình và trong máu mình. Tiếng gọi nhắc nhở chúng tôi phải luôn luôn nghĩ đến bổn phận giữ nước và dựng nước của một người trai đất Việt….

Luật nói một thôi. Hạnh đến sát bên Luật, cầm tay chàng khẻ bảo:

– Cám ơn anh đã nói cho Hạnh nghe những chuyện ấy. Sau khi làm đám cưới với anh Linh, Hạnh cứ tưởng tượng nếu Không Quân Việt Nam mà ai cũng như anh Linh thì… chán chết. Nhờ anh, Hạnh mới hiểu được niềm hãnh diện của người phi công.

– Cám ơn chị. Bây giờ khuya rồi, mình vào đi ngủ. Chị cứ ngủ ở trên giường, tôi nằm ở cái ghế sô pha được rồi…

° ° °

Hôm sau, mặt trời chưa ló dạng thì Luật cùng phái đoàn “thân hào nhân sĩ” đã có mặt ở phi trường. Trước khi cất cánh, Luật kéo bác sĩ Quyền ra một chỗ vắng rồi hỏi:

– Tôi muốn hỏi bác sĩ một cái này.

Bác sĩ Quyền cười cười:

– Mẹ bố, hỏi thuốc trụ sinh phải không ông tướng? Hôm qua mới chơi bời mà sáng nay đã hỏi thuốc. Bệnh Lậu đâu có phát triển mau như thế mà mày lo.

Luật lắc đầu cười:

– Không. Tôi muốn hỏi là bác sĩ có thứ thuốc nào mà, ví dụ như mình có một con đào đẹp, mình muốn đưa nó lên giường mà nó nhat định… cứng đầu không cho, mình phải bỏ thuốc đó vào ly cho nó uống và nó ngủ mê đi để mình đưa nó lên giường… quan thầy thuốc hiểu đàn em muốn nói gì rồi.

Bác sĩ Quyền nhìn Luật ngạc nhiên:

– Hiểu chứ. Nhưng đó là phương pháp rẻ tiền dành cho những thằng già không có số đào hoa như bọn tao, mày làm phi công đẹp trai ngon lành như thế thì cần gì phải làm vậy?

– Nói thật với bác sĩ là tôi có con nhỏ này khó tính quá, quen nó cả năm rồi mà nó cứng đầu quá, không có cách nào đưa nó lên giường được. Bác sĩ cho tôi một liều thuốc mê để tôi trị bệnh… cứng đầu của nó.

– Nếu thế thì được. Tưởng gì chứ chuyện đó thì dễ ợt, về Quảng Đức tao lấy cho mày một mớ. Nhưng tao phải dặn kỹ là mày phải bỏ vừa phải thôi, đúng “đô” thôi, mày bỏ vào nhiều quá thì nó đi lên thiên đàng luôn thì hết sơ múi. Chẳng những không sơ múi được mà còn phải mất công ra tòa mà trả lời với quan tòa…

Thế là xong một việc…

Luật kéo đại úy Thạnh ra một góc khác và hỏi:

– Ngày mai tôi muốn sách tàu sang đây trở lại để chở em gái hậu phương của tôi đi Ban Mê Thuột, đại úy có gì…phiền không?

Đại úy Thạnh tròn mắt nhìn Luật:

– Mẹ bố, mày mết con nhỏ thật à?

Luật nhăn mặt, không biết cắt nghĩa thế nào cho đại úy Thạnh hiểu, đành gật bừa:

– Ừ, không biết tại sao mà tôi mết nó thật.

– Mày uống phải bùa mê thuốc lú của nó rồi con trai. Nhưng mày tính chở nó lên Ban Mê Thuột làm gì?

– Nghe nói nhà bố mẹ nó ở trên đó, tôi chở nó về thăm nhà.

Đại úy Thạnh lắc đầu vỗ vai Luật than thở:

– Thế mà xưa nay tao cứ tưởng mày là một thằng ngon lành lắm. Bây gio tao mới biết mình lầm. Mẹ, mới động vào một em sạch nước cản một tí là đã mê tít thò lò. Tao chán mày quá.

Luật sổ ngay một câu tiếng Tây mà chàng thường dùng để tán tỉnh các em nữ sinh trung học:

– Le coeur a des raisons que la raison ne connaît pas… Tình yêu có những lý lẽ mà con tim không thể nào hiểu được… đại úy “thông cỏm.” Thế thì ngày mai tôi sách tàu đi được không?

Đại úy Thạnh gật đầu lia lịa:

– Mẹ bố… được chứ sao không. Mày đang mê gái như thế, muốn dợt le với em của mày thì tao ngu gì mà cản. Cản mày để cho mày… thù tao sao? Tao đâu có bố láo như thế. Có điều đi đứng phải cho cẩn thận một chút. Chiều nay gọi điện thoại sang trung tâm hành quân tao cho một số phi vụ lệnh…

Thế là xong một việc nữa…

Luật ra làm tiền phi rồi quay máy, cất cánh con tàu chở ba vị thân hào nhân sĩ trở về lại Quảng Đức. Nửa tiếng sau, chàng đáp xuống phi trường Quảng Đức. Linh Gà đã đậu sằn chiếc xe díp trên phi trưong chờ sằn với một mớ đồ đạc lỉnh kỉnh.

Nhìn thay Linh Gà, Luật bỗng nổi giận. Lần đầu tiên, chàng biết ghét Linh Gà. Luật vốn ít khi ghét ai, nhưng một khi đã ghét thì có thể giết chết người ta được. Nhưng Luật biết bây giờ chưa phải là lúc mình nên tỏ thái độ, trái lại, mình còn phải làm tỉnh hơn nữa để nó khỏi nghi.

Ngày hôm ấy trôi qua bình thường. Luật đáp chuyến làm ăn cuối cùng vào khoảng quá trưa một chút rồi cùng Linh Gà ra tiệm tàu ăn cơm. Linh Gà bắt chuyện, hỏi về chuyến đi Bảo Lộc ngày hôm qua. Chàng nói:

– Mày tiếc tiền không đi với tao, đi vui lắm.

Linh Gà lắc đầu:

– Con gái trong thiên hạ đầy dẫy, mình chơi đâu có tốn tiền thì tại sao phải đi vào động chơi bời cho phí của.

Câu nói vô hậu và mất dậy của Linh Gà làm Luật thay nóng bừng mặt nhưng ngồi im không nói gì. Một lúc sau, Luật nói:

– Ngày mốt mình đổi biệt đội rồi, mày xem lại coi mày còn thiếu tao bao nhiêu, tính tiền luôn.

– Ngày mai còn một ngày nữa, mình làm xong thì tao chia hết số tiền còn lại cho mày.

Luật lắc đầu, nói một câu làm Linh Gà nghe xong thì muốn té ngữa xuống nền nhà:

– Ngày mai tao không bay nữa đâu.

– Mày khùng à? Ngày mai mỗi thằng ít nhất phải kiếm được thêm cỡ vài chục ngàn nữa.

Luật lắc đầu, nói bằng một giọng bí mật:

– Không! Ngày mai tao có vài chuyện phải lo.

Linh Gà lồng lộn lên, lúc thì đe dọa, lúc khác lại dụ dỗ nhưng Luật vẫn cương quyết lắc đầu:

– Ngày mai tao có nhiều chuyện phải lo. Có thể phải qua lại Bảo Lộc một lần nữa không chừng. Hơn nữa, tao nghĩ rằng suốt tuần lễ qua tụi mình kiếm cũng đã khá bộn tiền rồi, đừng tham quá và phải vào tù như bọn trực thăng.

Linh Gà biết không thể nào thuyết phục được Luật, ngồi một đống trên ghế, mặt sụ xuống. Luật nói:

– Tao lập lại, tao muốn tối nay mày chia tiền cho tao. Tao có nhiều việc phải làm…

Từ lúc hai người chở hàng đến nay, mọi chuyện tiền bạc Luật để cho Linh Gà lo. Chàng không để ý và không cần biết số phần chia của mình được bao nhiêu. Hôm qua, cần tiền đi Bảo Lộc chơi nên Luật lay tạm 50 ngàn nơi Linh Gà. Và chàng đã đưa hết số tiền đó cho Hạnh. Luật muốn lấy hết số phần chia của mình để ngày mai đưa thêm cho Hạnh một ít để bù lại số tiền làm đám cưới mà gia đình nàng đã bỏ ra.

Linh Gà nghe nói thế thì hậm hực trả loi:

– Để tao coi coi. Mẹ kiếp, làm ăn không lo làm ăn mà cứ nghĩ đến chuyện tiền bạc…

Luật gọi tính tiền rồi hai Người ra xe đi về. Về nhà, cho một lúc không có Linh Gà, Luật gọi điện thoại lên Ban Mê Thuột nói chuyện với phi hành đoàn trên đó. Thằng trung úy Quang, vốn thuộc hạng người… cao thượng nên khi sau khi nghe Luật trình bày, nó đồng ý ngay:

– Hoan hô mày, mày làm thế rất phải. Chuyện thằng Linh Gà với con Hạnh, phi đoàn nhiều người biết nhưng không ai muốn nhắc tới. Không ai muốn nhắc tới nhưng mỗi lần biệt phái lên Ban Mê Thuột thì tao thấy áy náy làm sao ấy. Mày làm được như vậy thì quá tốt rồi. Tao sẽ chuẩn bị một phái đoàn phúng điếu thật đầy đủ, mình lái xe tới nhà bố mẹ Hạnh làm y như thật…

Luật cám ơn bạn rồi cúp máy. Thế là xong một chuyện khác nữa…

Tối hôm đó, Linh Gà ngồi trong căn phòng biệt đội, lay cuốn sổ và cây bút nguyên tử ra ghi chép cộng cộng cả nửa tiếng đồng hồ rồi nói với Luật:

– Số tiền tao còn thiếu mày là 25 ngàn!

Luật giật mình. Cứ theo như sự tính toán mà Linh Gà nói với chàng thì ít nhat Luật cũng còn có 150 ngàn nữa. Không hiểu Linh Gà tính toán thế nào mà mình chỉ còn có 25 ngàn. Chàng hỏi:

– Sao ít thế mày?

– Đây nè, mày coi sổ đi. Hôm đầu mình vào 80 chục ngàn, trừ chi phí đi hết 60 ngàn, mình còn lại 20 ngàn. Hôm thứ hai mình vào… chi phí hết… v.v…

Linh Gà đi một đường như thế rồi kết luận:

– Hôm qua mày lấy 50 ngàn đi chơi bời, vậy tao còn thiếu mày 25 ngàn.

Luật biết Linh Gà chỉ vẻ vời bậy bạ nhưng chàng không có cách gì để kiễm chứng cả. Nó thâu bao nhiêu chàng đã không biết mà chi bao nhiêu chàng cũng chẳng biết luôn. Chàng thầm nghĩ may mà nó đưa 25 ngàn chứ không đưa đồng nào mình cũng phải chịu…

Nhưng tất cả những chuyện đó không còn quan trọng với Luật nữa, vì chàng đã có sằn một kế hoạch khác trong đầu. Nếu thằng Linh Gà này nghĩ rằng nó có thể qua mặt được chàng thì nó lầm to rồi.

Luật vẫn giữ thái độ hòa hoãn và bình tĩnh thường ngày, đưa tay cầm lấy xấp bạc từ tay Linh Gà đưa. Xong rồi, chàng ra sau hè đánh răng súc miệng rồi tắt đèn leo lên giường nằm trùm mền lại. Chàng nói với Linh Gà:

– Tối hôm qua tao chơi bời mệt mõi quá nên bây gi phải ngủ sớm để lấy sức. Mày làm gì thì khe khẻ cho tao nhờ.

– Coi như xong.

Linh Gà ngồi tính toán một lúc rồi thay đồ ra sau nhà tắm. Tắm xong, Linh Gà đánh răng súc miệng rồi vào phòng mở chai nước suối riêng của mình ra uống một ngụm.

Linh Gà ngày xưa đã bị bệnh sốt rét một lần nên đi biệt phái ở những chỗ như Quảng Đức thì luôn luôn mang theo may chai nước suối riêng để uống. Sợ anh em uống ké nước của mình, Linh Gà luôn luôn nhắc nhở với anh em rằng Linh Gà hay… nhổ nước bọt vào chai nước của mình sau khi uống. Thật ra thì Linh Gà khỏi cần phải lo xa như thế vì anh em dù có nghèo và đói đến đâu cũng không ai thèm nghĩ đến may chai nước dơ của Linh Gà. Nhưng Linh Gà là một người lo xa. Thỉnh thoảng hắn cứ lập lại như vậy cho chắc ăn…

Linh Gà cũng còn có cái bịnh khác là bịnh yếu thận. Cứ vào khoảng 2, hay 3 giờ sáng là hắn phải thức dậy để đi tiểu. Tiểu xong, Linh Gà lại trở vào, uống thêm một ngụm nước nữa rồi mới ngủ được cho đến sáng…

Lúc Linh Gà leo lên giường thì Luật đã nằm ngáy pho pho. Hắn tắt đèn leo lên giưong nhưng không ngủ mà lại mở mắt nằm chờ. Chờ chừng nửa tiếng đồng hồ, không thấy Luật động đậy hay có vẻ gì còn thức cả, hắn tung mền ngồi dậy. Cho chắc ăn, hắn đến bên giường Luật và lay chàng mấy cái. Thay Luật ngủ say như chết hắn mới trở lại giường, lấy cái gói giấy bạc, leo lên trần nhà cất ở một góc rồi mới leo xuống.

Lần này thì Linh Gà ngủ thật…

Linh Gà đâu có biết rằng hắn vừa ngủ chừng nửa tiếng thì chính Luật là người tung mền bò dậy. Nảy giờ chàng đâu có ngủ nghê gì đâu, chỉ giả vờ cho Linh Gà yên tâm thôi. Chàng mở túi áo bay ở đầu giường lấy ra một lọ thuốc nhỏ mà bác sĩ Quyền đã đưa cho chàng hồi trưa rồi ra bàn ăn lấy ra một cái muỗng cà phê. Chàng đổ chất thuốc màu trắng trong lọ vào đầy cái muỗng cà phê rồi mở nắp chai nước của Linh Gà đổ vào chai. Hai muỗng. Rồi chàng vặn nắp lại, lắc lắc cái chai cho đến khi nào chất bột trắng tan hết đi, không còn một dấu vết gì cả.

Xong xuôi, Luật cat chai thuốc vào túi áo bay rồi lên giường tiếp tục ngủ, làm như không có chuyện gì xảy ra…

Vào khoảng 3 giờ sáng, như thường lệ, Linh Gà thức giac đi tiểu. Tiểu xong, hắn trở vào, leo lên trần nhà để xem thứ gói bạc còn hay không. Vẫn còn đó. Linh Gà yên chí, leo xuống. Hắn mở nắp chai nước, ngữa cổ tu ực ực rồi leo lên giường nằm ngủ tiếp.

Linh Gà vừa nằm xuống giường, tay chưa kịp kéo mền thì đã chìm vào cơn mê…

Ngay lúc ay, Luật bật người dậy liền. Chàng đến bên giường Linh Gà xem xét. Thằng khốn nạn ngủ say hơn chết. Luật gật gù cái đầu, thò tay bật đèn sáng lên.

Trước hết, chàng thò tay móc cây P.38 của Linh Gà ở đầu giường ra. Chàng mở trái khế, đổ hết 6 viên đạn thật của Linh Gà vào tay mình rồi nhét vào đó sáu viên đạn khác. 6 viên đạn mới này cũng có ngòi nổ, nhìn từ phía ngoài coi y như thật nhưng hồi sáng, trong một chuyến hàng sau khi đáp xuống Đức Xuyên, chàng đã tháo đổ hết thuốc nổ ra và nhét đất của phi trường Đức xuyên vào đó rồi nhét đầu đạn trở lại. Luật gọi 6 viên đạn này là Made in Đức Xuyên. Dĩ nhiên, nếu ai bóp cò một cây súng có đạn này thì sẽ nghe được một tiếng nổ nhỏ và chẳng có gì xảy ra cả.

Chàng nhét cây P.38 của Linh Gà vào bao cho hắn trở lại, không quên gài nút lại cho đàng hoàng. Thế là xong một việc nữa. Rồi giống Linh Gà lúc tối, chàng cũng… bắt chước đu người lên sàn nhà. Chàng gỡ cái bao giấy xuống đựng tiền xuống và đổ nó ra bàn. Những xấp bạc một ngàn đồng xanh tươi vung vãi ra khắp trên bàn.

Vì ít khi nào được đếm một số tiền lớn như thế, Luật mất 15 phút mới đếm xong. Và đếm xong thì Luật choáng váng vì con số quá lớn. Số tiền lên tới gần 800 ngàn đồng Việt Nam. Nghĩ rằng mình có thể đếm lộn, chàng lại dốc hết ra và đếm lại một lần nữa. Kết quả lần này cũng như lần trước, gần 800 ngàn đúng.

Luật lắc đầu, thấy mừng mà cũng thấy buồn. Mừng vì đương không mình lại ẳm được một số tiền lớn như thế để làm việc cao thượng, còn buồn vì thay lòng tham của con người quả thật là vô đáy. Với bao nhiêu công sức chàng bỏ ra, nó kiếm được gần 800 ngàn đồng bạc mà chỉ chia cho chàng có 75 ngàn thì nó quả là một thằng quá tệ. Thật không có thứ ngôn ngữ nào có thể diễn tả được việc làm tồi bại này của Linh Gà.

Luật ra sau hè, lấy hai hòn gạch gói trong một mớ giấy báo cũ rồi lại rồi leo lên, nhét túi giấy ấy lại ở chỗ cũ. Tất cả số tiền vừa lấy của Linh Gà luật bỏ vào cái túi vẫn thường đựng mũ bay của chàng. Thế là xong một việc khác nữa.

Nhưng còn một vài việc nữa cũng phải làm luôn cho xong. Chàng cúi người kéo cái va-li cũ của Linh Gà dưới gầm giường hắn ra xem xét. Va-li vừa mở ra thì chàng phải nhăn mặt lại vì cái mùi xú uế từ bên trong bay ra. Thật như là có một con chuột chết ở trong va-li. Như thế nầy thì mới đáng để gọi là mất mặt quân chủng, Luật thầm nghĩ.

Chàng xem xét một chút và bỗng để ý đến một cái túi nhỏ có phẹc ma tuya nằm riêng ở trong một góc va li. Chàng mở túi và nhìn một cuốn sổ tay nhỏ màu đỏ, và mấy to giấy. Thằng khốn này giữ thơ tình của Hạnh để làm kỹ niệm chăng, Luật tự hỏi lòng như vậy.

Luật dở cuốn sổ tay ra xem xét. Đây là cuốn sổ ghi việc làm thường ngày của Linh Gà. Luật ngạc nhiên vì không bao gio nhìn thấy Linh Gà biên nhật ký. Biên nhật ký chẳng có gì xấu cả, không biết tại sao hắn lại dấu diếm như thế. Động tánh tò mò, chàng lật ra từng trang một và xem xét kỹ càng.

Mới nhìn vào thì đây chỉ là một cuốn sổ tay bình thường ghi lại những gì xảy ra hay cần làm của một người. Mỗi trang đều chi chít những con số mà Luật đoán là ghi lại những số tiền kiếm được của Linh Gà. Chuyện này cũng dễ hiểu. Chàng bật cười ghi thay Linh Gà viết như sau ở mỗi kỳ bắt đầu đổi biệt đội.

“Tháng giêng: Biệt đội Phan Thiết. Mang đi: 10 ngàn. Mang về 65 ngàn.”

“Tháng hai: Biệt đội Đà Lạt. Mang đi: 10 ngàn. Mang về 50 ngàn.”

Luật tủm tỉm cưoi khi nghĩ đến đó. Anh em trong phi đoàn ai đi biệt phái cũng mang theo chừng đó tiền nhưng ngày về thì nhẵn túi, chỉ có mình Linh Gà là con người đi biệt phái mang đi ít mà mang về thì gấp 6 lần.

Nhưng thỉnh thoảng, ở một vài trang, Linh Gà đề vài hàng như: “Hẹn gặp anh Ba, 8 giờ, vũ trường Nha Trang Hotel.” Ở trang khác, lại đề “Hẹn anh Năm, 7 giờ, nhà hàng La Fregate.” Suốt cuốn sổ, Linh Gà luôn luôn hẹn gặp ai đó vài tuần một lần,.

Việc này có cái gì không ổn đối với Luật. Chàng nhíu mày suy nghĩ. Trước hết, những chỗ hẹn toàn là những chỗ mắc tiền mà chàng biết là Linh Gà không bao gio dám lui tới vì hắn vốn là một con người keo kiệt. Việc này chứng tỏ việc hẹn hò là do người kia khởi xướng chứ không phải Linh Gà.

Nhưng họ là ai? Theo chỗ chàng biết, Linh Gà chẳng có bà con thân thiết gì cả, tại sao hẹn gặp anh Năm rồi đến anh Ba? Hơn nữa, nếu anh Năm anh Ba là bà con thân thiết thật thì tại sao không đến nhà Linh Gà mà phải bày đặt hẹn chỗ này chỗ kia như là hẹn với đào? Ở một trang khác trong tháng 1, chàng nhìn thấy một hàng chữ đề “Kho Đạn thành phố Phan Thiết” và cạnh đó là một dấu hỏi thật to. Một trang khác trong tháng 2 đề là “Kho xăng thành phố Đà Lạt”. Và tháng 3 là “Đại đội xe tăng thành phố Qui Nhơn” v.v…

Những câu ghi chú này làm cho chàng thắc mắc và nó gợi đến một chuyện gì rất là quan trọng mà chàng nghĩ chưa ra. Ở những trang cuối cùng hình như Linh Gà viết trước khi đi biệt phái Quảng Đức là hàng chữ như sau: “Lượt đồ phòng thủ tỉnh Quảng Đức.”

Luật nhăn mặt gấp cuốn sổ lại, tiếp tục suy nghĩ. Tay chàng mở một tờ giấy khác ở trong túi có phéc ma tuya. phéc ma tuya. Luật kinh hoảng khi nhìn thấy đó là bản đồ quân sự của thành phố tỉnh Quảng Đức với những ghi chú quan trọng như “Kho xăng, hai trung đội địa phương quân canh giữ.” Hay “Đại đội thiết giáp do thiếu tá Thành coi sóc. 14 xe tăng M-113.” Vân vân và vân vân.

Luật ngồi lặng đi một lúc, tay run run. Chàng châm lửa một điếu thuốc để làm dịu bớt những cảm giác trong lòng mình…

Đột nhiên, Luật nghĩ ra một chuyện, liền hối hả mở cuốn sổ ra trở lại. Thôi đúng rồi, Luật bỗng hiểu hết mọi chuyện:

Ở tháng giêng, Linh Gà đề chữ “Kho Đạn Thành phố Phan Thiết” thì tháng đó Linh Gà đi biệt phái Phan Thiết. Tháng hai, “kho xăng thành phố Đà Lạt” thì Linh Gà lại đi biệt phái Đà Lạt vào đúng cái tháng đó. Tháng 3, “Đại đội xe tăng thành phố Qui Nhơn” thì Linh Gà lại đi biệt phái Qui Nhơn. Vân vân và vân vân. Và cuối cùng, tháng 7, Linh Gà đề “Hệ thống phòng thủ thành phố Quảng Đức” thì Linh Gà lại đi biệt phái Quảng Đức.

Nghĩ xa thêm một chút nữa, chàng nhớ lại hình như tháng 2 thì kho đạn thành phố Phan thiết bị nổ, và mới đây, kho xăng thành phố Đà Lạt bị đặc công Việt cộng lẽn vào đặt bom nổ gây thiệt hại rất nặng. Nghĩa là một tháng sau khi Linh Gà trở về từ chỗ nào thì chỗ đó bị nổ bom.

Thằng này đúng là thằng Việt cộng nằm vùng, Luật run người lên khi nghĩ đến đó. Chàng xoay Người, nhìn cái thân hình ốm tong ốm teo đang nằm ngủ ngáy khò khò kia. Rồi chàng bỗng đứng lên, nghiến răng tiến tới bên giưong mình rút cây P.38 của mình ra…

Chàng chậm rãi bước tới bên giường của Linh Gà, đứng thẳng Người, kê họng súng vào giữa đỉnh đầu Linh Gà và bóp cò… miệng hai phát: “păng păng”. Luật co tay lên sau mỗi phát súng miệng, làm như súng nổ giật tay chàng lên vậy.

Dĩ nhiên là Luật không ngu đến độ giết chết Linh Gà ở đây để vào tù ngồi. Theo luật pháp thì nếu Linh Gà là một thằng Việt cộng thì nó sẽ bị điều tra và đem ra xét xử tại tòa án đàng hoàng. Chàng muốn kê súng vào đầu Linh Gà như thế và bóp cò miệng để cho lòng mình thỏa mãn cơn căm hận một chút xíu thôi.

Luật lắc đầu, ngồi xuống và dở cuốn sổ ra xem xét một lần nữa. Đích thị rồi, thằng này là Việt cộng, không còn nghi ngờ gì nữa. Ở tháng 8 tức là tháng tới, Luật hốt hoảng khi nhìn thấy chữ “Phi trưong L-19” thành phố Ban Mê Thuột. Chắc chắn, Linh Gà sẽ tìm cách chạy chọt để được đi biệt phái Ban Mê Thuột vào tháng tới. Và nếu hắn làm được như thế thì kế hoạch của chàng sẽ hỏng bét hết.

Ở trang cuối cùng, ngày thứ ba 17 tháng 8, tức là hai sau ngày đổi biệt đội, chàng thay Linh Gà có ghi hàng chữ “Anh Hai. Nha Trang Hotel. 10 giờ tối.” À, ra là nó hẹn với “anh Hai” nó ở Nha Trang Hotel sau khi đi biệt phái về đây.

Luật biết mình phải ra tay hành động nhưng tạm thời chưa biết phải làm gì…

Chàng nhét súng vào bao, cất tất cả những vật dụng của Linh Gà trở lại y như cũ, đóng cái va li lại rồi nhét xuống giường…

Luật nhìn đồng hồ: đã gần sáu giờ sáng. Luật cắm cái lò điện nấu nước pha cà phê rồi ra phía trước biệt đội, ngồi nhìn xuống con sông tối mù mù trước mặt. Đầu óc Luật làm việc liên tục.

Mình phải giải quyết vấn đề thằng này như thế nào đây nhỉ? Sau khi uống hết hai ly cà phê và hút tàn 3 điếu thuốc, Luật biết mình phải làm gì. Chàng ngồi hút thêm một điếu thuốc nữa và sắp đặt lại kế hoạch trong đầu mình từ đầu đến đuôi cho nó có thứ tự và lớp lang đàng hoàng.

Trong những kế hoạch mà chàng vừa sắp trong đầu đó, việc đầu tiên và việc quan trọng nhất mà chàng đã hoạch định là đừng để cho Linh biết là mình đã biết hắn là Việt cộng…

8 gio sáng, Luật lấy trong học bàn ra cái ống tiêm thuốc bằng ni lông rồi sách chai nước của Linh Gà tới ngồi bên giường hắn. Chàng hút đầy một ống tiêm có thuốc mê từ trong chai rồi cạy miệng Linh Gà ra nhét ống chích sâu vào cuống họng hắn và bơm mạnh vào. Linh Gà ho sụ sụ lên mấy tiếng rồi sặc lên nhưng bao nhiêu thuốc đã chạy xuống bao tử hắn hết rồi. Cứ tiếp tục như thế, chàng bơm vào ruột hắn gần hết chai nước có thuốc mê. Cứ căn cứ theo những gì bác sĩ Quyền đã dặn chàng thì bấy nhiêu đó thuốc đủ để giữ Linh Gà nằm mê man cho đến chiều nay.

Xong xuôi, chàng bốc máy gọi điện thoại qua cho đại úy Thạnh và hỏi:

– Thằng Linh Gà chia tiền cho đại úy chưa?

– Xong hết rồi.

– Tốt, bây giờ tôi cất cánh đi Bảo Lộc đây. Sau khi đáp Ban Mê Thuột tôi sẽ gọi lại cho đại úy…

– Ô kê, nhớ chiều nay đừng về trễ quá.

– Coi như xong, cám ơn đại úy. À, còn một chuyện này nữa.

– Chuyện gì?

– Linh Gà bị sốt, nó thức suốt đêm hồi tối hôm qua mãi đến bây giờ mới ngủ được. Đại úy đừng đánh thức nó giậy, để cho nó ngủ.

– Cả thành phố chỉ có một chiếc tàu bay mà mày lái đi rồi thì tao thức nó giậy làm gì? Đi đi, đừng có lo cho nó.

– Cám ơn đại úy…

Chàng lại gọi sang Bảo Lộc. Trung sĩ Quý nhấc máy lên. Luật nói:

– Cỡ chừng 9 giờ sáng tôi đáp đó bạn già.

– Xong ngay, sẽ có xe ra phi trưong đón bạn.

– Nhất bạn.

Luật gác phôn, lấy ra một tờ giấy viết mấy chữ: “Đang ngủ. Xin đừng làm phiền” rồi đem ra dán phía trước cửa. Xong xuôi, chàng mặc áo bay, đeo súng, đem theo cái túi đựng bạc bước ra ngoài. Luật khóa cửa lại cẩn thận rồi leo lên xe díp rồ máy. Chàng lái xe lên phi trường.

Đi ngang tiệm phở, các “thân hào nhân sĩ” đang ngồi ăn uống ở trong nhìn thấy chàng thì vẫy tay rối rít gọi. Nhưng Luật chỉ phất tay chào rồi nhấn ga đi thẳng. Phở ở Bảo Lộc ăn ngon hơn phở ở đây nhiều, Luật nghĩ thầm như vậy.

15 phút sau, chiếc L-19 do Luật lái nhẹ nhàng rời khỏi phi đạo, bốc lên cao…

Lên cao, nhìn thấy cảnh non sông hùng vĩ, Luật cảm thấy lòng mình dâng lên một niềm vui khó tả. Niềm sung sướng khó diễn tả thật, chỉ có ai đem con tàu lên cao vào buổi sáng đẹp như buổi sáng hôm nay mới cảm thấy được. Chàng thò tay mở máy radio, tìm đài Saigon. Rà trúng đài, từ trong ống nghe, bài đồng ca của một chương trình gì đó vang lên tha thiết một cách lạ lùng:

“Trả lại tôi là tuổi trẻ mênh mông, chúng mình như lúa reo trong ruộng đồng.

Dù mưa tuôn, dù bão cuốn, bông lúa vàng cuồn cuộn gió đưa lên,

dù bom rơi, dù súng tới, bông lúa ngời vượt lửa khói lên ngơi,

Trả lại tôi là tuổi trẻ yên vui, dẫu rằng đang chiến tranh hay hòa bình…”

Gần 9 giờ sáng, Hạnh đã đứng trên lan can phòng mình, dõi mắt ngóng lên nền trời xanh, nơi hướng cây hoa Anh Đào mà Luật đã chỉ cho nàng đêm hôm trước. Thật ra, nàng đã đứng ở đó từ lúc 6 giờ sáng, dõi cặp mắt chờ đợi và hy vọng nhìn từng ánh mây trôi qua trên nền trời.

Khoảng quá 9 giờ một chút, Hạnh nghe được tiếng động cơ quen thuộc và trầm ấm của chiếc L-19. Vài phút sau đó, nàng nhìn thấy con tàu xuất hiện nhẹ nhàng trên nền trời xanh biếc. Hạnh chảy nước mắt, nấc lên một tiếng sung sướng. Rồi nàng vội vã chùi nước mắt chạy vào phòng và thu xếp đồ đạc.

15 phút sau, khi chiếc xe díp chở Luật vừa dừng lại trước mặt khách sạn Hoa Anh Đào thì Hạnh đã từ trong chạy ra. Sáng nay nàng mặc chiếc áo len xanh đậm, chiếc áo đồng phục của trường nữ trung học Ban Mê Thuột. Sau hai ngày nghĩ ngơi, Luật thấy nàng đẹp trở lại như hồi mới gặp nhau. Lần đầu tiên chàng để ý rằng Hạnh là một người con gái rất đẹp.

Luật vừa xuống xe thì nàng đã phóng tới, ôm chầm lấy Luật như một người quen thân thiết lâu ngày. Trong một giây phút, Luật thấy… chới với. Thân thể của người con gái thật là dịu dàng và tươi mát làm sao. Hạnh nói:

– Anh Luật, Hạnh cho anh chỉ có hai ngày mà thấy lâu như hai thế kỹ…

Luật cảm động và… mừng lắm nhưng không biết phải nói gì. Chàng bảo:

– Em lên lấy đồ đi. Mình đi ăn sáng rồi anh chở em về lại Ban Mê Thuột…

“Anh chở em về lại Ban Mê Thuột” câu nói thật là đơn giản nhưng đối với Hạnh nó là cả một bài thơ tuyệt tác, một vũ trụ nên thơ. Phải, “Anh chở em về lại Ban Mê Thuột…” Ban Mê Thuột của vùng trời thơ ấu, Ban Mê Thuột của niềm vui và hy vọng, Ban Mê Thuột của những ngày nô đùa dưới ánh nắng vàng hanh, Ban Mê Thuột của những buổi chiều mùa đông trời se se lạnh, Hạnh mặc chiếc áo ấm ngồi bốc trái bắp nướng bên lò lửa… Hạnh không dám nghĩ thêm nữa về Ban Mê Thuột, chỉ sợ mình lại khóc ở đây thì kỳ lắm.

Người tài xế thả hai người ở một tiệm phở rồi hẹn trở lại trong nửa tiếng. Luật tỉnh bơ ăn uống nhưng Hạnh thì không nuốt gì được. Nàng chỉ húp vài muỗn nước lèo rồi đẩy tô phở sang một bên, say sưa ngắm nhìn Người phi công ngồi trước mặt. Và nàng mỉm cười sung sướng. Hạnh đâu có bao giờ nghĩ rằng đoạn kết của chuyện tình lầm lỗi của nàng lại kết thúc một cách đẹp như thế. Đúng hơn, nàng thấy đẹp hơn cả truyện tình trong xi nê. Tất cả đều nhờ bởi con người đang ngồi trước mặt nàng đây. Nàng để ý là Luật bây giờ không còn gọi nàng là chị nữa. “Anh chở em về Ban Mê Thuột,” Hạnh lại nhớ đến câu nói ấy, cảm thấy lòng mình rung động và tự hỏi “Luật nghĩ gì về mình nhỉ?”

Trong lúc tâm trạng Hạnh ngổn ngang như thế thì Luật cứ bình thản đớp hít. Gần 15 ngày ở Quảng Đức chàng chưa hề ăn được tô phở ngon như thế. Ăn xong, chàng khuấy ly cà phê sửa đá và hỏi:

– Anh hút thuốc được không?

Hạnh cười, hỏi:

– Anh học cách xin phép đàn bà trước khi hút thuốc hồi nào vậy?

Luật nhún vai. Chàng không nhớ mình đã học được cách này hồi nào nhưng hình như chàng chỉ làm thế khi đi với một Người đẹp mà mình quý. Luật cười, khua tay:

– Có lẽ trong xi nê. Thấy nó hay hay nên anh bắt chước.

– Hay lắm, và lại dễ thương nữa. Nó chứng tỏ anh là một người lịch sự.

– Nhưng anh hút thuốc được chứ?

– Xin anh tự nhiên. Để Hạnh mồi lửa cho. Hạnh thích mồi lửa cho đàn ông hút thuốc lắm.

Hạnh khom người, bật que diêm lên cho Luật.Chàng để ý thấy bàn tay Hạnh thật là đẹp. Năm ngón tay dài và thon một cách quý phái.

Chàng hỏi:

– Em đã mua đồ gì về cho bố mẹ em chưa, như lời anh nói.

– Mua rồi, trong cái túi hồi nãy em đem xuống. Vài món đồ lặt vặt nhưng có giá trị. Em đi hết ngày hôm qua mới mua được đấy.

– Tốt! Anh có một ngạc nhiên này cần phải nói cho em biết.

Hạnh lại thấy hơi lo, hỏi:

– Gì vậy anh?

– Em biết rằng một người như trung úy Linh mà chết thì em phải có tiền tử, đúng không?

– Đúng. Nhưng anh đừng lo, em cứ nói với bố mẹ là tiền đó đã dùng để lo chôn cất anh Linh rồi.

Luật lắc đầu:

– Thằng Linh bị bắn chết mất xác thì làm sao mà chôn cất được. Nhưng em đừng lo, anh có khoảng 600 ngàn đồng tiền tử của thằng Linh đem về cho bố mẹ em.

Nói tới đó Luật cầm cái túi đựng tiền lên, hé mở một chút cho Hạnh thay những xấp bạc một ngàn trong đó. Hạnh tròn mắt lại, ngạc nhiên hỏi:

– Anh Luật, tiền ở đâu nhiều thế?

– Đúng hơn đó là tiền của thằng Linh. Mà thằng Linh là chồng em thì tiền đó đương nhiên trở thành tiền của em.

– Nhưng em với anh Linh…

– Khoan, để cho anh cắt nghĩa…

Luật kể sơ qua chuyện làm ăn của hai người cho Hạnh nghe rồi kết luận:

– Anh còn một chuyện khác quan trọng hơn nữa về thằng Linh nhưng anh chưa có thể nói cho em biết được. Tạm thời em cứ coi số tiền này như là tiền tử của thằng Linh đi. Em xứng đáng được hưởng số tiền này. Và anh đã còn nghĩ ra cách để thằng Linh không bao giờ dám lên Ban Mê Thuột nữa kìa, nhưng chưa tiện nói ra ở đây…

Chiếc xe díp đón chàng đã trở lại. Không cho Hạnh nói gì thêm, Luật gọi tính tiền rồi dìu nàng bước ra. Ra phi trường, chàng móc túi tặng Người tài xế bộ binh hai ngàn rồi chất đồ lên phi cơ.

Một tiếng đồng hồ sau, Luật nghiêng cánh chiếc L-19, đưa tay làm dấu chỉ cho Hạnh thấy thành phố Ban Mê Thuột ở dưới. Hạnh nhìn xuống, hai hàng nước mắt nàng chảy ra. Nàng nói lớn:

– Em cám ơn anh.

Nhưng Luật không nghe nàng nói gì vì chàng đội nón bay. Hơn nữa, chàng đang bận liên lạc với Quang ở dưới đất và làm phương thức để chuẩn bị vào đáp.

– Nhờ trung úy Quang tận tình giúp đỡ, mọi việc diễn ra đúng như ý chàng muốn. Ông bố Hạnh không nói gì khi nghe Luật đứng nghiêm chào và đọc:

“Cố đại úy Nguyễn Văn Linh đã tử trận trong một phi vụ hành quân diệt giặc tại chiến trường Lộc Ninh ngày… tháng… năm… vào lúc 12 giờ sáng. Vì phi cơ bị cháy và rớt trong vùng địch chiếm đóng nên thi thể của cố đại úy Nguyễn Văn Linh không đem về được.

Nhân danh và thừa lệnh Trung Tướng tư lệnh Không Quân, chúng tôi xin chia buồn cùng tang quyến và xin truy tặng Cố đại úy Nguyễn Văn Linh Đệ ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với nghành dương liễu.

Nghiêm… Chào.”

Sau tiếng hô của Luật mọi người đứng theo thế nghiêm và chào. Luật đưa mắt liếc xéo Hạnh ngụ ý bảo phải… khóc lên cho nó hợp tình hợp cảnh. Hạnh không khóc được nhưng khi nghe thay mẹ nàng khóc thì nàng cũng bắt chước khóc theo được. Ngay cả bố Hạnh cũng nhỏ mấy giọt nước mắt.

Trung úy Quang còn đi xa thêm một bước, tới thắp mấy cây nhang và để trước tấm hình của Linh. Mọi Người thấy thế bắt chước làm theo. Tiếng khóc bây giờ thì giống y như một nhà có tang thật.

Cả nhà đang khóc ngon lành như thế thì bỗng nín bặt khi nhìn thấy Luật móc ra một xấp tiền toàn giấy một ngàn. Chàng để lên một cái khay và đem tới trước mặt bố Hạnh và nói:

– Đây là tiền tử của Cố đại úy Nguyễn Văn Linh. Xin bác nhận lấy. Tổng cộng vừa tiền tử vừa tiền dành dụm của Cố đại úy Nguyễn Văn Linh tất cả là 600 ngàn. Xin bác nhận lấy và ký vào tờ giấy này một cái để cháu đem về trình cho phòng nhân viên.

Luật vui sướng khi nhìn thay khuôn mặt của bố mẹ Hạnh sáng lên một cách vui sướng. Tuy thế, mẹ Hạnh lại bỗng nhiên gào lên:

– Linh ơi là Linh con ơi, sao con bỏ vợ con mà đi đưong đột như thế này hở con. Bố mẹ thương con quá, chưa chiều con được gì thì con đã bỏ bố mẹ mà đi. Sao mà con đành đoạn như thế hở con…

Sau phần than khóc và phúng điếu cho phải đạo làm người, bố mẹ Hạnh mời cả phái đoàn xuống nhà sau “uống cốc nước.” Luật làm dấu cho Hạnh ở nán lại ở nhà trên. Cho lúc chỉ còn có hai người, Luật nói với Hạnh:

– Kế hoạch mình làm coi như hoàn tất gần 100%. Vấn đề còn lại chỉ là thằng Linh, nhưng em đừng lo, anh sẽ lo cho nó được.

Hạnh nhìn Luật và muốn ôm chầm lấy chàng và đặt lên đôi môi chàng một cái hôn nhưng nàng biết nàng không thể làm thế được. Nàng nhẹn ngào nói:

– Em cám ơn anh nhiều lắm. Em không còn lời nào có thể nói được.

Luật dúi vào tay nàng một mảnh giấy nhỏ:

– Đây là cái địa chỉ và số điện thoại của anh ở phi đoàn. Nếu có gì khẩn cấp cứ ra biệt đội Ban Mê Thuột mượn điện thoại gọi về cho anh. Nếu không có anh thì để lại lời nhắn, chúng nó sẽ tìm ra anh.

Hạnh cầm lấy tờ giấy và đột nhiên, làm như nàng không thể nào dừng được, nắm lấy bàn tay Luật thật chặt. Chặt đến nổi Luật thấy đau điếng người. Nàng hỏi nhỏ:

– Anh Luật, anh có khinh em không?

– Không. Kẻ đáng khinh là ai khác kìa chứ không phải em. Em chỉ là một nạn nhân.

Hạnh đưa mắt nhìn quanh một vòng và hỏi nhanh:

– Anh có tha thứ cho em không?

– Em chẳng có tội gì cả, người có tội là ai khác kìa chứ không phải em.

– Anh nghĩ là anh có bao giờ sẽ hối hận việc mình làm không?

Luật lắc đầu:

– Không bao giờ cả. Trái lại là đàng khác. Anh hãnh diện vì mình đã làm được việc đó cho em.

– Anh nghĩ Hạnh là người như thế nào?

Luật cười:

– Em là một thiếu nữ rất đẹp, dịu dàng và dễ thương.

Hạnh lại nhìn quanh một lần nữa và hỏi, lần này nàng cúi mặt xuống:

– Anh có dám yêu một người đã một lần lầm lỡ không?

– Dám chứ.

– Anh có dám… yêu em không?

Luật gật đầu:

– Anh nghĩ rằng anh đã.

Hạnh ngửng mặt lên, đôi má ửng hồng. Mặt nàng rạng rỡ:

– Từ lúc nào?

– Từ cái hôm đầu tiên em và thằng Linh bước vào phòng anh. Em nhớ không, anh đang mặc quần đùi và ở trần, đứng dậy thì kỳ mà cứ nằm yên thì bất lịch sự quá. Anh giận thằng Linh nhưng không hiểu tại sao lại cứ nghĩ mãi về việc ấy.

– Thật à? Anh nói thật hay chỉ nói cho em mừng?

– Anh nói thật.

Hạnh hỏi:

– Trong thế gian này còn có bao nhiêu người đẹp, tại sao anh lại đi yêu một người bất hạnh như em?

Chàng nhún vai, cười mỉm:

– Có lẽ tại vì anh là một… Chàng Hải âu Kỳ Diệu, như tựa đề cuốn sách mà em đang đọc…

Hạnh cũng cười:

– Anh đúng là một chàng hải âu kỳ diệu và hơi bất bình thường nên mới yêu em.

Có tiếng gọi “con Hạnh đâu rồi” của bố nàng ở nhà dưới. Luật nói nhanh:

– Anh sẽ về lại đây để tìm em. Mình sẽ làm lại tất cả…

Hạnh gật đầu:

– Phải, mình sẽ bắt đầu lại từ đầu… Chàng Hải âu kỳ diệu và hơi bất bình thường của Hạnh…

° ° °

Luật hứa với đại úy Thạnh về trước 5 giờ và giữ đúng lời hứa, mới 4 giờ thì chàng đã hạ cánh ở phi trưong Quảng Đức. Luật phóng xe về nhà. Vừa thắng xe chưa kịp bước xuống, nhìn thay cửa mở thì Luật biết ngay rằng Linh Gà đã thức giấc. Và nếu hắn thức giấc thì nhất định hắn phải biết việc 800 ngàn của hắn đã biến mất.

Thật vậy, Luật vừa tắt máy xe thì Linh Gà từ trong phóng ra như một cơn lốc, tay thủ cây súng. Hắn dí họng súng ngay vào mặt chàng, gào lên bằng một giọng phẫn nộ tột cùng:

– Đ.m. mày. Mày lấy tiền của tao đi đâu?

Luật nghiêng đầu, đưa tay ra phân bua:

– Từ từ, mày để tao vào nhà rồi mình nói chuyện với nhau có được không?

– Không. Đ.m. không! Mày là thằng ăn cắp, mày lấy tiền của tao đi đâu? Tao kêu quân cảnh tới làm biên bản còng đầu mày về bót.

Luật cười nửa miệng, nhìn Linh Gà nói:

– Mày cất cây súng đi, để người ta nhìn thấy thì kỳ lắm.

Nhưng Linh Gà vẫn lồng lộn lên:

– Không! Tao hỏi mày lấy tiền của tao đem đi đâu? Mày phải trả lời.

– Mày bỏ cây súng xuống được không? Mày có dám bắn không mà làm như vậy?

Nghe như thế thì Linh Gà lồng lộn lên:

– Đừng có thách thức tao thằng khốn nạn. Tao bắn mày đây…

Nói tới đó, trước sự ngạc nhiên tột cùng của Luật, Linh Gà nhăn mặt nghiến răng và bóp cò cây súng. Một tiếng nổ nhỏ vang lên nhưng Luật vẫn ngồi yên trên xe, không hề hấn gì. Linh Gà làm như không thể tin được rằng sau phát đạn này mà Luật còn sống được nên hắn bóp cò thêm một lần nữa. Một tiếng nổ nhỏ vang lên nhưng Luật vẫn ngồi yên, không hề hấn gì cả.

Ngay lúc ấy, Luật có thể móc cây súng của mình ra và bắn chết tươi Linh Gà liền mà không sợ bị tội nhưng chàng không muốn làm thế. Đẹp đẽ gì đâu cảnh hai thằng phi công bắn nhau vì tranh dành tiền bạc.

Nhưng chàng có một quyết định rất quan trọng, đó là Linh Gà phải chết. Suốt từ hôm qua tới giờ, chàng bị ám ảnh với ý nghĩ đó. Mới lúc nãy đây, chàng tính là khi về Nha Trang, chàng sẽ báo cáo việc này cho phòng an ninh Không Quân và cho phi đoàn trưởng biết rồi để họ tính với Linh Gà sau, nhưng hắn đã dám kê súng vào đầu chàng bóp cò như thế thì giữa hai người không còn gì để nói với nhau cả. Chàng đành phải giết nó chết mà thôi.

Nhưng bây giờ chưa phải lúc…

Luật xoay đầu và đồng thời đưa tay chụp cây súng trong tay Linh Gà vặn mạnh. Nói về sức khỏe thì Linh Gà không phải là một đối thủ của chàng nên hắn buông tay ra, cây súng lọt vào tay chàng. Luật bước xuống xe rồi tiện tay đấm cho hắn một quả vào giữa mặt:

– Mày muốn giết tao sao thằng khốn nạn?

Linh Gà bật người ra sau. Luật như điên tiết nhào tới, túm cổ hắn lôi vào nhà. Chàng thò chân đóng cửa phòng lại rồi thẳng cánh mà giộng cho hắn một trận tơi bời hoa lá. Vừa giộng chàng vừa chửi: “Thằng khốn nạn, tao chưa muốn giết mày mà mày muốn giết tao sao?”

Càng đánh thì càng nghĩ đến Hạnh, và càng nghĩ đến Hạnh thì chàng càng mạnh tay hơn nữa. Đến một lúc nào đó, Linh Gà quì xuống đất và lạy chàng:

– Luật, mày tha cho tao. Mày tha cho tao. Tao lạy mày.

Nhìn mặt mũi Linh sưng húp lên, chàng nghĩ chắc đến lúc mình phải nương tay vì nếu đánh nữa thì không chừng nó sẽ chết. Luật nhặt cây súng của Linh Gà rồi đưa cho hắn:

– Đây, mày muốn bắn tao nữa không? Súng đây này.

Nhưng Linh Gà lắc đầu, mếu máo khóc:

– Tao trót dại, mày tha cho tao.

– Mày biết tao đi đâu không?

– Không?

– Tao đi chở người con gái mà mày đã phá hoại đời người ta trở về nguyên quán cũ. Mày biết Hạnh, người vợ mà mày lừa dối làm đám cưới ở Ban Mê Thuột bây giờ làm gì không?

Nghe nhắc tới Hạnh thì Linh Gà giật mình:

– Hạnh. Tao tưởng con nhỏ còn ở Ban Mê Thuột chờ tao…

Luật co giò sút cho Linh Gà một đá vào bụng. Hắn “hự” lên một tiếng. Chàng nói:

– Nhờ cái đám cưới của mày mà nàng đã bị biến thành một con đĩ. Mày nghe không, một con đĩ. Hôm nọ tao đi Bảo Lộc tao tình cờ gặp nàng trên đó trong một cái động đĩ.

Nghe nói như thế thì Linh Gà lắc đầu ngơ ngác:

– Có thể như thế được sao?

Luật muốn giộng cho hắn một đá nữa nhưng kềm lại được.

– Mày lừa dối cả gia đình người ta, lấy con gái người ta, bắt người ta làm lễ cưới đàng hoàng rồi quất ngựa truy phong, nàng không bỏ nhà đi thì mặt mũi nào mà nhìn bà con hàng xóm. Mà con gái như thế, bỏ nhà ra đi mà không làm đĩ thì làm gì để sống?

Linh Gà lồm cồm bò lên, miệng thổ ra một búng máu. Hắn đưa tay lên chùi miệng, thều thào:

– Nhưng tao có bảo nàng làm đĩ đâu. Tao chỉ đùa một tí thôi mà…

Nghe đến đó thì Luật lại điên tiết lên, co giò sút vào bụng Linh Gà một đá nữa. Linh Gà ôm bụng gục đầu xuống. Luật rít lên qua hai hàm răng:

– Bố mày. Mày hại đời con gái người ta như thế mà dám bảo là đùa một tí à? Mày biết sáng nay tao làm gì không?

– Không… Mày nói thì cứ nói, chửi thì cứ chửi nhưng đừng đánh tao nữa được không?

– Nếu thế thì mày phải câm cái mồm mày lại, đừng mở miệng ăn nói những câu vô hậu bất lương như thế… Sáng nay tao sách tàu chở nàng về lại Ban Mê Thuột và lấy 600 ngàn đồng của mày đưa cho bố mẹ Hạnh. Tao bảo đó là tiền tử của cố đại úy Nguyễn Văn Linh…

Linh chống tay ngồi lên lần nữa, ú ớ hỏi:

– Cố đại úy Nguyễn Văn Linh… tao có chết đâu.

– Bởi vì mày lừa dối Hạnh cho nên tao mới nghĩ ra được cách đó để gỡ lại danh dự cho nàng và gia đình nàng. Tao phải nói là mày chết trận rồi thì Hạnh mới lấy chồng mới được. Tao nói trước, nếu từ này về sau mà mày bén mãng lên Ban Mê Thuột thì tao giết mày chết…

Linh Gà chống tay toan đứng lên, nhưng bị đòn đau quá nên không gượng nổi. Hắn đành ngồi bệt xuống sàn, dựa lưng vào tường. Hắn khom người và thổ ra một búng máu nữa.

Luật đứng yên nhìn hắn, không nói gì. Một lúc lâu sau đó, Linh Gà mới nói:

– Tao phạm tội thì mày làm thế coi như cũng được đi. Tao đồng ý và chịu tội. Nhưng tao có 800 ngàn, mày mới đưa 600 ngàn, còn 200 ngàn kia mày… cho tao xin lại được không?

Luật lắc đầu:

– Không. Tao giữ lại 200 ngàn đó vì đó là phần ăn chia của tao. Sao mày kiếm được 800 ngàn mà chỉ đưa cho tao có 75 ngàn hả thằng khốn nạn? Mày tưởng mày qua mặt được thằng Luật này hả? Mày lầm to rồi. Bây gio thì chắc mày đã biết ai cao tay ấn hơn ai rồi.

Biết rằng mình đã thua hết cả chì lẫn chài, Linh Gà ngồi cúi mặt, không nói được một lời. Luật hút tàn điếu thuốc rồi tiến tới trước mặt hắn, đưa tay ra:

– Bây giờ như thế này. Nếu mày muốn bỏ qua hết chuyện cũ thì tao cũng bỏ qua chuyện cũ. Tao sẽ “tạm thời” tha cho mày cái tội muốn giết tao, ngược lại, mày cũng phải quên trận đòn vừa rồi và số tiền 800 ngàn. Đồng ý không?

Luật nói chữ “tạm thời” là vì đã có một ý tưởng riêng trong đầu, nhưng Linh Gà không để ý đến. Biết không còn cách nào khác hơn, Linh Gà đành gật đầu. Luật dơ tay nắm tay hắn kéo lên và nói:

– Nhưng tạm thời, tao phải giữ cây súng của mày cho đến khi về tới Nha Trang.

Linh Gà gật đầu rồi hỏi chàng:

– Ngoài số tiền mày lấy của tao, mày có còn làm gì nữa không?

Luật lắc đầu hỏi:

– Mày muốn ám chỉ chuyện gì?

– Không, tao hỏi mày có lục va li tao ra để… để… lấy thêm tiền không?

Luật lắc đầu:

– Va-li mày hôi bỏ mẹ, ai thèm lục làm gì.

Linh Gà thở phào ra một cái nhẹ nhỏm:

– Ấy, tao hỏi là chỉ hỏi vậy thôi chứ không có gì quan trọng trong va-li tao hết…

– Tao đi ăn đây mày có muốn đi không?

– Không.

Linh Gà trả lời rồi lết tới giường mình, leo nên nằm. Luật biết với bộ mặt sưng vếu như thế thì chẳng ai muốn đi đâu. Chàng phóng ra xe díp, lập lại hàng chữ mà Linh Gà đã ghi trong cuốn sổ tay vào ngày thứ ba 17 tháng 8: “Anh Hai. Nha Trang Hotel. 10 giờ tối.”

Tối hôm Luật biệt phái về lại Nha Trang thì Trọng Gàn cũng về từ Pleiku. Hai người phi công trẻ lại dắt nhau ra quán Phi Hổ. Luật để ý thay bà chủ quán hình như xấu hơn hồi trước. Chàng lấy làm lạ. Quái nhỉ, đít và vú thì cũng thế, nụ cười cũng như thế, mặt mày cũng trang điểm như thế nhưng sao Luật thay bà ta không còn hấp dẫn như lần trước nữa. Suy nghĩ một lúc Luật mới nghiệm ra rằng bởi vì mình đã có hình ảnh tươi mát của Hạnh trong lòng mình nên chẳng còn thấy ai đẹp nữa…

Hai người uống đến chai bia thứ năm thì Luật đã kể hết những gì xảy ra cho Trọng Gàn nghe. Trọng Gàn tái mặt nói:

– Thế thì mình phải đi báo an ninh ngay.

Luật lắc đầu:

– Có hai cái kẹt. Cái thứ nhất là tao không còn bằng chứng gì nữa, có nói chưa chắc ai đã tin. Cái thứ hai là tụi an ninh có thể khai thác việc làm ăn của tao để làm tiền…

– Thế sao hôm ấy mày không lấy mẹ nó cái túi ấy của thằng Linh đi?

– Mày triết lý hay nhưng tính chuyện dở ẹt. Nếu hôm đó tao lấy thì nó biết ngay là đã bị lộ. Và nó có thể có phản ứng mà mình không thể ngờ trước được. Mày biết là nó nắm hết tụi an ninh quân đội ở trên đó mà.

Trọng Gàn gật gù cái đầu:

– Mày có lý. Thế thì bây giờ mày tính sao?

– Chỉ còn một cách là mày phải giúp tao thôi. Tao biết mày có ông anh làm ở ngành cảnh sát.

– Anh tao giúp gì mày được?

– Đơn giàn lắm. Tối hôm thứ ba, thằng Linh Gà thế nào cũng đến nộp cái bản đồ phòng thủ tỉnh Quảng Đức cho anh Hai nó. Cứ để cho nó gặp. Khi nó trở ra, mày bảo anh mày chuẩn bị và cho cảnh sát xông vào phòng khách sạn bắt thằng Anh Hai của nó…

– Còn thằng Linh Gà thì sao?

– Tao sẽ lo thằng Linh Gà.

– Lo nghĩa là thế nào, tao không hiểu? Mày tính làm gì nó?

Luật cười khẩy:

– Đó là chuyện riêng giữa tao và thằng Linh… À, tao muốn hỏi mày cái này.

– Gì?

– Hôm nọ mày nói rằng thời này là thời của bọn đạo tặc. Thế thì chừng nào mới tới thời của những người công chính như tao và như mày?

Trọng Gàn nhìn ra xa, mơ hồ:

– Mày có nhớ hồi năm ngoái, tướng độc nhãn Moshe Dayan Do Thái qua thăm Việt Nam, thằng chả nói một câu gì không?

– Không?

– Chả nói rằng miền Nam nếu muốn thắng Cộng Sản thì phải để cho Cộng Sản chiếm miền Nam cái đã. Lý luận của chả là sau khi Cộng Sản thắng miền Nam rồi thì người miền Nam mới hiểu thế nào là Cộng Sản.

– Theo ý mày thì sao?

– Tao cũng nghĩ như thế. Cái thời của bọn đạo tặc này sẽ tiến tới một giai đoạn mà trong toán học người ta gọi tột đỉnh. Đó là lúc miền Nam sẽ bị rơi vào tay Cộng Sản. Và đó là lúc mà những người công chính sẽ bị tàn hại, sẽ bị bắt bớ hoặc lưu đày tàn khốc nhất. Chuyện đó sẽ xảy ra, nhưng sau thời đó thì sẽ đến thời của những người công chính, những người quốc gia yêu nước chân chính sẽ đến…

Cộng Sản sẽ bị nhân dân Việt Nam đứng lên tiêu diệt. Lúc đó, nước Việt Nam mình sẽ bước vào một thời thịnh vượng và sung sướng. Nhưng trước khi đó, nhiều người công chính sẽ bị hy sinh, bị hành hạ, bị ngược đãi, bị tù đày…

– Nhưng chuyện quan trọng nhất mày vừa nói là mình sẽ thua trận?

Trọng Gàn gật đầu:

– Chắc chắn! Tao không thấy làm sao mình có thể tồn tại được trong một xã hội băng hoại, một chính quyền thối nát như thế này. Tao chỉ thấy tội nghiệp cho những người xưa nay bỏ không biết bao nhiêu là công sức và thì giờ để đi xây lâu đài trên bãi biển… Nếu họ chịu khó lo việc nước nhiều hơn nữa thì tụi Cộng Sản làm sao thắng mình được. Nhưng dù Thắng dù Thua thì mình cũng phải làm hết bổn phận mình…

Luật suy nghĩ một lúc rồi trầm ngâm nói:

– Mày nói đúng. Mình phải làm hết bổn phận mình…

° ° °

7 giờ tối hôm thứ ba ngày 17 tháng 8, Linh Gà đạp máy chiếc xe Honda dựng trước cư xá. Tối nay Linh Gà mặc đồ thường, nhưng lại lận trong lưng mình khẩu P.38. Luật đã trả lại khẩu súng này cho Linh Gà với 6 viên đạn Made in Đức Xuyên vẫn còn y nguyên trong súng. Vốn là một kẻ không coi thứ gì khác ngoài tiền là quan trọng, Linh Gà cũng không để ý, không hề kiểm soát lại ổ đạn cũng như không hề thắc mắc là tại sao hôm nọ hắn bắn hai phát mà thằng Luật không hề hấn gì cả.

Linh Gà dựng xe ở trước khách sạn Nha Trang Hotel, khóa bằng xích hai ba vòng cẩn thận trước khi bước vào. Hắn đón thang máy lên lầu 5, rồi lại đi xuống lầu 3, gõ bốn tiếng cửa phòng số 314. Sau đó, Linh Gà đứng cho một lúc rồi giả làm tiếng mèo kêu meo meo hai lần.

Cánh cửa bật mở, một người đàn ông ló đầu ra nhìn quanh quất rồi mở rộng cửa. Linh Gà vừa vào thì hắn đóng cửa lại liền…

Trong căn phòng kế bên phòng 314, tức phòng 316, hai nhân viên tình báo của Tổng Nha cảnh sát đang ngồi bên cạnh một chiếc máy nghe lén liền vặn lớn volume lên. Họ nghe thấy tiếng Linh Gà nói ở phòng bên cạnh:

– Chào anh Hai.

– Chú đến quá sớm. Tôi hẹn chú 8 giờ mà.

– Em xin lỗi anh Hai. Tại em mấy ngày hôm nay sao thấy trong người mệt mõi và lo sợ kỳ quá…

– Chú giác ngộ đi theo cách mạng nhưng đầu óc chưa tiến bộ, ăn nói như một thằng tiểu tư sản cầu an. Chú cần phải học tập nhiều. Con đường cách mạng là một con đường tranh đấu liên tục và trường kỳ…

Một trong hai người nhân viên của Tổng Nha Cảnh Sát cười gằn, nói với bạn:

– Đúng là thằng Tám Thẹo. Vậy mà tôi tưởng nó chết trong trận Mậu Thân rồi chứ…

– Mình cho cho thằng phi công đi ra rồi ụp vào bắt nó. Lệnh ông Liễu là như vậy.

15 phút sau, cánh cửa phòng số 314 bật mở. Linh Gà thò đầu ra, nhìn quanh quất một lúc khắp hành lang rồi vội vã bước ra ngoài. Hắn đi tới thang máy, cẩn thận làm đúng lời dạy của anh Hai là không đi xuống mà lại đi lên lầu 8 của khách sạn. Tại đây, hắn đi một vòng, vào trong bar ngồi một lúc rồi lại đi ra, dùng cầu thang đi xuống.

Linh Gà đâu có biết rằng khi hắn bước hết bậc thang cuối cùng để xuống tầng trệt của khách sạn thì ở tầng thứ ba, một tiểu đội cảnh sát đặc biệt đã xông vào phòng 314 và túm trọn cổ 3 người trong ấy…

Không biết chuyện gì đã xảy ra, Linh Gà bình thản bước ra khỏi Nha Trang Hotel. Hắn đứng ở cửa ngó ngang dọc một lúc rồi đi tới bên chiếc xe Honda, khom người mở hai cái ổ khóa ra. Rồi hắn hạ xe xuống khỏi bàn chống nhưng đau khổ nhận ra rằng bánh xe trước đã bị xẹp lốp. Linh Gà văng tục ầm lên rồi dắt xe đi. Hắn biết một tiệm vá xe ở góc đường Hai Bà Trưng và Phan Thanh Giản gần đó.

Linh Gà dắt chiếc xe đi một lúc thì ra khỏi khu ánh đèn sáng trưng của khách sạn Nha Trang Hotel, vào một khu vực tối hơn ở gần đó. Hắn vừa đi thêm được một đoạn thì có một giọng gọi đích danh hắn. Tiếng gọi phát ra từ một bóng đen ngồi trên chiếc Honda dựng ở bên đường, trong bóng tối.

Linh Gà dừng bước, ngạc nhiên quay nhìn bóng đen ấy. Bóng đen xuống xe tiến tới gần Linh Gà. Dưới ánh đèn mờ mờ, Linh Gà vừa kịp nhận ra bóng đen chính là thằng Luật thì bàn tay Luật đã dơ cao. Linh Gà thét rú lên một tiếng khi nhìn thay cây P. 38 trong bàn tay Luật chĩa ngay mặt hắn. Tên phản quốc hoảng hồn, nhưng chưa kịp có phản ứng thì cây súng ấy đã khạc ra 2 cục lửa liên tiếp vào mặt hắn.

Linh Gà bật người ra sau, máu óc văng đầy xuống mặt đường. Chiếc xe Honda ngã chồng lên người hắn. Luật rít qua hai hàm răng:

– Mày tưởng người công chính không biết bắn súng hả? Bắn… cho mày chừa cái tật ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản…

Luật nói thế và lẹ làng bước tới thêm hai bước nữa, nhảy qua khỏi chiếc Honda, tới sát bên hắn. Linh Gà giật người lên từng hồi. Phần trán trên của hắn đã biến mất, nhưng miệng vẫn còn ngáp ngáp. Và cứ mỗi lần ngáp như thế, máu lại ứa ra ở hai bên mép. Luật xoay người một vòng thật nhanh để quan sát rồi cúi xuống, kê họng súng vào giữa miệng Linh Gà nổ thêm hai phát nữa.

Vài người khách bộ hành đi gần đó thét rú lên và bỏ chạy…

Luật nhổ một bãi nước bọt xuống cái xác nằm bất động của Linh Gà, bước trở lại chiếc Honda của mình đậu trong bóng tối. Chàng nhét súng vào bụng, phóng lên xe rồ máy và biến mất trong màn đêm.

“Dù sao đi nữa thì mình cũng đã làm tròn bổn phận,” Luật nhủ thầm với lòng mình như thế và mỉm cười nhẹ nhàng…

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | 1 Comment

Lê Văn Năng – Cổ Thành Quảng Trị…Trị Thiên Vùng Dậy  

48 giờ nghỉ dưỡng quân tại hậu cứ, ở ngã tư An Sương, Hốc Môn, đối với tôi, ra Sài Gòn làm một chầu cà phê ở quán Mai Hương, Pagode thế là đủ.

Khi chưa kết hôn, 7 ngày phép với tôi là… quá dài, tới ngày thứ tư, tôi đã thấy bồn chồn, ngày thứ năm, tôi nhớ đồng đội, nhớ đơn vị… Rồi tôi không thể nghỉ phép hết ngày thứ sáu. Tôi về đơn vị, không khí ở đó mặn nồng hơn, vui vẻ hơn, so với những ngày phép ở ngoài, sao nó lạt lẽo, đôi khi vô vị. Đúng vậy, chẳng có mùi vị gì hết. Vì vậy, khi người bạn học cũ hỏi tôi:

“Mày mới từ tử địa An Lộc về, giờ lại ra miền Trung, bộ không ngán súng đạn sao?”

“Bây chừ thì chưa, bây chừ tao thấy đi hành quân với đơn vị, anh em, mà lại còn về Huế nữa, là… vui lắm.”

Với cái vui ấy, tôi cùng anh em 81 Biệt Cách Nhảy Dù lên mấy chiếc C-130 của quân đội Mỹ, bay ra phi trường Phú Bài ngày 28 tháng Sáu, năm 1972.

Chúng tôi phải đi gấp vì lệnh của tổng thống đấy.

Hôm đại lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng Sáu năm 1972, tổng thống đọc diễn văn và ra lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, trong vòng 3 tháng, phải chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị. Kể từ hôm tổng thống ra lệnh, đến ngày chúng tôi lên máy bay chỉ mới 9 ngày. Ngoài ấy, Tướng Ngô Quang Trưởng đang là tư lệnh chiến trường, ngoài các đơn vị của Quân Đoàn I, thì các Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến cũng đã có mặt rồi. Không những quân đội chúng ta giữ được phòng tuyến sông Mỹ Chánh, mà lại còn đang phản công ra phía Bắc con sông nầy.

Xuống ở phi trường Phú Bài, chúng tôi được quân xa đưa thẳng ra PK.17, tức là Đồn Cây Số 17, như dân chúng thường gọi. Đây là căn cứ của Trung Đoàn 3, Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Trung đoàn đã ra trận, chỉ còn một ít binh sĩ ở lại phòng thủ doanh trại.

Đêm đó, như thường lệ, trước mỗi cuộc hành quân, chúng tôi nhận 7 ngày lương khô và được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn chỉ thị nhiệm vụ cho từng đại đội. Ông đã được vinh thăng đặc cách đại tá tại mặt trận Bình Long, An Lộc, cũng như về sau này tất cả quân nhân khác trong đơn vị có tham dự tại chiến trường An Lộc, mỗi người đều được thăng một cấp.

Tôi, đại đội trưởng Đại Đội 4, cùng Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, đại đội trưởng Đại Đội 1, được lệnh đưa hai đại đội ngày mai lên đường tăng phái cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Thiếu Tá Lê Văn Mễ. Đơn vị nầy mới từ Charlie về, vừa bổ sung tái huấn luyện, ra Quảng Trị hồi đầu tháng 5, ngay sau khi thành phố Quảng Trị bị mất, nay đang hành quân từ phòng tuyến Mỹ Chánh, tiến dọc theo các ngọn đồi sát chân núi Trường Sơn, phía Tây Quốc Lộ 1. Mục tiêu của Tiểu Đoàn 11 Dù là Nhà Thờ La Vang. Tiểu Đoàn 11 Dù đã hoàn thành nhiệm vụ.

Đại đội tôi được quân xa chuyển đến gần ngã ba đường vào xã Ưu Điềm, từ đây chúng tôi men theo hai bên Hương Lộ, để di chuyển về hướng Mỹ Chánh, vượt qua cầu Mỹ Chánh vào khoảng trưa, Đại Đội phân làm 2 cánh, tiến ra hướng Bắc, ở hai bên Quốc Lộ mới do Công Binh Mỹ vừa xây xong. Đường nầy không đi qua Diên Sanh, Phủ Lỵ Hải Lăng cũ. Trong một ngày đường là chúng tôi tới khu vực Đại Lộ Kinh Hoàng.

Một khung cảnh quá khủng khiếp hiện ra trước mắt, đã làm cho máu tôi ứa trào lên. Tại sao Việt Cộng tàn ác đến như vậy?

Đó là câu hỏi đầu tiên hiện ra trong trí tôi. Những cái ác mà tôi không thể tưởng tượng nỗi, không thể chịu đựng nỗi, không thể chấp nhận được. Tôi vốn là một Phật tử mà. Nhưng dù là một Phật tử, máu tôi không thể không sôi sục dâng trào trước cảnh tượng bất nhân, tàn ác đó.

Trên mặt đường nhựa, xác người dân nằm la liệt, ngổn ngang. Thây người chết ở mọi tư thế khác nhau, nằm sấp, nằm ngửa, nghiêng. Xác thì chân tay dang ra, xác thì chân hay tay co lại. Xác nầy chồng lên xác kia, dồn đống, có xác một mình co quắp bên lề đường… Cái mất đầu, cái mất tay, mất chân.

Có xác đàn ông, có xác đàn bà, có xác trẻ em, có xác không còn nhìn ra là đàn ông hay đàn bà nữa. Không thể nào tả hết được!!!

Đoạn đường Việt Cộng giết người nầy, xảy ra ngay ngày Việt Cộng chiếm thành phố Quảng Trị, ngày 1 tháng Năm, năm 1972 và những ngày tiếp sau đó.

Vậy là đồng bào nằm đây đã gần hai tháng, da thịt đã rữa. Có nơi xương trắng đã bày ra, sọ, tay chân hay xương sườn. Dù quân nhân mặc đồ trận hay thường dân, thì đồ trận, áo quần cũng đã phai màu, mục nát. Mái tóc dài của mấy mẹ, mấy chị, mấy cháu đã tróc khỏi sọ não, bay là đà theo từng cơn gió thoảng, trên mặt cát còn xông đầy mùi tử khí.

Họ là những người trốn chạy, dù họ là dân sự hay quân nhân. Họ trốn chạy Cộng Sản. Họ trốn chạy chiến tranh. Họ trốn chạy tên bay đạn lạc, dù không biết rõ của phe bên nào. Giết chết những người trốn chạy! Vậy là vô nhân đạo, là vô lương tri, là kẻ giết người dã man, họ đã đi tới chỗ tận cùng của lương tâm.

Trên mặt đường và cả hai bên vệ đường, bên cạnh xác người là lỗ chỗ các hố sâu của đạn súng cối, đại bác, hỏa tiễn mà giặc cộng đã nhẫn tâm rót xuống để giết hại đồng bào và những trẻ thơ vô tội.

Xe cộ nằm dọc theo đường đi, mũi xe hướng về Nam, xe quân đội, xe dân sự, xe hàng, xe đò chở khách, xe lớn nhỏ đủ các loại. Nhiều chiếc bị cháy sạm đen, nhiều chiếc bị đạn pháo bắn hư hại một phần hay hoàn toàn. Rải rác đây đó là các loại xe gắn máy, Vespa, Lambretta, Honda, Mobylette và khá nhiều xe đạp, hầu hết, bị hư, cong vành bể lốp chỉ còn là đồ phế thải.

Dù là một người lính trận, từng vào sinh ra tử, tôi không dám nhìn kỹ những cái xác ấy. Kinh hoàng quá! Kinh hoàng quá! Tàn ác quá! Tàn ác vô cùng tận!!!

Chúng tôi lặng yên di chuyển trong đau buồn và tức giận, vừa sẵn sàng súng đạn để phản công nếu địch phục kích, lại cũng vừa để tránh địch phát hiện. Chúng sẽ pháo, pháo dồn dập nếu thấy chúng tôi.

Đêm mùa Hè, trời tối chậm, chúng tôi được lệnh dừng quân nghỉ qua đêm. Tôi cho lệnh các trung đội đào hố cá nhân phòng thủ ở cả bốn hướng, trải rộng dọc theo hai bên Quốc Lộ 1, để tránh tổn thất khi bị địch pháo kích, đồng thời là để phản ứng ngay nếu bị địch tấn công. Tôi và Ban Chỉ Huy Đại Đội đóng cạnh một chiếc xe GMC của phe ta bỏ lại.

Đêm trôi đi trong bóng tối tĩnh mịch, thỉnh thoảng có ngọn gió thổi qua, tôi thấy dễ chịu đôi chút. Nhưng suốt cả đêm, tôi chỉ chợp mắt từng chặp. Tôi không sợ chết, nếu thần chết có đến, tôi sẽ chống lại, như cái bản năng sinh tồn của muôn loài muôn vật.

Chính tôi đã viết trên tường Đài Tử Sĩ ở An Lộc: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Nói câu đó, và khắc viết lại câu nói đó của người xưa, tức là tôi đã chấp nhận cái kỷ kiến ấy rồi, có chi mà tôi phải thắc mắc.

Nhưng những thây người nằm ngổn ngang đang rửa mục, trên đoạn đường đi qua hồi chiều ám ảnh tôi, làm tôi không ngủ được. Chiến tranh là tàn ác. Những người đi đánh trận như tôi, vì Tổ Quốc, vì đồng bào, tôi chấp nhận nó. Nhưng với những người nằm chết kia, tôi thấy tội nghiệp cho họ, hay như câu Mạ tôi thường nói: “Tội vô cùng”. Tội cho họ quá, không làm sao một con người còn có lương tâm, có thể chấp nhận được.

Sáng hôm sau thức dậy, nhìn vô thùng xe, nhìn chung quanh lại đầy rẫy xác người chết khô, nằm co quắp, nằm dọc dài trên thảm cát, bên vệ đường.

Thật là quá thương tâm, não ruột. Tôi không kềm chế được nỗi xúc động, hai dòng nước mắt ứa trào.

Đại đội tiếp tục tiến ra hướng Bắc, tới một cây cầu, có phải là Cầu Dài như tên dân chúng thường gọi, đã bị sụp đổ, chúng tôi phải trầm mình lội nước vượt qua sông.

Tôi xem lại bản đồ, bên cạnh Quốc Lộ 1, về phía trái hướng Tây, song song với Quốc Lộ là đường xe lửa Saigon-Đông Hà. Bên kia đường xe lửa là khu đồi hoang, lúp xúp cây dại, cây mua và cây sim. Có lẽ vùng nầy tới mùa hoa nở, hoa mua và hoa sim phủ kín ngọn đồi. Nó giống như những ngọn đồi miền Trung, Bình Trị Thiên hay Thanh Nghệ Tĩnh vậy. Đây là “Những đồi hoa sim, màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt.” Tiếc rằng, tôi cũng là người chiến binh, không có thì giờ lang thang qua những đồi sim nầy để thấy màu tím của quê hương.
Di chuyển thêm chừng cây số nữa, bên trái là một căn cứ pháo binh của Sư Đoàn Dù, tình cờ tôi gặp Chuẩn Úy Hoàng Công Thức, Khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, là em một người bạn học cùng xóm, con trai Thầy Hoàng Văn Ngũ, giáo sư Sinh Ngữ Trường Trung Học Công Lập Nguyễn Tri Phương, Huế. Anh là Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Đoàn Nhảy Dù, đang hoạt động vùng nầy.

Sau cùng, đại đội tôi cũng đã tiếp cận tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, tôi trình diện Mê Linh, tức là Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù. Cùng gặp Mê Linh với tôi sau đó là Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, đại đội trưởng Đại Đội 1 Biệt Cách Nhảy Dù.

Mê Linh giao nhiệm vụ cho hai đại đội Biệt Cách Dù là tái chiếm Nhà Thờ La Vang, tên mới là Vương Cung Thánh Đường La Vang: “Đại đội các anh phải chiếm lại nhà thờ nầy và giữ nó, không cho địch chiếm lại.” Có nghĩa là Dù đã chiếm nó. Đó là công lao của “Hùng Móm,” nhưng Hùng phải bỏ nó lại đi tiếp xuống để đánh vào thành phố Quảng Trị, thừa cơ hội đó, VC chiếm lại mục tiêu nầy.

Con đường tiến quân của Cộng Sản đánh vào Quảng Trị là con đường từ Ba Lòng xuống Như Lệ, Phước Môn, bên hữu ngạn Sông Thạch Hãn, theo một con đường bỏ hoang đã lâu, có cái tên cũ là đường Bảo Đại. Nó không giống như con đường Trần Lệ Xuân ở Phước Long, con đường đi lấy gỗ rừng của dân xe be khai thác gỗ.

Ở đây, đường Bảo Đại là con đường đi săn của nhà vua trước năm 1945, khi ông vua ham săn bắn nầy còn ngồi trên ngai vàng. Quân Cộng Sản đã theo con đường này, đưa quân chiếm lại Nhà Thờ La Vang. Nó cũng có nghĩa là khi Tiểu Đoàn 11 Dù từ hướng Tây đánh vào thành phố, thì coi như Tiểu Đoàn đưa lưng ra cho địch từ sau đánh tới. Trong ý nghĩa đó, hai đại đội Biệt Cách Dù có nhiệm vụ lấy lại Nhà Thờ La Vang, và giữ nó là nhằm mục đích bẻ gãy ý đồ của địch.

Bây giờ chúng tôi lại phải áp dụng chiến thuật sở trường: Đánh đêm.

Vị trí giữa địch và ta đã thay đổi. Trước kia, chúng ta ở trong đồn, VC công đồn, chúng phải đánh ta vào ban đêm, chúng ta khó phát hiện địch. Bây giờ thì chúng ta phải công đồn, chúng ta cũng đánh đêm, địch không thể phát hiện được ta.

Nhà Thờ La Vang mặt quay về hướng Đông. Đại Đội 1 đánh từ hướng Tây Tây Nam, phía có Hang Đá Đức Mẹ. Đại Đội 4 tôi cũng đánh từ hướng Tây, Tây Bắc, phía có con đường đi lên Nhà Thờ Phước Môn ở phía Tây Nhà Thờ La Vang, gần chân núi Trường Sơn hơn.

Vào nửa đêm, chúng tôi âm thầm hai cánh quân tiến sát vòng đai Nhà Thờ La Vang, vừa dàn quân lại gặp một trận mưa lớn, chúng tôi án binh bất động.

Trời vừa sáng, dứt cơn mưa, quan sát các bố phòng của địch, tôi điện báo cho Đại Úy Đoan để phối hợp tác chiến, rồi bắt đầu phát lệnh xung phong, tấn công chớp nhoáng, ào ạt, địch quá bất ngờ, nên một số đã bị tiêu diệt, một số vất súng đầu hàng, vài ba tên tháo chạy vào bên trong nhà thờ, dùng B.40, AK.47 tác xạ chống trả, nhưng đã bị cánh quân hướng Tây Bắc của Đại Đội 4 chúng tôi ném lựu đạn triệt hạ 20 tên và bắt sống 5 tên. Chúng tôi 03 tử thương và 12 bị thương. Thu dọn chiến trường xong, Đại Đội 1 được lệnh ở lại bố phòng Nhà Thờ La Vang. Đại Đội tôi tiếp tục tiến về hướng Đông Đông Bắc để thanh toán mục tiêu kế cận là Chi Khu Mai Lĩnh.

Chi Khu Mai Lĩnh, thuộc Quận Mai Lĩnh, tọa lạc trên đoạn đường rẽ, tên thường gọi là Ngã Ba Long Hưng, là con đường cũ đi vào thành phố, phía ngoài sân vận động Quảng Trị cũ, kế cận trường Trung Học Nguyễn Hoàng.

Trên con đường tiến quân từ Nhà Thờ La Vang đến Chi Khu Mai Lĩnh, đại đội tôi bị tử thương một khinh binh và một tiểu đội trưởng vì đụng chốt VC tại ngã ba đường La Vang và Quốc Lộ 1. Nhổ chốt là sở trường của Biệt Cách Nhảy Dù, theo chiến thuật của Đại Tá Huấn. Pháo Binh cho nổ một tràng vào vị trí địch, buộc địch phải lụt đầu xuống, núp trong các hố cá nhân. Các viên đạn cuối là đạn lép. Trong khi, nghe tiếng đạn đi, VC còn núp, thì chúng tôi biết đó là đạn lép, không có gì nguy hiểm, liền nhanh chóng áp sát chỗ chúng ẩn núp, nhờ đó, chúng tôi thanh toán bọn chúng không mấy khó khăn.

Đại đội tôi cũng áp dụng chiến thuật đánh đêm để tiến chiếm Chi Khu Mai Lĩnh. Đơn vị VC chốt lại đây không đông, khoảng 15 hay 20 tên, chúng nằm trong các công sự có sẵn trong Chi Khu để chống trả, và vì thế mà chúng đã không ngờ binh sĩ của đại đội tôi, một nửa ém quân bên ngoài, thỉnh thoảng tác xạ súng phóng lựu M.79 vào bên trong Chi Khu, một nửa lợi dụng trời tối đen như mực đã bò vào nằm sát bên ngoài công sự, khi chúng tác xạ chống trả đã để lộ mục tiêu, nên bị chúng tôi ném lựu đạn giết chết và làm trọng thương hầu hết.

Ở lại trấn thủ Chi Khu Mai Lĩnh được hai hôm, đại đội tôi được lệnh tăng phái cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Bùi Quyền, Thủ Khoa Khóa 16 Võ Bị Đà Lạt, đang hành quân ở phía Đông Thành Cổ. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đang đóng tại khu vực Thôn An Thái cách Cổ Thành khoảng 3 km về hướng Đông Nam. Trình diện danh tánh, cấp bậc, chức vụ với tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5, Thiếu Tá Bùi Quyền nhìn tôi nói đùa:

“Tôi thì nhỏ con, Trung Úy Lực thì to con, vậy tôi gọi ông là Lực Đô nhé, à… à… mà Lực Đô nói lái là Lộ Đức, vậy thì Lộ Đức là ám danh đàm thoại vô tuyến tôi đặt cho trung úy trong cuộc hành quân này, trung úy, có chịu không?”

Nói xong, Thiếu Tá Quyền cười vui vẻ vì cái sáng kiến độc đáo của ông. Nhờ ông, mà cái biệt danh Lộ Đức đã đeo đẳng theo tôi từ đó cho tới bây giờ.

Hôm sau Đại Đội 3 của Đại Úy Phạm Châu Tài cũng được điều động đến tăng cường cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Thiếu Tá Bùi Quyền họp các đại đội trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Biệt Cách Dù để ban lệnh hành quân. Ông giao cho tôi nhiệm vụ tấn công chiếm cứ nhà thờ Hạnh Hoa Thôn, thuộc làng Cổ Thành, quận Triệu Phong. Đai Đội 3 là lực lượng trừ bị. Thôn nầy ở bên sông, đẹp như cái tên của nó, nằm trên con đường đất hẹp, từ phía Đông Thành Cổ ra tới bờ sông Vĩnh Định, Thôn Hạnh Hoa có những ngôi nhà cổ, vườn rộng, cây lá xanh tươi, nhiều gốc mai lưu niên, có thể là trồng từ lâu lắm, đã mấy chục đời.

Nhà thờ Hạnh Hoa nhỏ, đối diện với bên kia đám ruộng nhỏ là nhà thờ Tri Bưu cao lớn, có tháp chuông vươn khỏi những ngọn tre làng.
Địch đang chiếm cứ trong nhà thờ.

Đánh trận ở đây, khi thấy địch chiếm đóng nhà thờ, tôi thường nhớ lại một câu trong bài hát: “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”:

“Từ khi giặc tràn qua Xóm Đạo,
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương”.

Vâng, tôi là người chiến sĩ giữ quê hương và tôi đang đuổi giặc ra khỏi xóm quê nầy, mặc dù tôi chẳng có một em nhỏ nào cả “để nghe khe khẽ lời em nguyện” mà chỉ có “luyến thương chan chứa Tình Quê Mẹ” mà thôi.

Hình như quân Cộng Sản chỉ quen với chiến thuật tấn công hơn là chiến thuật phòng thủ. Nhờ vậy chúng tôi lần nữa sử dụng kỹ thuật đánh đêm. Tôi bung bốn trung đội men theo các nhà dân bị đổ nát, song hành tiến sát nhà thờ Hạnh Hoa Thôn. Lại một trận mưa rào đổ xuống đã giúp xóa bớt tiếng động di hành của chúng tôi, và nhờ đó mà đại đội đã vào chiếm cứ nhà thờ không một tiếng súng nổ. Đáng buồn là khi trời hừng sáng, địch đã nổ súng phản công và trong lần đụng độ này, tôi mất người hiệu thính viên mà tôi rất thương mến: Hạ Sĩ Chấn. Anh đã hy sinh ngay khi đang cầm ống nghe liên lạc báo cáo với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, thì bị một viên đạn địch bắn trúng đầu.

Vào ngày hôm sau, từ tờ mờ sáng đại bác của VC tác xạ liên hồi từ hướng Tây vào các vị trí phòng thủ của các đơn vị Nhảy Dù, đại đội tôi và rải rác quanh khu vực phía Đông của Cổ Thành. Vừa ngưng pháo thì VC bắt đầu mở cuộc tấn công quy mô với một đơn vị Cộng quân đông hơn quân số đại đội tôi tới khoảng 5 lần.

Bọn chúng từ một ngôi làng ở hướng Bắc Thôn Hạnh Hoa, ồ ạt xung phong biển người tấn công vào nhà thờ Tri Bưu và nhà thờ Hạnh Hoa. Chúng tôi sử dụng hết hỏa lực của mình để ngăn giặc. Nhưng kỳ lạ chưa? Bọn chúng như điên cuồng, như rồ dại, như uống bùa mê thuốc lú, hết lớp nầy ngã xuống, lớp sau tiến lên. Lớp sau ngã xuống, lớp sau nữa tiến lên. Không những chúng tôi ngạc nhiên, thấy kỳ lạ mà còn kinh hoảng nữa, tự hỏi: “Sao bọn chúng ngu xuẩn, điên rồ vậy?”. Cứ tình trạng nầy, đại đội tôi, với quân số ít ỏi, chưa kịp bổ sung sau trận An Lộc, sẽ bị chúng tràn ngập mất thôi.

Nhưng cuối cùng, trước hỏa tập TOT của Pháo Binh Dù và Sư Đoàn 1, cùng sự chiến đấu dũng cảm của các Đại Đội Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Đại Đội 4 chúng tôi. Bọn chúng quay đầu tháo chạy như lũ chuột, bỏ lại trên bãi chiến trường la liệt xác chết của đồng bọn, của những tên giặc cộng cuồng tín, vô thần, mất hết cả lương tri, nhân tính.

Tôi ngồi nghỉ mệt, lật tấm bản đồ ra xem lại vị trí của mình, tôi bỗng chợt nhớ câu chuyện của một người bạn cũ kể lại. Tết năm Mậu Thân, VC dùng con đường nầy để tiến quân đánh vào Thị Xã Quảng Trị, ngay tại điểm nầy, chỗ tôi đang ngồi, Thôn Hạnh Hoa, VC đụng phải một Tiểu Đoàn Nhảy Dù và thiệt hại không ít. Nhờ đó mà Quảng Trị được yên hơn Huế là vì vậy.

Hèn chi, VC cố chiếm lại nhà thờ Hạnh Hoa Thôn, là vì nó nằm trên con đường chiến thuật. Mất nhà thờ Hạnh Hoa Thôn, là chúng mất con đường tiếp cận với binh lính của chúng đang cố thủ trong Cổ Thành. Giữ được nhà thờ Hạnh Hoa Thôn là đại đội tôi đã đóng góp sức mình cho công việc tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.

Tình hình chiến sự ở khu vực cận Cổ Thành vẫn còn sôi động, súng đạn từ trong bắn ra từ ngoài bắn vào nổ liên tục. Tiểu Đoàn 5 Dù được tăng cường thêm Đại Đội 1 và Đại Đội 2 Trinh Sát Dù, đang nỗ lực tấn công chiếm Cổ Thành. Thiếu Tá Bùi Quyền ra lệnh cho Đại Đội 3 và Đại Đội 4 Biệt Cách Dù, cùng tiến lên chiếm lĩnh phòng thủ tại Nhà Thờ Tri Bưu, để phụ trách sườn cánh phải, hướng Bắc của Cổ Thành.
Tôi dẫn đại đội thi hành nhiệm vụ. Chẳng còn thằng cùi hủi nào trong nhà thờ Tri Bưu cả. Bọn chúng đã bị Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù triệt hạ hầu hết trong lần tập kích trước, nên rút chạy cả rồi.

Ngay cả nhà dân chúng chung quanh nhà thờ, dân thì đã di tản đã lâu, từ đầu trận đánh, bây giờ chẳng còn thằng nào bén mảng đến đây.
Tôi vẫn cho binh sĩ lục soát kỹ ở nhà thờ, không có gì hết, ngoài một số xác chết của đám “sinh Bắc tử Nam” bị sình thối, nằm vương vãi một vài nơi, trong và ngoài khuôn viên nhà thờ. Nhưng tôi rất buồn khi nhìn lên Bàn Thờ Thánh, tượng Chúa Giê Su còn đó, một mình trên Thập Giá. Cha xứ và con chiên chạy trốn giặc Cộng hết cả rồi. Cảnh tượng ấy làm cho tôi thấy đau lòng hơn cả câu thơ của Phạm Văn Bình: “Chúa buồn trên Thánh Giá. Mắt nhạt nhòa mưa qua!” Tôi không khóc, vốn dĩ từ nhỏ tôi ít khi khóc. Nhưng xúc động thì tình cảm của tôi không thua kém ai, nhất là khi tôi nhìn lên gác chuông nhà thờ. Gác chuông đã bị đổ sập, chỉ còn một nửa. Là một Phật tử, không mấy khi tôi vào quì lạy trong nhà thờ để nhìn lên tượng Chúa, nhưng gác chuông nhà thờ là một hình ảnh không xa lạ gì với số đông người Việt Nam. Vì vậy, khi nhìn cái gác chuông bị gãy đổ, lòng tôi xúc động hơn. Nơi đây không còn tiếng chuông nhà thờ nữa, tiếng chuông rộn rã mà tôi đã từng nghe khi tôi còn tuổi ấu thơ.

Đại đội được lệnh nằm án ngữ tại nhà thờ Tri Bưu, ban đêm bung quân ra bên ngoài, để ngăn chặn địch có thể trở lại quấy phá. Trong một lần kích đêm, tiểu đội tiền đồn của Trung Sĩ Khưu Công Quí đã bắn tử thương 02 giặc cộng đang mò mẫm đi vào hướng khu nhà đổ nát của dân, tôi nghĩ chắc để tìm kiếm lương thực (?). Không lâu sau đó, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù ra lệnh Đại Đội 3 và 4 chúng tôi đưa quân về hướng Đông, tiếp cận Cổ Thành. Có đơn vị Nhảy Dù đang chờ ở đó.

Từ nhà thờ Trí Bưu, đại đội đi lom khom, lẩn khuất trong các khu vườn nhà dân, từ vườn nầy qua vườn khác, để tránh địch phát hiện. Tới phía ngoài Cổ Thành, trong vị trí bố phòng của các đại đội Nhảy Dù, tôi nhìn thấy có một số binh sĩ Nhảy Dù tử thương, bị thương, đang nằm trên các băng ca, chưa kịp di tản. Cũng vào lúc đó hàng loạt trái đạn do Pháo Binh tác xạ, rồi tiếp theo sau là các chiến đấu cơ A.37, Skyraider của Không Quân Việt Nam đang thay nhau oanh tạc, nổ dồn dập, inh ỏi trên Kỳ Đài Cổ Thành Quảng Trị. Nhưng, bỗng dưng, không rõ từ đâu có hai chiến đấu cơ loại F.5 của Mỹ, bay vào khu vực giội bom, nổ lạc hướng về phía phòng thủ của Nhảy Dù, gây nên tổn thất nặng nề về nhân mạng cho Đại Đội 51 và 52 của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và một ít cho hai Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Nhảy Dù đang bố phòng kế cận. Sự kiện nầy làm cho quân số của Nhảy Dù hao hụt nhiều hơn. Họ tham gia cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị kể từ đầu Tháng Năm cho đến giờ, vậy là đã hơn 2 tháng. Hai tháng đánh trận liên miên, ngày đêm không ngơi nghỉ, sức voi cũng không chịu nổi. Tôi nghĩ thầm mà thấy thương cho các chiến hữu của tôi.

Ngày 27 tháng Bảy, năm 1972, ba lữ đoàn Nhảy Dù và hai Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù có lệnh triệt thối để bàn giao chiến trường cho Thủy Quân Lục Chiến. Vì là lực lượng tăng phái, Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù được rút trước. Nhảy Dù còn ở lại, chờ quân bạn tiến lên tiếp nhận phòng tuyến.

Barbara và Helène là hai cao điểm nằm ở thượng nguồn, giữa sông Ba Lòng và sông Nhùng về phía Tây Tỉnh Quảng Trị, gần Trường Sơn. Đỉnh Helène cao hơn, thường bị mây mù bao phủ sớm chiều, nhất là về mùa mưa, mây che mờ mịt. Còn Barbara thì thấp hơn một chút, ít mây mù hơn, thuận tiện công việc quan sát đường chuyển quân của Cộng Sản quanh mật khu Ba Lòng.

Rút khỏi Quảng Trị, mấy chiếc Chinook bốc thả Đại Đội 1 và Đại Đội 4 Biệt Cách Nhảy Dù xuống căn cứ Barbara, với nhiệm vụ là từ cao điểm này, tung các toán thám sát của đại đội, thâm nhập vào phía Nam mật khu Ba Lòng để theo dõi, phát hiện sự chuyển, rút quân của địch, mà hướng dẫn pháo binh tác xạ và khu trục oanh kích.

Căn cứ nầy trước kia là của quân đội Mỹ trú đóng. Họ đã rút đi, nay chỉ còn lại những công sự ngầm và hàng rào phòng thủ bao quanh phòng tuyến.

Chiến trường Quảng Trị vẫn còn tiếp diễn, nhưng có lẽ địch đã núng thế rồi, không còn hy vọng gì giữ Cổ Thành lâu hơn được nữa, do đó, các toán thám sát đã báo cáo thấy địch rút quân ra nhiều hơn là đưa quân vào tăng cường cho quân phòng thủ trong thị xã. Các toán thám sát nhận lệnh theo dõi và định vị chính xác đường mòn, căn cứ địch. Từ đó, tôi thông báo về Bộ Chỉ Huy để xin pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Công việc cứ tuần tự như thế cho đến khi nghe tin chiến thắng. Sư Đoàn Thủy Quân Lục chiến đã giương cao ngọn Cờ Vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc Việt Nam trên Cổ Thành Quảng Trị, hôm ấy là ngày 16 Tháng Chín, năm 1972, trước kỳ hạn ba tháng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tổng tư lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Có một điều, trong suốt gần ba tháng dài cùng phối hợp chiến đấu bên cạnh các tiểu đoàn Dù, tôi vẫn không hiểu tại sao Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là một đơn vị tinh nhuệ, chiến đấu can trường, đã mang lại nhiều chiến công hiển hách, mà gần nhất là An Lộc điển hình, nhưng khi đưa vào chiến trường Quảng Trị lại không là một nỗ lực chính, giao phó riêng một vùng trách nhiệm như hồi Mậu Thân ở Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, hay vừa qua tại An Lộc, mà lại xé lẻ, riêng rẽ từng đại đội, để tăng cường cho các tiểu đoàn Dù và đặt dưới quyền điều động, sinh sát của họ mà thôi.

Phải chi với sở trường đánh địch trong thành phố, với chiến thuật du kích, đánh đêm tài tình, điêu luyện, với tài chỉ huy mưu lược của Đại Tá Phan Văn Huấn, khi tham chiến tại Quảng Trị mà được hoạt động riêng rẽ, chắc chắn Liên Đoàn sẽ lại tái diễn thêm một kỳ công, chiến tích lẫy lừng, để sớm mang lại chiến thắng, rút ngắn thời gian tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị mà Sư Đoàn Dù đã đổ máu không phải là ít.
Thế là tàn một trận chiến. Lòng tôi vui mừng vì chúng ta đã chiến thắng, nhưng không khỏi bâng khuâng tự hỏi: “Tại sao họ không ở yên ngoài kia mà đem quân xâm lăng chúng ta, tạo ra hàng vạn, hàng vạn người sinh Bắc tử Nam.” Câu hỏi không dễ trả lời, nhưng có bao nhiêu người khi gây ra một cuộc chiến, nghĩ đến câu: “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!”

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù trong đó có Đại Đội 4 Biệt Cách Nhảy Dù do tôi chỉ huy, một lần nữa đã góp một phần công lao, xương máu, để viết viết lên thêm một chiến thắng oai hùng, lừng lẫy trong trang Sử Chiến Tích của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để mãi mãi lưu truyền cho Hậu Thế.

***

Cùng Chung Chiến Hào

“Mình ba đứa hôm nay gặp nhau….
Xuất thân khác quân trường
Thủ Đức hay Võ Bị,
Đều chung một con đường.
Xông pha khắp chiến trường,
Vẫy vùng nơi trận địa,
Hy sinh vì lý tưởng.
Quyết bảo vệ quê hương.
Tay buông súng đầu hàng,
Nhục hờn căm lính trận,
Tha hương chung phận số,
Kiếp lưu đày vong nô.
Bốn phương về hạnh ngộ,
Áo trận dẫu mờ phai,
Vẫn kiêu hùng phong độ.
Bất tử mãi thiên thu.

April 11, 2018

Nang Van L

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

HẠ SÁT TRUNG TÁ VÕ VÀNG MẶT THẬT TÀN ÁC CỘNG SẢN LỘ RÕ

Phạm Văn Hồng.

Inline image

           Lời giới thiệu:     Tác giả, Thiếu Tá Phạm Văn Hồng xuất thân Khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh/Quân Đoàn I/Phòng 3. Ngày 16 tháng 1 năm 1974, đương sự và G. Kosh, một nhân viên của lảnh sự quán Hoa Kỳ tại Đà Nẳng có nhiệm vụ theo tàu Hải Quân VNCH ra đảo Hoàng Sa khảo sát, nghiên cứu kế hoạch thiết lập sân bay. Ba hôm sau, quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa, bắt tất cả quân nhân VNCH kể cả nhân viên của tòa lảnh sự Mỹ. Sau một tuần, Trung cộng đã thả người Mỹ vì lý do “nhân đạo”, và sau 29 ngày, các quân nhân VNCH mới được trả tự do. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Hồng K20 bị cộng phỉ giam trong trại lao động khổ sai hơn 8 năm ở Quảng Nam. Thiếu Tá Phạm Văn Hồng K20 là một trong những nhân chứng vụ cộng phỉ thảm sát Trung Tá Võ Vàng K17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.   Trân trọng.<!>
 Khi nhắc đến danh tánh cố Trung Tá Võ Vàng, cựu Sinh Viên Sĩ Quan khóa 17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, có lẽ rất nhiều chiến hữu phục vụ tại vùng I chiến thuật, nhất là các chiến hữu Biệt Động Quân và người dân thị xã Huế, hẳn không ai xa lạ gì với tên tuổi của anh. Lý do dễ hiểu là vì trong biến cố Mậu Thân 1968, với trách nhiệm tái chiếm các mục tiêu từ Vĩ Dạ, Dương Nổ, Bãi Dâu và cuối cùng là Gia Hội, đơn vị anh đã đạt chiến thắng lẫy lừng và thanh toán mục tiêu trước giờ ấn định, đến nỗi người dân cố đô Huế đã hết sức cảm phục và thỉnh cầu vị Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật lưu giữ Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân mà anh là Tiểu Đoàn Trưởng ở lại thị xã để dân chúng được yên tâm sinh sống hầu tái thiết, an cư lạc nghiệp. Ý dân là ý trời, tiểu đoàn cuả anh phải “trấn thủ lưu đồn” tại vùng sông Hương, núi Ngự suốt sáu tháng mới được “buông tha”, lên đường chiến đấu tại những chiến trường khác cũng đang rất cần sức chiến đấu cuả tiểu đoàn anh.         Tên tuổi cuả anh đã bị bọn quỉ đỏ ghi vào sổ đen từ dạo ấy.         Sau này với chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 5 thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh, anh lại tạo một chiến thắng lẫy lừng khác tại vùng cực Nam tỉnh Quảng Ngãi, đó là mặt trận Bình Đê, Sa Huỳnh: Trong cuộc thư hùng nẩy lửa này, Trung Đoàn 10 địa phương cộng phỉ gần như bị xóa sổ hoàn toàn. Và đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết đầy oan khiên và đau đớn của anh sau này.           Người viết bài tường thuật này có cơ duyên biết khá nhiều về Trung Tá Võ Vàng, nhất là sau khi tên dã thú bắn anh 7 phát đạn từ sau ra trước, người viết lại là người đầu tiên khiêng thi thể của anh từ suối lên mặt đường và làm biên bản về cái chết đau thương này ….                                                                                                                                         Sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, ngày thành phố Đà Nẵng bỏ ngỏ, bọn cán ngố tiến vào thị xã, người dân xứ sông Hàn mới lần đầu tiên nghe được từ ngữ “Uỷ Ban Quân Quản”. Đến ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân không còn đơn vị, từ sáng sớm đã nghe một bản thông cáo của Uỷ Ban Quân Quản thành phố đọc đi đọc lại trên đài phát thanh Đà Nẵng đại khái nói rằng: ” Tất cả các sĩ quan Ngụy, không chậm trễ, hãy tập họp về số 2 đường Đống Đa, Đà Nẳng để nghe nói chuyện về tình hình đất nước.”.          Đây là cú lừa đầu tiên mà tất cả quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vốn chân thật chưa hề bao giờ ngờ được sự trí trá xảo quỵêt của bọn lưu manh, đã vấp phải. Bị thôi thúc bởi bản thông cáo, tất cả các sĩ quan lũ lượt kéo nhau đến địa điểm nói trên để tìm hiểu xem hiện tình đất nước biến chuyển như thế nào. Và thế là, tất cả những người chân thật ngay thẳng, đã tự động…. chui vào rọ! Có vào mà không có ra!           Cuộc đời tù “cải tạo” của những quân nhân còn kẹt lại khắp các vùng xứ Quảng bắt đầu từ đây. Chúng tôi bị đưa lên trại Kỳ Sơn thuộc tỉnh Quảng Tín. Nơi đây chỉ là một vùng rừng núi hoang vu, cạnh một suối nước chảy quanh co dưới chân khu mỏ vàng Bồng Miêu. Bây giờ danh nghĩa của chúng tôi bị gọi là những người “tù cải tạo”. Ngày ngày chúng tôi ăn không đủ no, mặc không đủ ấm nhưng phải lên rừng chặt cây, cắt tranh, rồi chính mình cùng nhau dựng lên những căn nhà để tự nhốt mình.            Mới đầu, anh Võ Vàng và chúng tôi ở cùng khối 2 thuộc trại 1 Kỳ Sơn nhưng khác nhà. Anh ở nhà 6 còn tôi ở nhà 9. Hai nhà này hầu hết là sĩ quan cấp tá, và thường đi lao động chung với nhau. Sau một thời gian ngắn, qua sự xào xáo “biên chế” lại, anh Vàng về ở cùng nhà với chúng tôi.             Thực sự thì khi anh còn ở Biệt Động Quân, tôi đang ở Tiểu Đoàn 3/1 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, tôi chỉ nghe danh anh chứ chưa hề biết mặt. Mãi cho đến sau này, khi anh rời binh chủng Biệt Động Quân về ngồi tạm tại Phòng 3 Quân đoàn I để chuẩn bị theo học khóa tham mưu tại Đà Lạt tôi mới hân hạnh được biết anh, vì tôi đã về Phòng 3/QĐI từ trước. Sau khi tốt nghiệp khóa học, Bộ Tổng Tham Mưu/Tổng Cục Quân Huấn chỉ định Trung Tá Võ Vàng K17 về phục vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam do những chiến công mà anh đã đạt được cùng những kinh nghiệm chiến trường vô cùng quý báu mà anh đã thu thập qua những trận ác chiến với cộng quân. Những kinh nghiệm này cần được gìn giữ, lưu truyền cho các đàn em của anh. Trong thời gian phục vụ tại Trường Mẹ, Trung Tá Võ Vàng K17 đã đảm nhận chức vụ trưởng khoa chiến thuật rồi trưởng khối huấn luyện quân sự. Với chức năng của một Niên Trưởng, Anh đã đem tâm huyết trao hết kinh nghiệm đầy máu và nước mắt cho đàn em của mình đang còn miệt mài kinh sử dưới mái Trường Mẹ. Đến tháng 3 năm 1972, tình hình chiến sự vô cùng sôi động, Trung Tá Võ Vàng K17 muốn được trở lại chiến trường xưa, đơn vị củ… để cùng đồng đội chia xẻ hiểm nguy, mặc dầu chị Võ Vàng không vui! Anh đã đạt được ước nguyện của người trai Võ Bị.  Đến bây giờ anh lại tái ngộ với tôi ở một nơi, trong một cảnh ngộ thật nghiệt ngã mà cả anh cũng như tôi, chẳng ai mong ước: Trại 1 “Cải Tạo” Kỳ Sơn.    Mỗi ngày anh cùng tôi rong ruổi trong công tác đốn củi, cắt tranh, làm rẫy, trồng sắn, cuốc ruộng, cấy lúa v.v…. Thôi thì đủ thứ tạp dịch không tên, kể sao cho xiết.            Rồi ngày 11 tháng 4 năm 1976, ngày báo hiệu đại hoạ đã tới. Hôm đó là chủ nhật, anh Võ Vàng có tên gọi trong danh sách thăm nuôi. Người thăm anh không ai khác hơn là chị Võ Vàng.             Kịch bản đã được soạn thảo từ lâu, mãi đến hôm nay mới là thời điểm cho bọn khát máu thực hiện. Chúng chuẩn bị tạo yếu tố tâm lý rất ác độc, nhưng hoàn toàn là bịa đặt, về con người anh Võ Vàng, bằng cách là trong những lần sinh hoạt của toàn trại trên hội trường, tên Chính Uỷ Trung Đoàn đến nói chuyện với tù nhân đã ngược ngạo, láo khoét tuyên bố rằng: –       Tên Trung Tá Võ Vàng là một tên mang rất nhiều tội ác với nhân dân và chiến sĩ cách mạng. Tên này độc ác đến nỗi mỗi khi sát hại một chiến sĩ cách mạng, hắn đều cắt tai rồi xâu thành chuỗi đeo tòng teng trước ngực, đi nghênh ngang trong thành phố Đà Nẵng.             Thật rõ ràng là chỉ những người cộng sản chuyên nghề lừa đảo mới tuyên bố được những lời gian trá trắng trợn như thế. Thử hỏi vào thời điểm đó, thành phố Đà Nẵng có khoảng tám trăm ngàn dân, liệu có một người dân nào nhìn thấy anh Võ Vàng đeo tai Việt cộng trước ngực, đi nghênh ngang trong thành phố?             Song song với sự chuẩn bị yếu tố tâm lý, chúng đã tiên liệu thời gian anh Vàng sẽ có thăm nuôi, vì qui chế của tổng trại Kỳ Sơn lúc đó là 3 tháng được thăm một lần. Một tên quân báo từ quân khu 5 đã xuống chờ sẵn tại trại 1. Đến ngày anh được thăm nuôi, chúng cử một cảnh vệ tên Bốn, là một tên có máu lạnh, hướng dẫn bốn năm người trong danh sách ra khu thăm nuôi gặp gia đình. Sau ít chục phút gặp người thân, tên Bốn ra lệnh cho mấy anh em chuẩn bị về trại. Anh Vàng cũng cùng với mấy anh em khác sẵn sàng trở lại trại, thì tên quân báo nói trên đã chờ sẵn tại khu thăm nuôi, lấy uy quyền của một cấp lớn hơn cho phép ở lại với gia đình thêm một thời gian. Tên Bốn lại hô tất cả mọi người tập họp đầy đủ để trở lại trại. Anh Vàng thi hành lệnh, tên quân báo này lại một lần nữa ra lệnh cho anh Vàng được ở lại. Dĩ nhiên là lẽ thường tình được một cấp lớn hơn cho phép, lại thêm yếu tố tình cảm gia đình thì đương nhiên anh Vàng nghiêng về phía ở lại. Tên cảnh vệ đành tức tối dẫn toán được thăm nuôi trở về trại, trong đó không có anh Võ Vàng. Đây là một yếu tố tâm lý vô cùng thâm độc, chúng cố tình kích động vào sự tự ái của tên Bốn hầu gây lòng hận thù với tên vệ binh này, để chúng xử dụng tên này một cách đắc lực và hiệu quả trong chủ đích sát hại anh trong vài ngày sau.              Dường như linh tính được báo trước nên tuy được thăm nuôi và lại được hưởng thời lượng gấp đôi, gấp ba những anh em khác, nhưng khi về trại mặt anh lại lộ rõ vẻ không vui như lẽ thường tình. Và quả đúng, đến chiều anh bị gọi lên ban chỉ huy trại để nhận lệnh.             Xin được tản mạn ra ngoài đề, để mô tả căn nhà chúng tôi ở. Cũng giống như tất cả các nhà khác trong trại là có bốn sạp ở bốn góc, được ghép bằng những cây rừng do chính những người tù đi chặt về ghép lại với nhau thành bốn sạp để nằm. Bốn sạp bốn góc đã tạo thành chữ thập dùng làm lối đi ở giữa. Tôi may mắn được nằm ngay trung tâm chữ thập, còn anh Vàng thì ngược lại, xuyên tâm đối với tôi, nghĩa là anh nằm tuốt phía ngoài bìa. Mô tả như vậy để quí độc giả hiểu được rằng chỗ tôi nằm là đắc địa, vì tại tâm của chữ thập có đào một cái hố để tối đến đốt lửa, hun khói để vừa đuổi muỗi, vừa sưởi ấm cho bớt lạnh. Củi đốt thì khỏi lo, sống ở rừng, mỗi khi hết giờ lao động, mỗi người tù đều phải vác về một cây củi để dùng cho chính mình vào buổi tối.             Chính vì vị trí đắc địa này mà mỗi tối anh Vàng thường lân la đến chỗ tôi nằm để hút thuốc lào với anh Phạm Ngọc Bảo. Anh Bảo là người có quan hệ mật thiết với anh Vàng, vì hai anh có nhà ở cạnh nhau trong vùng bãi biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Hơn nữa, anh Bảo thuộc khóa 12 còn anh Vàng khóa 17 Võ Bị. Phần tôi là em út của cả hai anh vì tôi thuộc khóa 20. Vì tình Võ Bị này mà ba anh em chúng tôi rất thương yêu và tuyệt đối tin tưởng nhau. Yếu tố tin tưởng này rất quan trọng, vì ở trong tù một sự kiện vô cùng ô nhục là tình trạng “ăng ten”, nên không ai dám hở miệng tâm sự với người khác. Ba anh em chúng tôi thì không phải e ngại về yếu tố này.             Và rồi, như thường lệ, ngay buổi tối hôm thăm nuôi định mệnh này, anh đã kể hết một cách tường tận về chuyện được thăm nuôi thêm giờ, gây tức tối cho tên vệ binh và trại bắt anh phải làm kiểm điểm, vì đã cưỡng lệnh cảnh vệ. Anh hỏi ý kiến tôi và anh Bảo xem nên viết kiểm điểm như thế nào. Tôi đã rất chân tình góp ý với anh là chỉ viết thật ngắn gọn rằng: “Khi tôi được anh cảnh vệ ra lệnh về lại trại, tôi đã nghiêm chỉnh thi hành và chuẩn bị trở về, thì cán bộ của quân khu đã có nhã ý cố giữ tôi được ở lại với gia đình thêm ít phút nữa. Tôi cam đoan đây là lời khai sự thật của tôi v. v…”             Sáng thứ hai, ngày 12 tháng 4 năm 1976, anh viết xong bản kiểm điểm ngắn gọn như tôi đã góp ý và nộp cho ban giám đốc trại, rồi trở về tiếp tục đi lao động cùng chúng tôi.              Buổi tối, anh lại đến chỗ tôi nằm và hút thuốc cùng anh Bảo, nhưng tâm trạng của anh vô cùng bồn chồn và lo lắng. Dường như tử thần đã báo trước cho anh thời điểm chấm dứt cuộc sống sắp tới. Tôi và anh Bảo trấn an anh cách nào cũng không làm anh giảm được sự bồn chồn lo lắng ấy.                                                           NGÀY ĐỊNH MỆNH                 Hôm nay là thứ Ba, ngày 13 tháng 4 năm 1976, như thường lệ, nhà chúng tôi được phân công đi phát rẫy trên đồng Cò Bay, lối đi lên vùng mỏ vàng Bồng Miêu và do chính tên Bốn dẫn đi. Khi vài anh có nhiệm vụ trực trong nhà, ra nhà kho để nhận dụng cụ phát rẫy gồm dao tông và rựa về, anh Vàng đã nhận một con dao tông giống như tôi. Và dường như muốn đè nén nỗi lo âu, anh luôn luôn đi cạnh tôi và trò chuyện cho khuây khoả… Đến khi vào khu vực phát rẫy, những người cầm rựa thì đốn những cây tương đối nhỏ, còn những người cầm dao tông như anh và tôi thì phải hạ những cây có đường kính lớn hơn. Gặp những cây quá lớn cành lá xum xuê thì hai anh em chúng tôi cùng đốn một cây.           Bỗng nhiên khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi đã tiến lên cao được khoảng mươi thước cách đường mòn, thì từ phía dưới đường, tên Bốn nói với lên trên: –       Anh trưởng toán đâu, cho tôi mười người cầm dao tông đi theo tôi lên phía kia đốn những cây lớn hơn.   Lúc đó anh nhà trưởng đi kiếm những người cầm dao tông. Anh Vàng nói với tôi: –       Ê mày, thôi tụi mình xuống đi, nó đang kiếm người cầm dao tông kìa. –       Kệ cha nó, mình cứ lơ đi, coi như không nghe thấy. Tôi trả lời.          Chỉ một lát sau đó, tên Bốn đứng ngay sau lưng chúng tôi dưới đường mòn, vừa nói vừa chỉ thẳng vào anh Vàng: –       Anh kia! (Làm như tên này không biết tên anh Vàng) Xuống đây đi đốn chỗ khác.        Thế là anh Vàng rời tôi đi xuống, trong khi tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ mà tên này không gọi tôi. Đấy là giây phút cuối cùng, sau đó tôi vĩnh viễn không bao giờ còn đứng cạnh anh nữa.             Anh mới rời tôi khoảng vài chục phút thì một loạt đạn chát chúa vang lên. Tôi chẳng hiểu chuyện gì xảy ra nhưng vẫn nhủ trong lòng chắc có chuyện chẳng lành….            Mãi cho đến giờ nghỉ trưa, tôi tụt xuống đường mòn để chuẩn bị ăn trưa thì gặp ngay anh Lê Văn Lộc, Thiếu Tá Cảnh Sát, nguyên Trưởng Khối CTCT, ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, hôm nay làm nhiệm vụ anh nuôi, nấu nước cho anh em uống. Thấy tôi, mặt anh chảy dài, mắt đỏ ngầu, ứa nưóc mắt và nói ngay với tôi rằng: –        Anh Vàng chết rồi!  Tôi hết sức bàng hoàng, tay chân bủn rủn. Lần lần tôi mới vỡ lẽ. Số là, sau khi tên Bốn tách mười người đi đốn cây ở chỗ khác, y đã dẫn toán này đi xa nơi cũ, chỉ chừng vài ba chục mét về hướng đồng Cò Bay, gần cây cầu lủng, điạ danh “cây cầu lủng” anh em trại 1 Kỳ Sơn ai cũng biết, tên Bốn chỉ cho mọi người lên đó mà đốn. Khu vực này cây cối cũng có lớn, nhỏ, có hơn chỗ cũ gì đâu, mục đích chính chỉ là y muốn tách rời mười người này ra xa khỏi toàn khối 2 của chúng tôi. Sau đó, Bốn lại lấy hai người trong số mười người dao tông này, để đi đốn đót về làm chổi cho trại! Màn trình diễn này quá tồi. Nếu đốn đót thì phải gọi những người cầm rựa mới đúng vì dễ khoèo, dễ phứt, chứ sao lại lấy người cầm dao tông?            Hai người mà Bốn chỉ định là anh Võ Vàng và anh Nguyễn Văn Bá, Trung Tá Thủ Khoa khóa 13 Võ Bị….            Rõ ràng quá! Ý đồ của Bốn là lấy anh Vàng ra khỏi đám đông để dễ dàng động thủ, che dấu dã tâm đầy thú tính của mình. Khi hai anh vừa rời toán được mấy chục thước, thì Bốn chỉ tay nói anh Vàng xuống suối mà tìm đót còn anh Bá thì đi thẳng qua bên kia cầu lủng, chứ hai người cùng đi với nhau thì đót đâu cho cả hai người cùng đốn!            Anh Vàng vừa xuống hướng suối không đầy mười thước, thì một tràng đạn AK nổ dòn. Mấy chục con người mang thân tù tội đang cặm cụi đốn cây, đều ngừng tay. Linh tính cho biết là chắc chắn có chuyện gì bất thường.           Phần tôi, tôi biết được chi tiết vừa trình bày là do anh Bá kể lại. Và rồi, tiến xa hơn một chút, tôi càng được tường tận hơn khi tên Bốn cất tiếng hỏi: –       Ai là nhà phó trong toán này?   Anh em chỉ vào tôi, trong tù ai cũng biết nhà phó là người chịu trách nhiệm về “cơm, áo, gạo, tiền.”             Bốn đã nhìn tôi và chỉ xuống hướng suối để khiêng xác anh Vàng lên. Tôi và anh Trần Hữu Cảnh, Thiếu tá Phòng 2 Quân Đoàn I, cùng đi xuống suối. Vừa rẽ khỏi đường mòn chừng mươi thước, thì chứng kiến cảnh đau lòng đến xé ruột diễn ra trước mắt mình. Anh Vàng nằm úp mặt xuống dòng suối cạn. Từ thắt lưng lên đầu thì ướt, phần còn lại từ lưng xuống chân thì vẫn khô. Anh nằm úp mặt dưới suối. Hai anh em, tôi và Cảnh lật xác anh lên, chúng tôi muốn oà khóc vì thấy những phát đạn quá tàn bạo. Tôi đếm được tất cả bẩy vết đạn đều bắn từ sau ra trước, mà trong đó hình ảnh của hai phát đạn xuyên ra phía trước thân thể anh, đã ám ảnh, đã hằn sâu, trong tâm trí tôi cho đến suốt đời, vì hai phát này đã kết liễu đời anh, một phát từ sau lưng bắn toác ra phía trước ngực, hơi chếch về trái, có nghĩa là anh đã bị vận tốc xoáy của viên đạn phá tan tim và lồng ngực, phát thứ hai từ hàm phải xuyên qua cửa miệng trái, vỡ hết hàm răng khiến cho miệng anh không còn khép lại được nữa. Năm phát còn lại thì rải rác ở cánh tay, mông và ống chân…             Khiêng thi thể của anh lên mặt đường, đặt gần nơi anh Lộc làm anh nuôi, lúc này tôi mới lục trong túi của anh lấy ví, mở ra, thấy trong đó có tấm hình vợ con và số tiền 200 đồng. Một nhẫn vàng khoảng hai chỉ trên ngón tay và cổ tay còn đeo chiếc đồng hồ Longine. Xin mở ngoặc là thời điểm này do bên quân đội quản lý, nên các tù nhân vẫn còn được giữ các tư trang. Chỉ sau này, khi bọn bò vàng (công an) quản lý thì tư trang và tiền bạc mới bị ký gửi.           Khi làm biên bản, một sự lưu manh, xảo trá chuyên nghiệp của bọn cộng sản lại được thể hiện: cụ thể là chiếc nhẫn vàng thì chúng buộc tôi phải viết lại là chiếc nhẫn màu vàng và không ghi rõ trọng lượng! Sau này khi sang Hoa Kỳ, duyên may tôi được gặp chị Võ Vàng, tôi mới vỡ lẽ là họ trả lại cho chị chiếc đồng hồ hiệu Seiko. Quá lạ! Đồng hồ Longine đã bị “cải tạo” thành Seiko.                    Sau khi làm biên bản, thi hài anh Vàng vẫn được để nằm tại chỗ cho đến khi ăn cơm trưa xong, một số anh em mới được phân công khiêng thi hài của anh về trại. Những anh này gồm anh Nguyễn Văn Tố, Trung tá nguyên Tỉnh Trưởng Phú Yên, anh Nguyễn Văn Chước, Trung Tá, nguyên gốc Biệt Động Quân cùng thời với anh Vàng, anh Đ H X, Thiếu Tá thuộc Thiết Đoàn M48, Quảng Trị, và anh Trần Hữu Cảnh, Thiếu tá P 2/QĐI.    Một chuyện lạ rất huyền bí không chứng minh được do chính anh Trần Hữu Cảnh kể lại cho tôi nghe, đó là khi về đến gần cổng trại, phía bên tay phải là một căn nhà nhỏ chúng tôi thường gọi là chuồng cu, dùng để nhốt những anh bị kỷ luật, cảnh vệ đã chỉ cho toán khiêng xác anh Vàng vào trong đó, thì bỗng nhiên xác anh nặng trĩu hai người khiêng bị trì hẳn xuống, không cách gì khiêng nổi. Anh Cảnh chợt nghĩ ra rằng đây là nhà kỷ luật chắc anh Vàng nhất định không chịu vào. Anh Cảnh bèn khấn vái với anh Vàng rằng: –       Xin anh hãy thông cảm cho chúng tôi được khiêng anh vào, vì đây là lệnh của trại bắt tụi tôi phải đưa anh vô, chứ không phải tụi tôi muốn như vậy. Sau nhiều lời khấn vái thì xác anh bỗng nhẹ hẳn đi để anh em khiêng vô.             Chưa hết, sau này tôi lại được một vài anh em ở ngoài Tổng trại kể lại rằng tên Bốn sau này dường như bị điên điên, khùng khùng, suốt ngày cứ lảm nhảm vừa đi vừa nói: –        Tôi đâu có muốn giết anh! Tôi đâu có muốn giết anh!  Việc này tôi chỉ nghe kể lại chứ không được chứng kiến nên không hiểu thực hư ra sao, xin chỉ viết lại với sự dè dặt tối đa.             Về việc mai táng cho anh thì đến xế chiều, khi đào huyệt chôn anh lại gặp nhiều rắc rối. Những người đào huyệt đang đào nửa chừng thì người trưởng trại tên Nhất đi họp ngoài Tổng trại về, trông thấy bèn cho biết là chôn ở đây không được, vì vị trí này, sau này người ta sẽ phóng đường để cho xe cộ có thể chạy được lên mỏ vàng Bồng Miêu. Mọi người phải dừng tay, lấp hố, đi đào huyệt khác. Đến vị trí thứ hai mới đào sâu được vài chục phân, thì gặp phải đá tảng, không cách gì đào nổi, nên lại phải đi kiếm chỗ khác. Huyệt thứ ba ở khá cao trên triền núi. Lúc này đã xẩm tối toán chôn cất mới hoàn tất việc mai táng cho anh.            Kiểm chứng lại việc chúng muốn phục thù, cướp mạng sống của anh, mới thấy rõ là chúng chuẩn bị một kế hoạch rất tỉ mỉ. Từ việc cử một tên cán bộ quân báo của Quân Khu 5 xuống chờ sẵn, đợi dịp anh Vàng được thăm nuôi, chọn một tên vệ binh có máu lạnh dẫn anh đi, gây cho hắn lòng căm phẫn với anh Vàng. Sau ngày chủ nhật được thăm nuôi, ngày thứ hai bắt nộp bản kiểm điểm, rồi đánh giá là lời khai tránh trớ, quanh co, ngoan cố không nhận lỗi, ngày thứ ba cho đi lao động, cố ý cắt cử tên vệ binh Bốn hướng dẫn đi phát rẫy, rồi xuống tay hạ thủ và kết quả đã đúng như dự tính.           Thế nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng không để lộ ra những màn diễn xuất quá tồi. Ngay sau khi bắn anh Vàng, tên Bốn đã xuống suối nhúng nước cho quần ướt đến đầu gối rồi thất thểu vác súng về trại, biết bao nhiêu cặp mắt anh em tù chúng tôi thấy khẩu súng của y còn nguyên vẹn, nhưng đến xế trưa, khi bọn cán bộ từ trung đoàn đến hiện trường làm biên bản thì báng súng lại có vết chém! Biên bản ghi rằng tên Vàng phản động, tính chém vệ binh để cướp súng khiến vệ binh buộc lòng phải bắn để tự vệ, nhưng lố bịch thay vết đạn bắn lại toàn từ phía sau ra phía trước! Về điểm này xin được nói thêm là nhà 9 chúng tôi, tối tối thường có một y tá người Bắc, thường lân la xuống trò chuyện và hút thuốc lào với anh em chúng tôi. Ngay buổi tối hôm đó, như thường lệ, anh y tá này lại xuống, vừa bước vào nhà anh đã buột miệng nói ngay: –           Đ.m. chúng nó, chúng nó đang tâm bắn một người vô tội, vết đạn rõ ràng bắn từ sau ra trước mà bảo người ta là phản động, cướp súng của vệ binh! Ngày mai ghi vào biên bản xác minh, bố mày sẽ ghi rõ ràng là vết đạn bắn từ sau ra trước. Và tiếc thay, chỉ vài ngày sau khi mộc mạc thốt ra những lời kể trên, người y tá còn chút nhân tính này không thấy xuất hiện tại nhà 9 chúng tôi nữa.                 Cướp đi mạng sống của anh Vàng, chúng vẫn chưa thỏa mãn được lòng hận thù của chúng. Chị Vàng sống tại Đà Nẵng cũng không được yên thân. Sau này khi được gặp chị, tôi mới được biết, chị bị cắt hết nguồn sống của mẹ con bằng cách không cho chị được tiếp tục dạy học tại trường trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng nữa.  Đồng thời còn cô lập gia đình chị bằng cách phao tin Võ Vàng là một tên phản động khát máu, mặc dầu được đưa vào trại cải tạo để giúp hắn trở nên người lương thiện nhưng vẫn giữ bản chất cũ, đã cố tình cầm dao chém cảnh vệ để cướp súng, nên đã bị đền tội. Thế là tất cả bà con chòm xóm, ngay cả người thân trong gia đình cũng phải xa lánh mẹ con chị, vì sợ bị liên lụy, ấy là chưa kể nhiều người quá ngây thơ khờ dại, tin lời bịa đặt, đã chê trách anh Vàng quá dại dột, dùng dao mà đọ sức với súng đạn thì làm sao mà thắng nổi! Anh hùng rơm!             Mãi sau này, trong một dịp nhà báo Huy Phương phụ trách chương trình “Huynh Đệ Chi Binh” của đài SBTN có nhã ý tìm gặp tôi và muốn được tôi kể lại chuyện Trung Tá Võ Vàng bị thảm sát trong tù, tôi mới có dịp tường thuật khá đầy đủ cùng khán thính giả của đài. Chị Vàng đã xem được cuộc phỏng vấn này và chị đã phần nào được an ủi: –       Xem như anh Vàng đã được rửa mặt. (Rửa mặt ở đây có nghĩa là rửa nhục, lấy lại danh dự). Chỉ tiếc một điều là sao lại có một số người quá nhẹ dạ cả tin, nhất là tin lời tuyên truyền của cộng sản. Có lẽ họ chưa được nghe lời chỉ giáo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.              Mặt khác, mới thời gian ngắn trước đây tôi lại được dịp đọc một bài viết của anh Đ.H.X, cũng viết về cái chết của anh Vàng. Với anh Đ.H.X, tôi cũng biết khá nhiều về anh ngay từ khi mới nhập trại. Kẹt một nỗi là nay anh vẫn còn ở Việt Nam, bởi một lý do tôi không tiện nói ra vì sẽ rất có hại cho anh trong cảnh ngộ quá ngặt nghèo này. Đọc bài viết của anh, tôi vô cùng cảm phục cái tâm của anh, vì sau khi chứng kiến cái chết của anh Vàng, phải khiêng anh về trại, mai táng cho anh, anh đã nguyện trong tâm rằng sẽ kể lại đầy đủ cái chết đau thương này, thì anh mới yên lòng trước khi nhắm mắt. Chỉ tiếc là hoàn cảnh của anh vẫn còn trong tình trạng cá chậu chim lồng, nên chưa nói hết được những gì anh muốn nói. Vả lại, anh mới chỉ viết được phần anh chứng kiến kể từ đoạn thi hài anh Vàng được khiêng về trại và anh bị buộc phải làm biên bản sai sự thực, trái hẳn với những gì anh được chứng kiến rồi tiếp theo phải ký vào biên bản trước họng súng.         Tựu trung lại cái chết của anh Võ Vàng tính đến nay, năm 2017, đã trôi qua hơn bốn thập niên, nhưng hình ảnh quá đau thương tàn bạo, đối với người được chứng kiến tận mắt như chúng tôi lúc nào cũng vẫn còn hiện rõ mồn một…!        Nếu được đọc lịch sử về cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ, sự ứng xử của đoàn Bắc Quân chiến thắng với đội Nam Quân chiến bại hết sức mã thượng, danh dự của kẻ chiến bại vẫn được tôn trọng, hoặc gần hơn nữa, sự kiện bức tường Bá Linh sụp đổ, người Tây Đức cũng tiếp đón người Đông Đức vô cùng quân tử, không một chút hận thù, mà có ai đó mơ mộng rằng nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đối xử nhân đạo, tử tế với Việt Nam Cộng Hoà thì quả là người đó đã mắc bệnh… hoang tưởng!           Mặt khác, cuộc cải cách ruộng đất còn đó, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn đó, và mới đây nhất làn sóng đỏ tràn ngập miền Nam còn đó, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các trại tù khổ sai, nhục hình mang danh “cải tạo” mọc lên như nấm gặp mưa, cách đối xử với người tù vô cùng dã man, ác độc, mà vụ sát hại anh Võ Vàng là một điển hình, thế mà lũ người Xạo – Hết – Chỗ – Nói vẫn lải nhải kêu gọi xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải dân tộc thì quả là chúng đang bị chứng…mộng du! 
California, ngày 23 tháng 9 năm 2017.
   Phạm Văn Hồng 

Posted in Hồi ký chiến trường, Uncategorized, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị – MX Phạm Văn Chung

I– Sơ lược bối cảnh dẫn đến trận Quảng Trị

Phía Hoa Kỳ:

Chiến thuật lùng diệt địch áp dụng tại cuộc chiến Việt Nam rất hiệu quả, lối đánh chủ động này là tìm kiếm địch bất cứ ở đâu, từ đồng bằng đến cao nguyên, ngay cả mật khu Việt cộng nằm giữa rừng rậm cũng xông vào. Những đoàn trực thăng đổ quân ngay trên đầu địch để giao chiến, các đơn vị chính quy Cộng sản Bắc Việt bị săn đuổi thiệt hại nặng nề, chạy tan tác. Không còn chỗ nào an toàn, bổ xung dưỡng quân nữa phải dạt sang lãnh thổ Cam Bốt và Lào để sinh tồn.

Lẽ dĩ nhiên suốt ngày tìm địch mà đánh thì thương vong phải nhiều, người viết nhớ có tuần cao nhất là hơn 3OO lính Mỹ hy sinh làm rúng động quần chúng. Sự chịu đựng của dân chúng Hoa Kỳ thường thường giới hạn, thêm vào sự thiên tả của giới truyền thông báo chí đã phóng đi những hình ảnh mô tả tin tức chiến sự một chiều, gây ảnh hưởng xấu về cuộc chiến bảo vệ Tự do tại miền Nam Việt Nam.

Phong trào phản chiến cũng phát động rầm rộ tại các trường đại học, sinh viên tuần tự biểu tình chống chiến tranh Việt Nam khắp Hoa Kỳ. Bắt mạch rõ tâm lý quần chúng, nhất là nhu cầu tranh cử hứa cố gắng chấm dứt chiến tranh, khi tái đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon một mặt cố gắng bắt tay Trung cộng, một mặt ra lệnh rút dần các đơn vị tham chiến Mỹ, Đồng minh khỏi Việt Nam, chỉ để lại sĩ quan cố vấn các đại đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một phái bộ yểm trợ tiếp vận tại Saigon đồng thời tuyên bố Việt Nam hóa chiến tranh.

Miền Nam Việt Nam:

Miền Nam phồn thịnh giả tạo nhờ hơn nửa triệu quân Mỹ, Đồng minh trú đóng, nên khi đoàn quân này rút đi, những khó khăn về kinh tế bắt đầu. Các phong trào đối lập chính trị với chính phủ nền đệ II Cộng hòa quấy phá mạnh mẽ gây nhiều xáo trộn xã hội. Một số quần chúng chỉ lo làm giàu nhờ chiến tranh, còn đa số không thấu triệt lắm về Cộng sản, đã thờ ơ với cuộc chiến đấu tự vệ sống còn này, gần như giao khoán trên vai những người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Miền Bắc Việt Nam:

Như trên đã trình bày, các đơn vị chính quy Cộng sản Bắc Việt bị săn đuổi thường xuyên, mất địa bàn hoạt động. Tiếp đến trận Tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 hy vọng dân chúng miền Nam nổi dậy theo, đã hoàn toàn thất bại. Tại miền Nam mọi hạ tầng cơ sở, những đơn vị du kích địa phương hậu cần, mật khu gần như bị tiêu diệt hoặc phá vỡ tan hoang, không thể hướng dẫn, yểm trợ tiếp vận những đơn vị từ Bắc vào được nữa. Cũng suốt thời gian này quân Việt Nam Cộng Hòa và Đồng minh tiếp tục săn đuổi truy lùng tiêu diệt, vượt sang cả lãnh thổ Cam Bốt và Hạ Lào. Vì vậy chiến trường miền Nam yên lặng trống vắng suốt từ 1968 đến 1971.

Về nội tình miền Bắc sức chịu đựng của dân chúng gần như kiệt lực. Kinh tế suy thoái trầm trọng, các cơ sở kinh tế hạ tầng vừa nhen nhúm đã bị không quân Mỹ oanh tạc tàn phá. Bắc Việt cảm thấy không thể thắng được, nhất là không thể nào xây dựng lại cơ sở hạ tầng để tiếp tục cuộc chiến nửa du kích nửa chính quy mà người Cộng sản gọi là “cuộc chiến có mức độ” trong miền Nam được nữa. Có nhiều mâu thuẫn trong hàng lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt, nhưng rồi họ quyết định phải giải quyết cuộc xâm chiếm miền Nam dù thắng hay bại bằng chính quy chiến liên hợp với thủ thuật chính trị, dốc toàn lực vào trận chiến cuối cùng.

Dựa vào những yếu tố chính trị, quân sự thuận lợi cho họ như Mỹ bắt tay Trung cộng, miền Nam Việt Nam không còn là nút chặn Cộng sản về phía Nam nữa, quần chúng Mỹ bị giới truyền thông báo chí thiên tả hướng dẫn sai lạc về cuộc chiến Việt Nam, thấy rõ ý đồ của Mỹ chỉ muốn rút chân khỏi vũng lầy Việt Nam và sẽ không trở lại bất cứ tình huống nào. Trong hơn 3 năm chuẩn bị như mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh làm đường tiếp vận chính, có khả năng chịu đựng được sự vận chuyển của chiến xa hạng nặng Nga, pháo cùng cơ giới, dụng cụ chiến tranh khác do Nga sô mới viện trợ, hoàn tất hệ thống ống dẫn dầu, xăng vào chiến trường vùng I, II của Việt Nam Cộng Hòa. Chuẩn bị, bí mật chuyển quân đã xong.

Thực hiện mưu đồ:

Như những bài trước đã viết, vào ngày 3O/3/1972 hồi 12 giờ trưa Cộng sản Bắc Việt khai diễn chiến dịch Nguyễn Huệ, tung hàng chục sư đoàn, hàng ngàn chiến xa, đại pháo, hỏa tiễn ồ ạt tấn công vào lãnh thổ vùng I, II, III miền Nam. Ý đồ muốn chiếm một tỉnh nào đó để có đất có dân hầu đặt chính phủ do họ nặn ra (Giải phóng miền Nam) như Ban Mê Thuột, Bình Long hay Quảng Trị.

Mở màn được ít tuần, cả 3 mũi tiến chiếm đều bị chặn, phản công kịch liệt của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Thấy khó đạt ý định chiếm Ban Mê Thuột hay Bình Long là tỉnh ở gần Saigon thủ đô miền Nam có nhiều lợi điểm chính trị, gây tiếng vang quốc tế nhiều hơn. Ban chính trị Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đổi diện thành điểm, nhắm vào tỉnh Quảng Trị gần hậu phương Bắc Việt, tiện bề tăng viện, yểm trợ đồng thời tung thêm 2 sư đoàn trừ bị cuối cùng vào trận Quảng Trị. Khi khởi đầu tại vùng hỏa tuyến, Bắc Việt xua 5 sư đoàn tác chiến, 2 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn phòng không cùng các đơn vị thuộc mặt trận B5 (Quảng Tri.-Thừa Thiên) gồm: 2 trung đoàn tác chiến, 1 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn tên lửa (hỏa tiễn), 1 trung đoàn đặc công, như vậy là hơn 1 sư đoàn nữa. Họ dùng chiến thuật bộ binh hợp đồng chiến xa, chia nhiều mũi nhỏ, tiền pháo hậu xung các cứ điểm hay hỏa lực của ta suốt dọc phía Nam vĩ tuyến 17 từ bờ biển lên đến biên giới Lào.

Bất ngờ bị một lực lượng đông hơn 4, 5 lần tấn công nên Sư đoàn 3 Bộ binh cùng một số lực lượng Tổng trừ bị cầm cự lui dần tuần tự bỏ thị trấn Đông Hà, căn cứ Ái Tử bản doanh của Sư đoàn 3 Bộ binh, qua sông Thạch Hãn, thị xã Quảng Trị, về hẳn phía Nam sông Mỹ Chánh. Tại con sông này, đà tấn công ồ ạt, hung hãn của quân Cộng sản Bắc Việt đã bị Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến chận đứng vào ngày 3/5/1972. Đây là đường ranh Nam Bắc phân tranh tạm thời cho đến khi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đứng lên tiến vào tái chiếm thị xã Quảng Trị vào ngày 16/9/1972.

II– Công cuộc tái chiếm.

Vào khoảng 1 giờ trưa ngày 5/5/72 Trung tướng Ngô Quang Trưởng cùng Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Đại tá Lê Văn Thân (sau thăng cấp Chuẩn tướng), Đại tá Phạm Văn Phô trưởng phòng 2 Quân đoàn, đáp trực thăng bất ngờ thăm viếng Bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 tại quận lỵ Phong Điền tỉnh Thừa Thiên. Sự thăm viếng này gây ngạc nhiên cho chúng tôi vì hiện ông đang là Tư lệnh Quân đoàn 4. Vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ Trung tướng Trưởng chậm rãi nói:

– Tôi vừa được Tổng thống chỉ định thay thế Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Chung cho tôi rõ tình hình bây giờ ra sao ?

Sau khi nghe trình bày sơ qua tình hình bạn, địch xong, trên đường trở lại bãi đáp, Trung tướng Trưởng vẫy tay để đoàn tùy tùng đi trước, riêng ông đứng lại để có dịp nói riêng với tôi. Ông không dùng uy phong của một vị Tư lệnh Quân đoàn để hỏi một Đại tá Lữ đoàn trưởng dưới quyền, tôi cảm thấy từ lời nói, ánh mắt như biểu lộ tình huynh đệ chân thành, tình chiến hữu giữa trận mạc cùng nhau chia xẻ nhiệm vụ nặng nề, ông nói:

– Chung đừng ngần ngại gì hết, cứ nói thật. “Ông nhấn mạnh chữ nói thật” cho tôi biết, liệu mình có giữ được không ? “ý ông muốn hỏi còn có thể chịu đựng được những đợt tấn công sắp tới không? “.

Tôi trả lời:

– Mình giữ được Trung tướng.

Nghe tôi trả lời chắc nịch, dứt khoát như vậy, mắt ông bừng lên ánh lửa quyết tâm. Ông trầm ngâm một chút rồi hỏi thêm:

– Chung có yêu cầu gì ở tôi không?

– Xin Trung tướng chú trọng đặc biệt tới Bộ Tham Mưu Quân Đoàn hơi kém và lực lượng Địa Phương Quân Thừa Thiên cứ muốn rút đi.

– Tôi hứa với Chung sẽ chấn chỉnh Bộ Tham Mưu Quân đoàn đồng thời chỉ thị cho Đại tá Tôn Thất Khiên, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng ngay về các đơn vị Địa Phương Quân.

Về phía Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài sự thay đổi Tư lệnh Quân đoàn 1, tuần tự kế tiếp trong tháng 5/72 Đại tá Bùi Thế Lân, Tư lệnh phó lên thay Trung tướng Lê Nguyên Khang Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Tướng Khang về Phụ tá Hành quân Tổng Tham Mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đại tá Lân sau đó thăng cấp Chuẩn tướng. Đại tá Lê Quang Lưỡng thăng cấp Chuẩn tướng thay Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, tháng sau đó. Về nội bộ Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến: Đại tá Nguyễn Thành Trí thay Đại tá Lân làm Tư lệnh phó Sư đoàn, Trung tá Nguyễn Thế Lương sau thăng cấp Đại tá được chỉ định Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 369 thay Đại tá Phạm Văn Chung giữ nhiệm vụ Tham mưu trưởng Hành quân Sư đoàn. Tướng Ngô Quang Trưởng là vị Tướng trận mạc, ông có thói quen sau khi nhận nhiệm sở mới thường bay một vòng quan sát, tự tai nghe các sĩ quan Chỉ huy mặt trận trình bày để phối kiểm các điều sĩ quan trong Bộ tham mưu cung cấp cho ông. Ông nhận thấy 3 điểm chiến lược quân sự, chính trị cần phải làm ngay:

1. Tái bổ xung, trang bị các đơn vị bị tổn thất vừa qua, tái phối trí lực lượng còn lại ngay để có thể ngăn chận âm mưu địch tiến chiếm thị xã Huế từ hướng Bắc (vượt tuyến Mỹ Chánh), hoặc phía Tây (từ thung lũng Ashau – Alưới).

2. Tái chiếm lại những phần đất vừa lọt vào tay quân Cộng sản Bắc Việt.

3. Vãn hồi trật tự xã hội, gây lòng tin cho quân dân cán chính vùng địa đầu giới tuyến. Những năm trước đó Tướng Trưởng đã giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh nên ông rành rẽ nhân văn địa thế toàn vùng. Đây là lợi điểm để ông dễ dàng khôi phục lại lòng tin của mọi người. Song song việc thi hành điểm chiến lược 1, ông nghĩ ngay đến việc tái chiếm thị xã Quảng Trị (người viết đoán vì tình hình chính trị hồi đó, Tổng thống Thiệu đã phần nào thôi thúc ông). Ông chỉ định Đại tá Lê Văn Thân (là một sĩ quan Pháo binh giỏi, đi cùng ông từ vùng 4 chiến thuật ra) làm Trưởng ban thiết kế kế hoạch tái chiếm Quảng Trị gồm:

– Quân đoàn 1: Đại tá Phạm V. Nghìn Trưởng phòng 3, Đại tá Phạm V. Phô Trưởng phòng 2.

– Sư đoàn Dù: Đại tá Lê Văn Ngọc, Đại tá Lê Văn Phát

– Sư đoàn TQLC: Đại tá Phạm Văn Chung, Trung tá Đỗ Kỳ (sau thăng cấp Đại tá).

Để bảo mật tuyệt đối, ông cho lập một phòng riêng biệt (không liên hệ gì với các sĩ quan tham mưu khác của Bộ tư lệnh Quân đoàn 1) dành cho ban thiết kế soạn thảo kế hoạch.Sau khi chiếm tỉnh, thị xã Quảng Trị quân Cộng sản Bắc Việt phòng thủ kiên cố chiều sâu dày đặc, nguyên thị xã, cổ thành Đinh Công Tráng do một Sư đoàn tăng cường chiến xa, 1 Trung đoàn đặc công và bao bọc bởi hỏa lực pháo, hỏa tiễn khủng khiếp. Xung quanh về phía Nam giáp tuyến Mỹ Chánh, phía Tây nhà thờ La Vang, phía Đông biển, phía Bắc sông Thạch Hãn với 4 Sư đoàn khác chia nhau trấn giữ, giai đoạn này chúng thêm 2 Sư đoàn trừ bị cuối cùng 32O và 325 đã vào đến phía Nam sông Bến Hải.

Mưu đồ chính trị của Bắc Việt là nhất quyết chiếm giữ thị xã Quảng Trị làm thủ đô cho chính phủ bù nhìn Giải Phóng Miền Nam để mạnh tiếng nói trong Hội đàm Ba Lê đang tiếp diễn. Về phía chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh Quân đoàn 1 phải chiếm lại bằng mọi giá, nên trận đánh từ bản chất đả nói lên sự gay cấn, ác liệt ngay từ giây phút đầu. Trong khi đang thiết kế cùng tập trung lực lượng tái chiếm như Sư đoàn Dù tăng phái Quân đoàn 1 ngày 22/5, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến tuyến phòng thủ phía Bắc (sông Mỹ Chánh), Sư đoàn 1 Bộ binh trấn phía Tây thị xã Huế. Tất cả đều tung các cuộc tấn công hạn chế thăm dò để giữ thế chủ động trong phòng thủ:

Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến:

– Ngày 12/5 cuộc hành quân Sóng Thần 5/72 của Lữ đoàn 369 có 2 tiểu đoàn trực thăng vận vào quận Hải Lăng, 1 Tiểu đoàn vượt sông Mỹ Chánh bắt tay với 2 Tiểu đoàn trên. Đụng độ với Trung đoàn 66 của Sư đoàn 3O4 Bắc Việt.

– Ngày 24/5 hành quân Sóng Thần 6/72 của Lữ đoàn 147 đã tung 2 Tiểu đoàn trực thăng vận vào Đông Bắc quận Hải Lăng, 1 Tiểu đoàn đổ bộ từ tàu vào bãi biển Mỹ Thủy. Đụng độ với Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 Bắc Việt.

Sư đoàn 1 Bộ binh:

– Ngày 15/5 tung 2 Trung đoàn mở rộng vòng đai về phía Tây, chiếm căn cứ hỏa lực Bastogne và Checkmate. Đụng độ với các Trung đoàn thuộc Sư đoàn 324 B của Bắc Việt.

Phía Cộng sản Bắc Việt:

– Ngày 21/5 bộ binh cùng chiến xa địch tấn công vào khu vực phòng thủ của Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, thọc sâu vào tuyến phòng thủ của ta nhưng bị đẩy lui.

– Ngày 22/5 khoảng 3 giờ sáng địch tung 2O chiến xa và bộ binh tấn công 2 đợt vào 1 Tiểu đoàn cùng Bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, bị đẩy lui trước khi trời sáng rõ.

– Ngày 25/5 địch chuyển hướng tấn công sang Lữ đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến phía Tây, dàn trận giữa ban ngày, bị đẩy lui, thiệt hại nặng vì phi pháo của ta.

– Ngày 26/5 địch tấn công mạnh mẽ vào khu vực Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, lọt vào gần sát các cơ sở chỉ huy, nhưng Biệt Động Quân đã dũng mãnh phản công đẩy lui.

Sang tháng 6/72 để chuẩn bị cho công cuộc tái chiếm thị xã Quảng Trị, Thủy Quân Lục Chiến tấn công (Sóng Thần 8/72) đồng loạt tung 4 Tiểu đoàn vượt sông Mỹ Chánh, được không quân, pháo binh yểm trợ, địch kháng cự mạnh mẽ, nhưng lực lượng Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục tiến, chiếm giữ phần đất vừa giành được. Các đơn vị Công binh theo sau lập ngay tuyến phòng thủ sâu lên phía Bắc. Ngày 18/6 tiếp luôn cuộc hành quân Sóng Thần 8A/72, nhiều Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến song song tiến chiếm, giành từng trăm thước đất một, đẩy lui địch khoảng 4 cây số về phía Bắc tuyến Mỹ Chánh và chấm dứt ngày 27/6.

Quân đoàn 1 với lệnh hành quân Lam Sơn 72, chính thức mở màn cuộc tái chiếm thị xã Quảng Trị. Lực lượng Việt Nam Cộng Hòa gồm: Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, 3 Liên đoàn Biệt Động Quân, Lữ đoàn 1 Kỵ binh Thiết giáp, Pháo binh cùng các đơn vị yểm trợ khác cơ hữu Quân đoàn 1, Không quân, Hải quân vùng 1 chiến thuật. Về tương quan lực lượng thì quân Cộng Sản Bắc Việt trội hơn ta về bộ binh, thiết giáp, pháo binh 4 trên 1. Riêng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ưu thế về không quân và hải quân (xem bản tương quan lực lượng). Quan niệm hành quân: ngày 28/6 hồi 7 giờ sáng, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa vượt tuyến xuất phát (Mỹ Chánh) tiến về hướng Bắc (Quảng Trị). Sư đoàn Dù tăng phái thiết đoàn xa, các Liên đoàn Biệt Động Quân tiến theo trục quốc lộ 1, trách nhiệm kéo dài về phía Tây. Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến tăng phái chiến xa, các lực lượng tăng phái khác trách nhiệm phía Đông quốc lộ 1 đến sát bờ biển. Ngoài biển có hải quân tuần phòng kiểm soát, xa hơn nữa có vài chiến hạm của Đệ thất hạm đội Mỹ, nếu cần lực lượng tái chiếm có thể xin hải pháo yểm trợ, không quân yểm trợ hỏa lực theo nhu cầu trận địa. Khoảng đường từ Mỹ Chánh đến thị xã Quảng Trị chừng 15 cây số, đoạn này lực lượng tái chiếm coi như 15 cây số máu. Quân Cộng sản Bắc Việt đặt các chốt hầm hố kiên cố, mìn bẫy, yểm trợ bởi hỏa lực pháo binh, hỏa tiễn hiện đại. Lực lượng Dù và Thủy Quân Lục Chiến phải phá chốt từng vài trăm thước một để tiến lần sát mục tiêu Quảng Trị.

Sau khoảng 3O ngày chiến đấu trong hoàn cảnh bất lợi về mọi mặt, Dù và Thủy Quân Lục Chiến song tiến vượt qua đường máu, bám sát thị xã Quảng Trị như đã nói trên được phòng thủ bởi 1 Sư đoàn với chiến xa, riêng Cổ Thành 1 Trung đoàn thêm các đơn vị đặc công. Phía Thủy Quân Lục Chiến, Tướng Bùi Thế Lân tính toán chấp nhận rủi may, thả những đợt trực thăng vận quân vào sau lưng địch như: ngày 11/7 đổ Tiểu đoàn 1 vào vùng 2 cây số phía Bắc thị xã, hương lộ 56O cắt trục tiếp vận của địch vào trận địa. Ngày 24/7 thả Tiểu đoàn 5 vào vùng 1O cây số Đông Bắc Quảng Trị, mục đích gây nao núng tinh thần, xáo trộn sau lưng địch để mũi tấn công chính đẩy địch ra khỏi hệ thống phòng thủ kiên cố, thu ngắn thời gian cùng bớt tổn hao xương máu quân sĩ. Bình thường ra mục tiêu nằm trên trục tiến quân của đơn vị nào thì đơn vị đó đánh chiếm. Quận lỵ Hải Lăng, thị xã Quảng Trị nằm trên đường tiến quân của Thủy Quân Lục Chiến nhưng Tướng Trưởng lại giao cho Dù đánh chiếm 2 mục tiêu trên. Lý do dự đoán Tướng Trưởng nguyên gốc Dù, có lẽ ông muốn dành vinh dự cho Sư đoàn Dù, việc này làm Tướng Lân của Thủy Quân Lục Chiến buồn lòng không ít .

Sát vòng đai thị xã, các chốt phòng thủ địch càng dầy đặc hơn, lực lượng tái chiếm phải tiêu diệt địch từng trăm thước, tiến lên , lùi xuống dằng co nhiều ngày, lúc tung lựu đạn, khi cận chiến lưỡi lê… Tấn công lúc xẩm tối, khi mờ sáng giành nhau từng thước đất, từng căn phố ! Từ xa nhìn về Quảng Trị chỉ thấy một trời khói đất mịt mù, tiếng bom đạn, tiếng súng lớn súng nhỏ đôi bên không còn phân biệt, chỉ nghe ầm ì như sấm động rền rĩ cả bầu trời. Người ta có cảm tưởng như thành phố Quảng Trị đang rung lên vì một cơn địa chấn nặng, tàn phá hãi hùng. Khai thác nhật ký trên tử thi binh sĩ Bắc Việt ghi lại cảnh bom đạn trút xuống đầu họ như sau: “Mẹ ơi, con chắc không thể nào sống sót để nhìn thấy mẹ nữa, bạn chung quanh con chết dần hàng ngày rồi, con đang cuốn mình trong căn hầm này cả tháng rồi không ra khỏi. Pháo, giời ơi pháo suốt ngày đêm, đầu con lung bung, ăn không được, ngủ không được, đầu con như muốn vỡ tung ra, máu tai đã bắt đầu chảy rồi, như các bạn con đứa nào chết cũng đầy máu tai máu mũi. Pháo, giời ơi lại pháo, con điên mất không thể nào chịu đựng được nữa, chắc không thể nào con về Bắc với mẹ nữa”.

Đấy là hậu quả của 2, 3 đợt “Hỏa Lôi”, xin nói rõ mỗi đợt lâu 24 hay 48 tiếng đồng hồ, mọi hỏa lực yểm trợ như: không quân, hải pháo, pháo binh tập trung hàng trăm khẩu thay phiên nhau trút bom, tác xạ ngày đêm không ngừng theo thời gian ấn định vào mục tiêu (Time on target). Thật là địa ngục trần gian ! Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm xong phía Đông và Đông Bắc mục tiêu Quảng Trị, để Dù tấn chiếm thị xã cùng cổ thành. Đơn vị tuyến đầu của Dù vẫn chưa tiến sát được tới Cổ Thành, một vài lần cố gắng cắm cờ vào tường Cổ Thành. Lực lượng Dù đã bị tổn thất nhiều qua các trận đánh ác liệt tại Cao nguyên, Bình Long – An Lộc, tiếp theo sự thiệt hại khá cao trong trận tái chiếm này nên sự dũng mãnh có phần nào sa sút.

Theo sự hiểu biết giới hạn của người viết, Tổng thống Thiệu sốt ruột có ý thúc Tướng Trưởng ráng chiếm lại Quảng Trị nhanh hơn vì nhu cầu chính trị quốc tế lúc bấy giờ, nên Tướng Trưởng chỉ định Thủy Quân Lục Chiến thay Dù đánh chiếm thị xã và Cổ Thành Quaœng Trị vào ngày 27/7/72.

Nhận được lệnh, Tướng Lân trầm ngâm suy nghĩ, nét mặt ông hằn lên, người viết nhận thấy hình như nội tâm ông đang dằng co mãnh liệt, vì danh dự binh chủng, quân đội và ngay cả tương lai võ nghiệp. Ông cùng các sĩ quan tham mưu thiết kế kỹ lưỡng và chọn chiến thuật xa luân chiến. Nghĩa là dùng Lữ đoàn 258 Lữ đoàn trưởng là Đại tá Ngô Văn Định trách nhiệm phía Tây, Lữ đoàn 147 Lữ đoàn trưởng Đại tá Nguyễn Năng Bảo phía Đông thị xã, Lữ đoàn 369 Lữ đoàn trưởng Đại tá Nguyễn Thế Lương trừ bị, còn các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến từ 1 đến 9 thay phiên nhau trực thuộc Lữ đoàn lên tuyến đầu chiến đấu, rồi lui về sau bổ sung nghỉ ngơi. Nhờ vậy các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều được bổ sung đều đặn, khả năng chiến đấu không quá suy giảm vì tổn thất. Suốt thời gian đánh chiếm lại thị xã Quảng Trị, Tướng Lân cứ 6 giờ sáng bay từ Bộ tư lệnh Sư đoàn tại quận lỵ Hương Điền lên sát trận địa, ngồi ngay cạnh các Lữ đoàn trưởng trực tiếp điều khiển trận đánh. Ông rất chi tiết, kỹ lưỡng từng điểm nhỏ, cũng không lạ lắm vì ông nổi tiếng là một sĩ quan tham mưu giỏi trước khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Sư đoàn, nhờ vậy Thủy Quân Lục Chiến tránh được nhiều tổn thất vô ích.

Trận Quảng Trị được mô tả là khủng khiếp, ác liệt, đẫm máu không thua gì các trận đánh đẫm máu khác trên thế giới. Xin hãy nghe một sĩ quan Trung đội trưởng nói: “Muốn bị thương dễ lắm, chỉ cần dơ tay lên khỏi miệng hố cá nhân hoặc thò tay ra khỏi cửa hầm thì dính đạn liền!”. Khoảng 5O ngày trong khung vuông mỗi chiều chừng 15 cây số, hàng chục Sư đoàn của hai phía quần thảo nhau dưới màn hỏa lực yểm trợ hiện đại khủng khiếp đôi bên. Dưới mắt các nhà quân sự thì trận chiến đã tự diễn tả cái nồng độ tàn khốc, đẫm máu của nó, nói gì, viết gì thêm cũng không thể hiện đầy đủ.

Riêng phía Thủy Quân Lục Chiến có nhiều bài viết về trận đánh lịch sử này, nhưng mỗi tác giả nhìn một góc cạnh khác nhau, như Trung tá Tiểu đoàn trưởng Thủy Quân Lục Chiến Trần Văn Hiển với bài viết “Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam và trận chiến xuân 1972 tại vùng I chiến thuật”, như một Thủy Quân Lục Chiến với bài “Tiến về Quảng Trị”, như Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Văn Tấn Thạch bút hiệu Sói Biển Thạch Thảo với “Tái chiếm cổ thành”, là cấp Trung đội trưởng, Đại đội trưởng chiến đấu ngay sát tuyến đầu, vậy xin độc giả tìm hiểu thêm các bài này để có cái nhìn toàn bộ trận đánh, từ một vài yếu tố chính trị, tham mưu thiết kế đến lực lượng chiến đấu tuyến đầu.

Thường ra thì lực lượng tấn công bao giờ cũng phải trội hơn từ 3 đến 5 lần lực lượng phòng thủ, thế mà trong trận Quảng Trị địch phòng thủ lại trội hơn ta tấn công đến 4 lần. Thật là phép lạ hay vì yếu tố danh dự, tâm lý nào mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nên chiến thắng vẻ vang đó. Suốt thời gian tiếp diễn, biết bao nhiêu con mắt từ mọi phía đều theo dõi, nhìn vào, cảm tình phe này, ác cảm phe kia hay ngược lại. Nhưng kết quả cuối cùng đã chứng minh cái danh và giá trị để đời của nó.

Sau trận đánh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được kính nể, coi như một đội quân thiện chiến trên thế giới. Ngày 15/9/72 hồi 12 giờ 45 trưa Thủy Quân Lục Chiến chiếm xong cổ thành, mục tiêu cuối cùng trong trận Quảng Trị, cắm 2 lá cờ vàng 3 sọc đỏ nhỏ do toán tiến chiếm tiền phong của 2 Lữ đoàn 258, 147 mang theo với cán cờ nối buộc sơ sài trên 2 cổng cổ thành. Quảng Trị tan hoang, đổ nát thành đống gạch vụn, vụn đến 2 lần, không một tấc đất nào không bị bom đạn cày xới, không một vật nào trên mặt đất mà không bị đạn, miểng đạn cắt xẻ. Và ngày 16/9/72 một lễ thượng kỳ tương đối long trọng hơn với đầy nước mắt của binh lính Thủy Quân Lục Chiến. Quảng Trị thực sự được tái chiếm.

III- Tiếng vang trận đánh

Cho đến hơn 2O năm sau, trong một quân trường Hoa kỳ, nhân sau bài giảng về quân sự thế giới, vị Tướng thuyết trình viên đã hỏi khoảng 2OO sĩ quan sinh viên (khóa sĩ quan tu nghiệp) rằng:

– Trên thế giới, quân đội nào chiến đấu giỏi?

Người nói quân đội Mỹ, kẻ nói Anh, Pháp , Do Thái … Ông Tướng thủng thẳng vừa mỉm cười vừa nói:

– Lực lượng Tổng trừ bị Thủy Quân Lục Chiến, Dù, Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu giỏi. Một Sư đoàn của họ có khả năng chiến đấu bằng 5 Sư đoàn khác, nhưng tiếc thay những lực lượng này không còn nữa. Và ông hỏi tiếp:

– Ở đây có sĩ quan nào gốc Việt Nam hãy đứng lên.

Một tiếng có vang lên gần cuối phòng, một thanh niên Mỹ gốc Việt mặt xạm đen, đầy hãnh diện đứng lên. Hàng trăm con mắt đều nhìn về phía Đại úy Nhảy Dù Mỹ gốc Việt giòng họ Lương. Vị Tướng tiếp:

– Tôi đoán không lầm thì thân sinh của Đại úy là cựu quân nhân xưa kia. Đại úy Lương trả lời:

– Thưa Trung tướng vâng, cha tôi là một cựu Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa.

Tất cả mọi người trong hội trường đều kêu “ồ” và vị Tướng cho phép Đại úy Lương ngồi xuống. Sau buổi học đó, các bạn đồng khóa nhìn Đại úy Lương với con mắt nể phục hơn. Đại úy Lương tâm sự: “Khi còn ở nhà, thấy bố tôi và các chiến hữu của ông nói về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng các trận đánh…, tôi có ý coi thường, vì các ông già trên dưới 6O tuổi này, ốm o, nhăn nhúm, nói tiếng Mỹ ngập ngừng, ngắt quãng, làm sao để lại ấn tượng hào hùng trong tâm trí tôi được. Nhưng nay tôi thật tình cúi đầu tạ lỗi cùng bố tôi và các chiến hữu của ông. Kể từ ngày đó, cái nhìn và suy nghĩ của tôi về bố mình khác xưa nhiều lắm”.

Trận Quảng Trị cũng được một số trường quân sự cao cấp của các quốc gia đồng minh lấy làm case điển hình để nghiên cứu, giảng dạy.

IV- Hệ quả sau trận Quảng Trị

Điện tín, thư từ chúc mừng của các Tướng lãnh tên tuổi, các quốc gia Đồng minh gửi đến ca ngợi chiến thắng hào hùng này. Tổng thống, Thượng Hạ viện Việt Nam Cộng Hòa họp khẩn cấp thông báo cùng toàn dân. Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ hãnh diện với thế giới về trận Iwo-Jima thì Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam đã làm cho thế giới nể phục với chiến thắng Quảng Trị 16/9/72. Tiếng tăm đã vượt ra khỏi cuộc chiến đấu tự vệ của miền Nam để đi vào tầm vóc quốc tế.

Những ngày sau đó, nhiều phái đoàn quân sự của các quốc gia bạn đã đến tận nơi tìm hiểu. Đặc biệt Tướng Vanuxem của phái đoàn Pháp sau khi nghe trình bày sự thương vong đôi bên (riêng Thủy Quân Lục Chiến khoảng 35OO binh lính hy sinh, theo tỷ lệ cứ 1 hy sinh khoảng 3 bị thương), ông đứng bật dậy dơ tay chào và nói: “Tôi ngưỡng mộ Tướng Lân cùng toàn thể binh lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam”. Tướng Vanuxem được mệnh danh là “con hùm xám Bắc Việt” (trong chiến tranh Pháp – Việt Minh trước 1954), đứng trước sự tan hoang, đổ nát của cả một thành phố cùng sự thiệt hại đôi bên, ông Tướng già dày dạn chiến trường này đã cảm thấy ngay cái mức độ tàn khốc, ác liệt, đẫm máu của trận đánh nên mới tỏ lời như trên.

Người chiến binh Thủy Quân Lục Chiến đã chiến đấu dũng cảm, đem thân xác mình ra chịu đựng thử thách giữa một hoàn cảnh thua thiệt mọi bề để đạt mục tiêu to lớn của Quân đội và Quốc gia. Đài Saigon đã phát thanh chương trình đặc biệt về chiến thắng này và bài hát “Cờ bay trên cổ thành Quảng Trị” đã được hát lên từ những ngày tháng oai hùng đó.

Ngoài Bắc, Tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Cộng sản Bắc Việt đã bật khóc khi hay tin Quảng Trị thất thủ với hàng trăm ngàn quân sĩ thương vong, vũ khí và trang bị nặng bị tổn thất hầu hết. Ông mất chức sau đó ít lâu.

V- Kết luận

Người viết xin có đôi lời với những người lính Thủy Quân Lục Chiến:- Lịch sử là những biến cố nhân tạo hoặc thiên tạo, chiến thắng Quảng Trị là do công sức của mọi quân binh chủng, Thủy Quân Lục Chiến hy sinh thêm những giọt máu cuối cùng.- Hai mươi bốn năm sau, có dịp nói chuyện với những người lính Cộng sản Bắc Việt đã dự trận Quảng Trị, họ đều bày tỏ sự tàn khốc, ác liệt, đẫm máu của trận đánh.-Người đời sau nói đến Quảng Trị không thể nào không nhắc đến binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến với những người lính Mũ Xanh anh dũng đã làm tròn nhiệm vụ được giao phó. Bắc Việt đã rút kinh nghiệm từ thất bại đau đớn của cuộc đại tấn công mùa hè năm 1972, họ chuẩn bị thêm 3 năm nữa mới dám mở cuộc tấn chiếm 1975.

MX Phạm Văn Chung

Posted in Hồi ký chiến trường, Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa(audio) | Leave a comment

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ Vừa Được Khánh ThànhTại Thành Phố Morrow, Tiểu Bang Georgia Ngày 27 Tháng 2, Năm 2021.

Posted in Uncategorized | 1 Comment